Kiến thức về các biện pháp tránh thai thông thường và một số yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Đặt vấn đề: Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa

gia đình, tỷ lệ người phá thai ở tuổi vị thành niên (VTN)

đang ở mức báo động với 300.000 ca nạo phá thai mỗi

năm trong độ tuổi 15-19 tuổi. Nguyên nhân là do kiến

thức, thực hành về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT)

của VTN còn hạn chế.

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ học sinh Trung học phổ

thông (THPT) tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang

có kiến thức chung đúng về các BPTT thông dụng và một

số yếu tố liên quan

pdf 8 trang phuongnguyen 520
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức về các biện pháp tránh thai thông thường và một số yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức về các biện pháp tránh thai thông thường và một số yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2018

Kiến thức về các biện pháp tránh thai thông thường và một số yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2018
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 43
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KIẾN THỨC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI THÔNG THƯỜNG 
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC 
PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG 
NĂM 2018
Phạm Văn Lực1, Hồ Văn Son1, Võ Thị Kim Anh2
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa 
gia đình, tỷ lệ người phá thai ở tuổi vị thành niên (VTN) 
đang ở mức báo động với 300.000 ca nạo phá thai mỗi 
năm trong độ tuổi 15-19 tuổi. Nguyên nhân là do kiến 
thức, thực hành về sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) 
của VTN còn hạn chế.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ học sinh Trung học phổ 
thông (THPT) tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang 
có kiến thức chung đúng về các BPTT thông dụng và một 
số yếu tố liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 472 
học sinh các khối lớp 10, 11, 12 trên địa bàn huyện Tân Phú 
Đông, tỉnh Tiền Giang, từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018.
Kết quả: Kiến thức chung đúng về BPTT là 15,04%; 
kiến thức đúng về các BPTT khẩn cấp của đối tượng chỉ 
đạt 6,57%; về các biện pháp tránh thai bao cao su (BCS) 
chỉ đạt 14,19%. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 
(p<0,05): giới tính liên quan đến kiến thức chung về 
BPTT và kiến thức BPTT BCS; tuổi liên quan đến kiến 
thức BPTT khẩn cấp và kiến thức BPTT BCS; hoàn cảnh 
kinh tế với các kiến thức chung về BPTT, BPTT khẩn cấp, 
BPTT BCS. 
Kết luận: Tỉ lệ học sinh có kiến thức các BPTT chưa 
cao. Cần tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông cho 
học sinh nhận thức đầy đủ về các biện pháp tránh thai; cung 
cấp thông tin hướng dẫn cho cha mẹ học sinh về BPTT; 
khai thác ưu thế mạng xã hội trong tư vấn tâm lý, sức khỏe 
sinh sản, tình yêu tình dục để nâng cao kiến thức, thái độ và 
thực hành về các biện pháp tránh thai cho học sinh.
Từ khóa: Kiến thức, tránh thai, bao cao su, tình dục 
an toàn, học sinh, Tiền Giang.
ABSTRACT
KNOWLEDGE ABOUT COMMON 
CONTRACEPTIVE METHODS AND SOME 
RELATED FACTORS OF HIGH SCHOOL 
STUDENTS IN TAN PHU DONG DISTRICT, TIEN 
GIANG PROVINCE
Background: According to the General Department 
of Population and Family Planning, the proportion of 
adolescent abortions (VTN) is at an alarming rate with 
300,000 abortions every year between the ages of 15-19. 
The reason is that the knowledge and practice of using 
contraception of abortions are still limited.
Objectives: Determine the proportion of high school 
students in Tan Phu Dong district, Tien Giang province 
that has the correct general knowledge about common 
methods and some related factors.
Methods: A cross-sectional study describing 472 
students in grades 10, 11 and 12 in Tan Phu Dong district, 
Tien Giang province, from March 2018 to September 2018.
Result: The general correct knowledge about the 
method of contraception is 15.04%; right knowledge 
about urgent contraceptive methods of the target is only 
6.57%; Regarding condom contraceptives (condoms), 
it was only 14.19%. Some factors related to knowledge 
(p <0.05): gender is related to general knowledge about 
contraception and condom condom knowledge; age related 
to knowledge of emergency contraception and condom 
knowledge; economic situation with general knowledge 
about contraception, emergency contraception, condom 
contraception.
Conclusions: The proportion of students who 
have knowledge about the methods of contraception 
Ngày nhận bài: 01/02/2020 Ngày phản biện: 10/02/2020 Ngày duyệt đăng: 17/02/2020
1. Trung tâm Y tế huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang
Tác giả chính: Phạm Văn Lực, SĐT: 019181326, Email: [email protected]
2. Trường Đại học Thăng Long
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn44
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
is not high. Need to increase information, education 
and communication for students to be fully aware of 
contraceptives; Provide information and advice for 
parents of students on contraceptives; Exploiting the 
social network in psychological counseling, reproductive 
health, sexual love to improve knowledge, attitudes and 
practices on contraception for students.
Keywords: Knowledge, contraception, condom, safe 
sex, students, Tien Giang.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổng cục Thống kê về Dân số - Kế hoạch hóa 
gia đình, tỷ lệ phá thai ở tuổi VTN đang ở mức báo động 
với 300.000 ca mỗi năm trong độ tuổi 15-19 tuổi [8]. Các 
em gái khi mang thai do xấu hổ nên giấu không cho gia 
đình và mọi người biết mà thường tìm đến các cơ sở y tế 
kém chất lượng, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng 
có thể gây vô sinh, thậm chí tử vong, nhiều em sau đó đã 
không thể làm mẹ hoặc gặp những sang chấn tâm lý suốt 
cuộc đời. Các em vị thành niên được trang bị đầy đủ kiến 
thức về giới tính và sức khỏe sinh sản sẽ góp phần nâng 
cao chất lượng dân số trong tương lai. Để có cơ sở đề xuất 
can thiệp hiệu quả, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác 
định tỷ lệ học sinh trung học phổ thông (THPT) tại huyện 
Tân Phú Đông có kiến thức đúng về các biện pháp tránh 
thai thông thường và các yếu tố liên quan đến kiến thức 
của học sinh.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Học sinh các khối lớp 10,11,12 của 02 trường, gồm 
THPT Tân Thới và THPT Phú Thạnh, huyện Tân Phú 
Đông từ tháng 4/2018 đến tháng 9/2018.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức: 
Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng về sử dụng ít nhất 01 
BPTT sử dụng để tham chiếu là 18,7% [3], sai số cho phép 
e = 5%, hệ số Z
(1-α/2)=
1,96; hệ số thiết kế (DE) là 2. Vậy 
nghiên cứu khảo sát 472 học sinh. 
Chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên 
hệ thống. Huyện Tân Phú Đông có 02 trường THPT, chọn 
tại mỗi trường là 240 học sinh, chia đều cho các khối lớp 
10, 11, 12 mỗi khối lớp 80 học sinh. Lập danh sách học 
sinh mỗi khối lớp và mã hóa theo thứ tự ABC, hệ số k=n/
N=8 (N là số học sinh cần chọn, n là tổng số học sinh), 
chọn ngẫu nhiên học sinh có số thứ tự là 2, 2+k, ... trong 
danh sách.
2.4. Thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi cấu trúc được 
xây dựng sẵn, bộ câu hỏi đã được tu chỉnh từ nhiều nghiên 
cứu trước và được biên chỉnh cho phù hợp thực tế tại địa 
phương.
2.5. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và phân 
tích bằng phần mềm Stata 14, xác định các yếu tố liên 
quan đến kiến thức về sử dụng BPTT bằng kiểm định chi 
bình phương (hoặc kiểm định Fisher). Mức độ kết hợp 
được đo lường bằng chỉ số PR (Prevalence Ration - Tỷ số 
tỷ lệ hiện mắc) với khoảng tin cậy (KTC) 95%. 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Qua thống kê trên 472 học sinh, chúng tôi nhận 
thấy, đối tượng phân bố đồng đều về số lượng theo 
khối lớp, dao động từ 152 đến 164 học sinh/khối. Trong 
đó, nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam, lần lượt là 54,66% và 
45,34%. Tỉ lệ học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn 
còn cao với 35,58%. Về nơi ở khi đi học, sinh hoạt 
hàng tuần, đa số các em sống chung gia đình với tỉ lệ 
75,64%. Tỉ lệ ở trọ để đi học cũng chiếm tỉ lệ khá cao 
là 24,36%, trong đó ở trọ một mình là 5,93% và ở cùng 
bạn bè là 18,43%. Sở dĩ tỉ lệ học sinh ở trọ trong nghiên 
cứu của chúng tôi còn cao là vì đặc thù của huyện Tân 
Phú Đông là hẹp về chiều ngang và trải dài hơn 50km 
nên các em ở xã cuối dãy đất và đầu dãy đất cũng như 
các em tại xã Cù Lao, Tân Thạnh sẽ phải di chuyển 
đoạn đường gần 20km để đến trường, nếu học hai buổi/
ngày sẽ không kịp về nhà, gải pháp là các em sẽ ở trọ 
gần trường để thuận tiện cho việc học. Việc không sống 
chung gia đình, thiếu sự quản lý của cha mẹ cũng như 
đặc điểm sinh học của độ tuổi của các em là những yếu 
tố nguy cơ dẫn đến các hành vi tình dục, nếu không có 
kiến thức tốt về tình dục an toàn sẽ là nguyên nhân dẫn 
đến nhiều hệ lụy về sau.
3.2. Tiếp cận thông tin về biện pháp tránh thai
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 45
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
 Biểu đồ 1. Tỉ lệ từng nghe về BPTT và nguồn thông tin
Tỉ lệ học sinh đã từng nghe về các BPTT khá cao 
với 89,19%, tương tự cuộc điều tra của SAVY 2, hầu hết 
thanh thiếu niên đã nghe nói về mang thai hay kế hoạch 
hóa gia đình qua các nguồn thông tin khác nhau, chỉ có 
7% người được hỏi trong SAVY 2 cho biết họ chưa nghe 
về chủ đề này từ nguồn nào [1]. 
Ngoài ra, Internet là kênh thông tin cung cấp kiến 
thức cho nhiều đối tượng nhất với 32,07%. Nghiên 
cứu của chúng tôi có khác so với nghiên cứu của 
Nguyễn Thanh Phong, nguồn thông tin về BPTT chủ 
yếu từ báo chí, truyền hình (77,7%), gia đình (29,9%) 
[4]. Sự khác biệt này có thể là do tác giả này thực hiện 
nghiên cứu nhiều năm trước đây, tình trạng sử dụng 
internet và mạng xã hội chưa phổ biến nên báo đài vẫn 
phổ biến.
3.3. Mong muốn được tiếp cận thông tin về các BPTT
Bảng 1. Mong muốn về nguồn thông tin và cách thức tiếp cận thông tin về các BPTT 
Đặc tính Tần số Tỉ lệ
Muốn được cung cấp thông tin vế BPTT 472 100
Kênh tiếp cận mong muốn:
Tư vấn trực tiếp 
Tư vấn qua mạng
Tư vấn qua thư 
Báo chí, truyền hình
Các chương trình trong trường học
Bạn bè
Gia đình
151
101
13
0
97
21
89
31,99
21,40
2,75
0,00
20,55
4,45
18,86
Mong muốn tiếp cận các nguồn thông tin
Các biện pháp tránh thai truyền thống
Các biện pháp tránh thai hiện đại
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Tình dục an toàn
Kế hoạch hóa gia đình
Các biện pháp đình chỉ thai nghén
193
102
145
21
11
0
40,89
21,61
30,72
4,45
2,33
0,00
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều có mong muốn 
tiếp cận thông tin về các BPTT. Trong đó, mong muốn 
được tư vấn trực tiếp cao nhất với 32%, tư vấn qua 
mạng 21,4%. Kết quả này tương tự nghiên cứu của 
Trương Thúy Hạnh, kênh tư vấn trực tiếp được sinh 
viên các trường Đại học ở Hà Nội chọn đến 30,12% 
[9]. Nguồn thông tin mà đối tượng mong muốn tiếp 
cận cũng rất phong phú, trong đó tập trung vào các 
BPTT truyền thống với 40,89%, các BPTT hiện đại 
với 21,61% và các bệnh lây truyền qua đường tình dục 
là 30,72%.
3.4. Kiến thức chung về các biện pháp tránh thai
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn46
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Bảng 2. Kiến thức về các biện pháp tránh thai (n=472)
Kiến thức Tần số Tỉ lệ
Biết BPTT:
Biết 01 BPTT
Biết 2-3 BPTT
Biết trên 3 BPTT
421
246
12
89,19
52,12
2,54
Thời điểm sử dụng BPTT
Biết
Không biết
134
338
28,39
71,61
Tác động của BPTT có ảnh hưởng đến sức khỏe
Biết ít nhất 3 tác động
Không biết
112
360
23,73
76,27
Ảnh hưởng của BPTT đến sinh hoạt tình dục 
Biết 
Không biết
88
384
18,64
81,36
Hậu quả của việc sử dụng các BPTT không đúng 
Biết ít nhất 3 tác hại
Không biết
107
365
22,67
77,33
Kiến thức chung đúng 71 15,04
Về các BPTT, hầu hết các em chỉ biết 01 BPTT với 
tỉ lệ 89,19%, tỉ lệ biết 2-3 BPTT chỉ 52,12%. Tương tự 
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong, 99,3% sinh viên 
Trường Cao đẳng y tế Hà Nội biết ít nhất một BPTT 
[4]. Tuy nhiên kết quả của chúng tôi khả quan hơn của 
Nguyễn Văn Nghị cho biết tỷ lệ VTN đã nghe về BPTT 
chiếm 61% nam, 61,3% nữ, tỷ lệ biết về BCS chiếm 41% 
nam, 45,5% nữ [6].
Tì lệ biết đúng thời điểm sử dụng BPTT cũng khá 
thấp, chỉ 28,39%. Nghiên cứu của chúng thấp hơp một 
số nghiên cứu khác, tác giả Nguyễn Thanh Phong cũng 
chỉ ra rằng có 65,2% sinh viên cho rằng BPTT khẩn cấp 
được dùng sau khi quan hệ không dùng các BPTT hỗ 
trợ; 73,9% sinh viên không biết chính xác thời điểm sử 
dụng. Có 91,9% sinh viên biết BCS được sử dụng cho 
các trường hợp muốn tránh thai tạm thời; 84,9% để phòng 
chống HIV và STDs; 41,1% sinh viên biết cách uống 
VTTT hàng ngày [4]. 
Ngoài ra, một số kết quả khác được chúng tôi chỉ ra 
trên đây cũng khá thấp, như chỉ có 23,73% học sinh biết 
ảnh hưởng của BPTT đến sức khỏe; 18,64% ảnh hưởng 
của BPTT đến sinh hoạt tình dục và 22,67% biết hậu quả 
của việc sử dụng các BPTT không đúng chỉ định, không 
đúng hướng dẫn. Kiến thức chung đúng về các BPTT là 
15,04%. Kết quả này cũng tương tự Nghiên cứu ở Uganda 
(2007) thấy rằng VTN học sinh phổ thông trung học thiếu 
thông tin về BPTT [2].
3.5. Kiến thức về các biện pháp tránh thai khẩn cấp
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 47
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3. Kiến thức về các biện pháp tránh thai khẩn cấp (n=472)
Đặc tính Tần số Tỉ lệ
Biết BPTT khẩn cấp tại Việt Nam
Có
Không
121
351
25,64
74,36
Biết những trường hợp sử dụng BPTT khẩn cấp
Có
Không 
76
396
16,10
83,90
Cách sử dụng BPTT khẩn cấp
Có
Không
44
428
9,32
90,68
Thởi gian sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp sau khi quan hệ tình dục 
không được bảo vệ
Có
Không
37
435
7,84
92,16
Những tác động không mong muốn khi sử dụng BPTT khẩn cấp 
Biết ít nhất 1 triệu chúng
Biết 2 – 3 triệu chứng
Không biết
49
12
411
10,38
2,54
87,08
Kiến thức đúng về các BPTTKC 31 6,57
Chỉ có 25,64% biết ít nhất một BPTT khẩn cấp; 
12,08% biết cách sử dụng BPTT khẩn cấp; chỉ có 7,84% 
biết thời gian sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp sau khi 
quan hệ tình dục không được bảo vệ và có đến 87,08% 
không biết những tác động không mong muốn khi sử 
dụng BPTT khẩn cấp. Kiến thức đúng về các biện pháp 
tránh thai khẩn cấp của đối tượng chỉ đạt 6,57%. Nghiên 
cứu của chúng tôi thấp hơn của Võ Minh Tuấn, tỉ lệ này 
là 28,5% [10]. Kết quả này cũng hợp lý vì ở độ tuổi của 
các em đa phần chưa quan hệ tình dục nên có lẽ chưa tìm 
hiểu nhiều về tránh thai khẩn cấp, tuy nhiên đây sẽ là 
một mối nguy đang quan tâm khi các em bước vào quãng 
đời sinh viên, sống xa gia đình nhưng lại không được 
trang bị kiến thức về BPTT hay tình dục an toàn. Tương 
tự nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong tại Trường Cao 
đẳng Y tế Hà Nội, mặc dù tác giả cho thấy khả quan 
hơn khi có 65,2% sinh viên cho rằng BPTT khẩn cấp 
được dùng sau khi quan hệ không dùng các BPTT hỗ trợ 
nhưng 73,9% sinh viên không biết chính xác thời điểm 
sử dụng [4]. 
3.6. Kiến thức về biện pháp tránh thai dùng bao 
cao su
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn48
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Bảng 4. Kiến thức về các biện pháp tránh thai bao cao su (n=472) 
Đặc tính Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Biết BPTT bao cao su 
Biết 
Không biết
472
0
100
0
Những trường hợp sử dụng BPTT BCS
Biết ít nhất 2 trường hợp
Không biết
401
71
84,96
15,04
Loại bao cao su cho giới tính:
Biết (BCS cho cả nam và nữ)
Biết BCS chỉ dùng cho Nam
81
391
17,16
82,84
Tác dụng không mong muốn khi sử dụng BCS:
Biết 
Không biết
101
371
21,39
78,61
Thời điểm sử dụng BCS 
Biết 
Không biết
231
241
48,94
51,06
Biết cách tránh thai khi bao cao su bị rách 
Biết
Không biết
128
344
27,12
72,88
Kiến thức đúng về BPTT BCS 67 14,19
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều biết hoặc nghe nói 
đến BCS. Nghiên cứu của chúng tôi có 84,96% học sinh 
kể được 02 trường hợp cần sử dụng BCS khi quan hệ tình 
dục (QHTD), tương tự với một nghiên cứu trên đối tượng 
tương tự, có 91,9% sinh viên biết BCS được sử dụng cho 
các trường hợp muốn tránh thai tạm thời; 84,9% để phòng 
chống HIV và STDs [4].
 Tuy nhiên hầu hết các em chỉ nghe nói về BCS cho 
nam giới vì chỉ có 17,16% biết BCS có cả loại dùng cho 
nữ. Có 21,39% biết tác dụng không mong muốn khi sử 
dụng BCS và 48,94% biết về cách sử dụng BCS đúng thời 
điểm khi QHTD nhưng tỉ lệ biết xử lý khi BCS rách trong 
lúc quan hệ chỉ đạt 27,12%. Kiến thức đúng về các biện 
pháp tránh thai BCS chỉ đạt 14,19%. Kết quả này khá thấp 
so với kết quả Võ Minh Tuấn là 46,1% sinh viên tại Rạch 
Giá, Kiên Giang có kiến thức đúng về BCS [10]. Sự khác 
biệt này cũng phù hợp vì đối tượng của chúng tôi là học 
sinh phổ thông nên việc sử dụng BCS là không phổ biến 
nên sẽ hạn chế về kiến so với đối tương sinh viên của Võ 
Minh Tuấn.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 49
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 5. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về các BPTT của học sinh
Tiêu chí nhóm
Kiến thức chung Kiến thức BPTTKC Kiến thức BPTTBCS
Đúng
Chưa 
đúng
PR 
95%CI 
p
Đúng
Chưa 
đúng
PR 
95%CI 
p
Đúng
Chưa 
đúng
PR 
95%CI 
p
Giới Nữ/Nam 
49 209 1,32
1,10-1,59
0,0084
20 238 1,20
0,90-1,57
0,25
16 242 0,4
0,26-0,62
<0,0000122 192 11 203 51 163
Tuổi
Dưới 18 44 272 0,91
0,75-1,11
0,33
27 289 1,32
1,14-1,54
0,014
32 284 0,68
0,52-0,88
0,0003Đủ 18 27 129 4 152 35 121
Kinh tế
Đủ ăn 57 248 1,29
1,13-1,49
0,0027 
26 279 1,59
1,32-1,92
0,0008
39 266 1,21
1,04-1,41
0,033
Nghèo/cận 
nghèo
14 153 5 162 28 139
Nơi ở
Ở trọ 33 82 1,25
0,92-1,69
0,16
22 93 3,36
2,52-4,49
<0,00001
24 91 1.59
1,10-2,30
0,018Nhà riêng 38 319 9 348 43 314
Người 
yêu
Đã có 29 303 0,54
0,40-0,71
 <0,00001
28 304 1,31
1,14-1,49
0,017
54 278 1,17
1,02-1,34
0,04Chưa có 42 98 3 137 13 127
Học sinh nữ có kiến thức chung về tránh thai tốt gấp 
1,32 học sinh nữ (KTC 95%: 1,10-1,59, p=0,008) nhưng 
về kiến thức BPTT BCS học sinh nữ hạn chế chỉ bằng 0,4 
lần so với học sinh nam (KTC 95%” 0,26-0,62, p<0,05). 
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và cộng sự về 
thực trạng kiến thức về SKSS của sinh viên năm thứ nhất 
Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2010-2011 cho thấy: 
có 98% sinh viên nữ biết BCS và 97,7% sinh viên nam 
biết BCS. Sự khác biệt kiến thức về BCS theo giới không 
có ý nghĩa thống kê. Sinh viên nam biết cách sử dụng 
BCS cao hơn sinh viên nữ (55,2% và 36%), sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [5]. Một nghiên cứu khác 
của Dương Hồng Phúc cũng khẳng định sinh viên nam có 
kiến thức đúng về BCS cao gấp 2,27 lần so với sinh viên 
nữ (p<0,05).
Các em dưới 18 tuổi có kiến thức BPTT khẩn cấp tốt 
gấp 1,32 lần nhóm còn lại (KTC 95%: 1,14-1,54, p=0,014) 
nhưng kiến thức BPTT BCS lại chỉ bằng 0,68 lần nhóm 
đủ 18 tuổi (KTC 95%: 0,52-0,88, p=0,0003). Nghiên cứu 
của Nguyễn Trọng Bài năm 2012 về thực trạng và một số 
yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS 
của học sinh các trường trung học phổ thông huyện Thới 
Bình, tỉnh Cà Mau cho thấy khối lớp có liên quan đến một 
số kiến thức về SKSS và giới tính có liên quan đến hành 
vi có bạn tình của thanh niên [7].
Về kinh tế, chúng tôi nhận thấy có mối liên quan cụ 
thể giữa hoàn cảnh kinh tế với các nhóm kiến thức. So với 
học sinh nghèo, cận nghèo thì học sinh thuộc hoàn cảnh 
kinh tế khá giả có kiến thức về tránh thai tốt gấp 1,29 lần 
(KTC 95%: 1,13-1,49, p=0,003), kiến thức về BPTT khẩn 
cấp tốt gấp 1,59 (KTC 95%: 1,32-1,92, p<0,001), kiến 
thức về BPTT BCS gấp 1,21 lần (KTC 95%: 1,04-1,41, 
p=0,033). Theo Reina M.F. nghiên cứu trên 136 nam sinh 
và 145 nữ sinh cho thấy 67% sinh viên từ nhóm kinh tế xã 
hội thấp không sử dụng bất kỳ loại BPTT nào. Ngược lại, 
tất cả các sinh viên (100%) trong nhóm kinh tế xã hội cao 
và 63% ở nhóm kinh tế xã hội trung lưu đã sử dụng BPTT 
trong lần đầu tiên của họ QHTD [11].
So với các bạn sống cùng gia đình thì những học sinh 
ở trọ xa gia đình lại có kiến thức về tránh thai tốt gấp 
3,36 lần (KTC 95%: 2,52-4,49, p <0,001) và kiến thức 
về BPTT BCS gấp 1.59 (KTC 95%: 1,10-2,30, p=0,018). 
Kết quả này khiến chúng tôi lo lắng về giả thuyết rằng khi 
không có sự quan tâm, kiểm soát của gia đình, các em có 
hướng quan tâm nhiều về tình dục, các BPTT nhằm chuẩn 
bị cho bản thân. Điều này đòi hỏi cần trang bị đầy đủ kiến 
thức về BPTT nhằm giúp các em bảo vệ bản thân tốt nhất 
có thể, tránh việc tìm hiểu thông tin không chính thống 
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn50
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Thực tế, theo phỏng vấn sâu 
mà tác giả Trương Thúy Hạnh công bố trong nghiên cứu 
của mình, các em có xu hướng QHTD khi không ở chung 
gia đình là khá cao, “Sinh viên nhiều bạn sống xa gia 
đình, người thân nên thường thiếu thốn tình cảm, nhất là 
khi ở trọ cùng với bạn bè, không có ai quản, tự do hơn nên 
rất dễ xảy ra việc QHTD trước hôn nhân” (PVS, nam, 21 
tuổi, sinh viên năm thứ 3, Trường Đại học Bách khoa Hà 
Nội). Bên cạnh đó, còn có cả những lý do mang tính chủ 
quan: “Em nghĩ là có thể QHTD trước hôn nhân nếu hai 
người thực sự yêu nhau và hoàn toàn tự nguyện” (PVS, 
nữ, 21 tuổi, sinh viên năm thứ 2, Trường Đại học Văn 
hoá)” (9).
Trong nghiên cứu, học sinh đã hoặc đang có người 
yêu sẽ có kiến thức về BPTT khẩn cấp tốt gấp 1,31 lần 
(KTC: 1,14-1,49, p=0,017) và kiến thức về BPTT BCS tốt 
hơn gấp 1,17 (KTC 95%: 1,02-1,34, p=0,04) so với nhóm 
chưa có người yêu. Theo Trương Thị Thuý Hạnh, tác giả 
đề cập trong công bố của mình rằng “có đến 92,0% ý kiến 
sinh viên cho rằng quan hệ yêu đương của sinh viên có 
thể dẫn đến QHTD; đồng tỷ lệ là 65,3% ý kiến cho rằng 
quan hệ yêu đương có thể dẫn đến có thai không mong 
muốn và phải đi nạo hút thai; 51,3% ý kiến trả lời rằng 
sinh viên yêu đương có thể phải bỏ dở học hành vì mang 
thai. Với kết quả trên, có thể nói đây là những tình huống 
mà sinh viên rất dễ gặp phải trong quan hệ yêu đương nếu 
như không biết kiềm chế bản thân và không được trang bị 
những kiến thức về SKSS” (9). Như vậy, khi có quan hệ 
yêu đương, các em rất dễ mất kiểm soát và vượt qua giới 
hạn, nên các em sẽ có xu hương tìm hiểu về cách thức 
tránh thai ngoài ý muốn, mà phổ biến hiện nay giới trẻ 
chưa lập gia định hay lựa chọn là BCS hoặc thuốc tránh 
thai khẩn cấp.
IV. KẾT LUẬN 
Tỉ lệ học sinh có kiến thức các BPTT chưa cao; cần 
tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông cho học sinh 
nhận thức đầy đủ về các biện pháp tránh thai; cung cấp 
thông tin, tư hướng dẫn cho cha mẹ học sinh về BPTT; 
khai thác ưu thế mạng xã hội trong tư vấn tâm lý, sức khỏe 
sinh sản, tình yêu tình dục để nâng cao kiến thức, thái độ 
và thực hành về các biện pháp tránh thai cho học sinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế và Tổng cục Dân số - KHHGĐ (2010), Điều tra quốc gia về vị thành niên, thanh niên SAVY2. Tr 18-22.
2. Dương Hồng Phúc, Võ Minh Tuấn, Lê Thị Kiều Dung (2013) “Kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai 
thông dụng của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP.HCM”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 
18 (Phụ bản của số 1), tr 14-20.
3. Nguyễn Thanh Phong và cộng sự (2014) “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về một số biện pháp tránh 
thai của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, năm 2013”, Tạp chí Phụ sản, 12 (2), Tr 207-210.
4. Nguyễn Thanh Phong (2012) “Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh- sinh viên năm thứ nhất 
Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội”. Tạp chí Thông tin Y dược, 01/2012, tr 25-28.
5. Nguyễn Văn Nghị (2011), Nghiên cứu quan niệm, hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản ở vị thành niên huyện 
Chí Linh, tỉnh Hải Dương 2006 – 2009, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
6. Nguyễn Trọng Bài, Lý Tuyết Xuân (2014) “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành 
vi về sức khỏe sinh sản của học sinh các trường trung học phổ thông trong huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau năm 2012”. 
Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2013, Trung tâm Truyền thông giáo 
dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế, Tr 57-63.
7. Tổng Cục thống kê (2016) Kết quả chủ yếu Điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình thời điểm 
1/4/2015, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm 2016.
8. Trương Thị Thuý Hạnh (2009) Thực trạng nhận thức, hành vi về tình dục và các biện pháp tránh thai của sinh 
viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Xã hội học, Hà Nội.
9. Võ Minh Tuấn, Trần Thị Như Quỳnh (2012) “Kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai thông dụng ở sinh 
viên nam tại các trường cao đẳng - trung học chuyên nghiệp thành phố Rạch giá – Kiên giang”, Tạp chí Y học TP. Hồ 
Chí Minh, Tập 16 (Phụ bản của số 1), tr 276-280.
10. Chacko S., Kipp W., Laing L. et al (2007) “Knowledge of and perceptions about sexually transmitted diseases 
and pregnancy: a qualitative study among adolescent students in Uganda”. J Health Popul Nutr, 25 (3), tr 319-327.
11. Reina M.-F., Ciaravino H., Llovera N. et al (2010). Contraception knowledge and sexual behaviour in secondary 
school students. Gynecological Endocrinology, July 2010, 26 (7), Tr 479-483.

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_ve_cac_bien_phap_tranh_thai_thong_thuong_va_mot_so.pdf