Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, năm 2018

Nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay

chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số

yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh

Long, năm 2018“ được thực hiện nhằm mô tả thực trạng

kiến thức, thực hành, làm cơ sở đề xuất các biện pháp cải

thiện hiệu quả công tác phòng chống bệnh TCM trên địa

bàn nghiên cứu.

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang; phỏng

vấn trực tiếp 418 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chọn ngẫu

nhiên từ danh sách. Nghiên cứu thu được các kết quả chính

như sau: tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về phòng bệnh TCM

đạt là 74,3%; tỷ lệ các bà mẹ có thực hành đạt là 64,4%.

Hai yếu tố có mối liên quan mạnh nhất đến thực hành của

các bà mẹ là “tình trạng được tiếp cận thông tin truyền

thông”; và “kiến thức phòng bệnh TCM”

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, năm 2018

Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, năm 2018
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn16
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG 
CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ 
LIÊN QUAN TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG, 
NĂM 2018 
Phạm Phương Liên1, Lê Đông Nhựt2
TÓM TẮT
Nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay 
chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số 
yếu tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh 
Long, năm 2018“ được thực hiện nhằm mô tả thực trạng 
kiến thức, thực hành, làm cơ sở đề xuất các biện pháp cải 
thiện hiệu quả công tác phòng chống bệnh TCM trên địa 
bàn nghiên cứu. 
Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang; phỏng 
vấn trực tiếp 418 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chọn ngẫu 
nhiên từ danh sách. Nghiên cứu thu được các kết quả chính 
như sau: tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về phòng bệnh TCM 
đạt là 74,3%; tỷ lệ các bà mẹ có thực hành đạt là 64,4%. 
Hai yếu tố có mối liên quan mạnh nhất đến thực hành của 
các bà mẹ là “tình trạng được tiếp cận thông tin truyền 
thông”; và “kiến thức phòng bệnh TCM”.
Từ khóa: Kiến thức, thực hành, tay chân miệng, bà 
mẹ, Vĩnh Long
SUMMARY:
KnoWleDge AnD PRACTICe of 
moTHeRS WITH CHIlDRen unDeR 5 yeARS 
OLD IN TERM OF HAND, FOOT AND MOUTH 
DISeASe PRevenTIon AnD Some RelATeD 
FACTORS IN VINH LONG CITY, VINH LONG 
PROVINCE, IN 2018
The research was carried out to describe the status 
of “knowledge and practice of the mothers” which can 
be used as a basis for proposing measures to improve the 
effectiveness of prevention for “hand, foot and mouth 
disease” in the study area.
The “cross-sectional descriptive design” was applied 
in the research; Direct interviews were conducted with 
418 mothers who were randomly selected from the list of 
mothers with children under 5 years old in Vinh Long City.
Main results: the percentage of mothers have “good 
knowledge” about “prevention of hand, foot and mouth 
disease” is 74.3%; the percentage of mothers who practice 
well the measures for preventing hand, foot and mouth 
disease is 64.4%. Two factors that have the strongest 
relationship to mothers’ practice are “access to media”; 
and “mothers’ knowledge about prevention of hand, foot 
and mouth disease”.
Keywords: Knowledge; Practice; “hand, foot and 
mouth disease”; mother; Vinh Long.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Bệnh tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền 
nhiễm thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh lây lan nhanh chóng, 
hiện nay chưa có vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị đặc 
hiệu. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là thực hiện 
các can thiệp y tế công cộng nhằm nâng cao kiến thức, 
thực hành phòng bệnh cho người dân. Trong đó, các bà mẹ 
có con dưới 5 tuổi là người trực tiếp chăm sóc trẻ nhỏ cần 
được ưu tiên can thiệp [1]. 
 Tại TP.Vĩnh Long, dịch bệnh TCM đang diễn biến 
phức tạp với số ca mắc hằng năm khoảng 700 ca, cao nhất 
trong số các quận huyện của tỉnh Vĩnh Long [2]. Vì vậy, 
nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng bệnh 
TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhằm đưa ra các 
khuyến nghị tăng cường hiệu quả công tác phòng bệnh là 
việc làm cần thiết. 
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng bệnh tay chân 
miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu 
tố liên quan tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 
Ngày nhận bài: 01/08/2019 Ngày phản biện: 09/08/2019 Ngày duyệt đăng: 16/08/2019
1. Trường Đại học Y tế Công cộng
2. Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Long
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 17
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
năm 2018“. Các kết quả nghiên cứu được sử dụng làm cơ 
sở đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu 
quả công tác phòng bệnh TCM cho trẻ tại địa bàn nghiên 
cứu nói riêng và tại các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội 
tương tự Vĩnh Long nói chung.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, 
thường trú tại TP.Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. 
 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng thiết kế 
mô tả cắt ngang, thu thập số liệu định lượng. 
Cỡ mẫu: Nghiên cứu áp dụng công thức tính cỡ mẫu 
xác định một tỷ lệ:
n= Z2
(1-α/2) 
Trong đó:
Z
1-α/2
 = 1,96, tương ứng với mức ý nghĩa α=0,05, 
CI=95%
p = 0,45 - Tỷ lệ ước tính bà mẹ thực hành đúng phòng 
bệnh TCM (tham khảo kết quả nghiên cứu của tác giả 
Phạm Thanh Sơn [3])
d= 0,05 (sai số mong muốn) 
Áp dụng công thức, tính được cỡ mẫu tối thiểu n = 
381; dự trù khoảng 10% các bà mẹ từ chối tham gia, chúng 
tôi đã chọn 418 bà mẹ bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu 
nhiên đơn từ danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 
TP.Vĩnh Long để đưa vào nghiên cứu. 
Phương pháp thu thập số liệu: Các bà mẹ được 
phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Điều tra 
viên là các cán bộ có kinh nghiệm điều tra cộng đồng tại 
TTYT TP.Vĩnh Long. Các điều tra viên được tập huấn kỹ 
lưỡng trước khi tiến hành thu thập số liệu. 
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu sau khi làm sạch 
được nhập vào phần mềm Epidata 3.1; phân tích bằng 
phần mềm SPSS 16.0.
Tiêu chuẩn đánh giá: Bộ câu hỏi gồm 8 câu hỏi đánh 
giá kiến thức và 20 câu hỏi đánh giá thực hành. Mỗi câu 
hỏi có thể có một hoặc nhiều lựa chọn, mỗi lựa chọn đúng 
được tính 1 điểm. Tổng số điểm tối đa của phần đánh giá 
kiến thức là 35 điểm; phần đánh giá thực hành là 45 điểm. 
Các bà mẹ đạt 80% số điểm tối đa trở lên được đánh giá là 
có kiến thức hoặc thực hành đạt. Cụ thể như sau:
- Các bà mẹ đạt ≥ 28 điểm phần kiến thức được 
đánh giá là có “kiến thức đạt”
- Các bà mẹ đạt ≥ 36 điểm phần thực hành được 
đánh giá là có “thực hành đạt” 
Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được Hội đồng Đạo 
đức, trường Đại học Y tế Công cộng thông qua. Các bà mẹ 
có quyền từ chối không tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu 
chỉ tiến hành phỏng vấn các thông tin liên quan đến kiến 
thức, thực hành phòng bệnh, không khai thác các thông tin 
nhạy cảm và không tác động trực tiếp vào đối tượng. Các 
số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên 
cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 418 bà mẹ có con 
dưới 5 tuổi đang sinh sống tại TP.Vĩnh Long về kiến thức, 
thực hành phòng bệnh TCM. Trong đó, khoảng 2/3 số bà mẹ 
dưới 35 tuổi; 1/3 trên 35 tuổi; gần nửa số bà mẹ (49,5%) có 
trình độ từ trung cấp trở lên; tỷ lệ các bà mẹ là cán bộ, viên 
chức là 38,3%, tỷ lệ các bà mẹ làm công nhân là 17,5%; các 
bà mẹ làm nghề buôn bán, kinh doanh chiếm tỷ lệ 15,3%. 
Kết quả điều tra kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của 
các bà mẹ được thể hiện trong các bảng, biểu. 
3.1. Kiến thức của các bà mẹ về phòng chống 
bệnh TCM
Biểu đồ 1. Kiến thức phòng bệnh TCM của các bà mẹ
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn18
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Kết quả biểu đồ 1 cho thấy, các bà mẹ có kiến thức 
tương đối tốt về phòng chống bệnh TCM cho trẻ. Tỷ lệ các 
bà mẹ có kiến thức đạt theo tiêu chuẩn đánh giá (được trình 
bày trong phần phương pháp nghiên cứu phía trên) là 77,3%. 
Khi tìm hiểu sâu hơn kiến thức của các bà mẹ về các 
biện pháp phòng bệnh, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Số liệu trên bảng 1 cho thấy, trên 80% các bà mẹ đã 
biết một số biện pháp phòng bệnh TCM như “làm sạch 
đồ chơi hàng ngày”; “làm sạch sàn nhà thường xuyên” 
và “rửa tay sạch thường xuyên”. Tuy nhiên, chỉ có 46,1% 
các bà mẹ biết việc “thông gió nhà hàng ngày” là cần thiết 
để phòng bệnh TCM cho trẻ. 
 3.2. Thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ của các 
bà mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 418 
bà mẹ được chọn ngẫu nhiên từ danh sách các bà mẹ có 
con dưới 5 tuổi đang sinh sống thường trú tại TP.Vĩnh 
Long về thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ, kết quả thu 
được như sau: 
Biểu đồ 2 cho thấy, khoảng 2/3 số bà mẹ (64,4%) đã 
thực hành tốt các biện pháp phòng bệnh TCM cho trẻ. 
Kết quả phân tích chi tiết cho thấy, trên 90% các 
bà mẹ đã thực hiện tốt một số biện pháp phòng bệnh 
TCM như: vệ sinh thường xuyên tay của mình và tay 
của trẻ bằng xà phòng; thường xuyên lau chùi sàn nhà 
(nơi sinh hoạt của trẻ); và xử lý phân, chất thải của trẻ 
đúng cách. 
Tuy nhiên, còn một tỷ lệ nhất định các bà mẹ chưa 
thực hiện tốt việc “vệ sinh đồ chơi của trẻ thường xuyên” 
và “thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ đúng cách”, kết quả 
cụ thể được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1- Kiến thức của các bà mẹ về các biện pháp phòng bệnh TCM
Các biện pháp phòng bệnh TCM Tần số (n) Tỷ lệ (%) (N=418)
Thường xuyên rửa tay sạch 356 85,2
Thông gió nhà sạch sẽ hàng ngày. 193 46,1
Làm sạch đồ chơi, dụng cụ sinh hoạt hàng ngày 371 88,7
Làm sạch sàn nhà thường xuyên 347 83,0
Đưa trẻ đi khám bệnh kịp thời 323 77,3
Cách ly các trường hợp bệnh 317 75,8
Không biết 5 1,2
Biểu đồ 2. Thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 19
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Kết quả bảng trên cho thấy có tới 2/3 số bà mẹ (65,6%) 
chỉ vệ sinh đồ chơi cho trẻ khi thấy đồ chơi bẩn và tỷ lệ 
các bà mẹ vệ sinh đồ chơi cho trẻ hàng ngày chỉ đạt 37,6%. 
Còn một tỷ lệ không nhỏ các bà mẹ có thói quen không có 
lợi cho sức khỏe của trẻ nói chung và là yếu tố nguy cơ gây 
bệnh TCM nói riêng như: 13,9% bà mẹ thỉnh thoảng còn 
mớm cơm cho trẻ; 20,1% bà mẹ thỉnh thoảng cho trẻ bốc 
thức ăn và ngậm mút đồ chơi. 
 3.3. Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng 
bệnh TCM của các bà mẹ
Bảng 2: Thực hành lau rửa đồ chơi và vệ sinh ăn uống cho trẻ của các bà mẹ
Nội dung thực hành Tần số (n) Tỷ lệ (%) (N =418)
Vệ sinh đồ chơi của trẻ
Hàng ngày 157 37,6
Hàng tuần 142 34,0
Khi thấy đồ chơi bẩn 274 65,6
Không nhớ 3 0,7
Dùng riêng vật dụng ăn uống cho trẻ
Có 348 83,3
Không 70 16,7
Mớm thức ăn cho trẻ
Thỉnh thoảng 58 13,9
Không bao giờ 360 86,1
Cho trẻ bốc thức ăn, mút tay,
ngậm mút đồ chơi
Thỉnh thoảng 84 20,1
Không bao giờ 334 79,9
Nấu chín, đậy kín thức ăn của trẻ
Thường xuyên 379 90,6
Lúc đậy lúc không 25 6,0
Không bao giờ 14 3,4
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ
Yếu tố liên quan
Thực hành
oR
(CI 95%)
PĐạt Không đạt
n % n %
Tuổi
< 35 tuổi 171 63,3 99 36,7 0,881
0,578-1,343
0,556
≥ 35 tuổi 98 66,2 50 33,8
Trình độ học vấn
 ≥ Cấp III 212 67,9 100 32,1 1,822
1,163-2,857
0,008 (p<0,05)
Cấp I- Cấp II 57 53,8 49 46,2
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn20
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Kết quả phân tích tại bảng 3 cho thấy các yếu tố liên 
quan có ý nghĩa thống kế đến thực hành phòng bệnh TCM 
của các bà mẹ bao gồm: trình độ học vấn; số con của các 
bà mẹ; tình trạng được tiếp cận thông tin truyền thông; và 
kiến thức phòng bệnh TCM. Trong đó, hai yếu tố “tiếp cận 
thông tin” và “kiến thức phòng bệnh TCM” có mối liên 
quan mạnh nhất, cụ thể như sau:
- Các bà mẹ “có tiếp cận với thông tin truyền 
thông” có khả năng thực hành tốt về phòng bệnh TCM cao 
hơn 2,7 lần so với các bà mẹ “không tiếp cận với thông tin 
truyền thông” (OR = 2,7; p<0,05).
- Các bà mẹ có “kiến thức đạt” về phòng bệnh TCM 
có khả năng thực hành đạt cao hơn 8,1 lần so với các bà mẹ 
có kiến thức không đạt (OR = 8,1; p<0,001). 
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu “kiến thức, 
thực hành phòng chống bệnh TCM của các bà mẹ có con 
dưới 5 tuổi tại TP. Vĩnh Long”. Đây là một chủ đề nghiên 
cứu có ý nghĩa thực tiễn do số ca bệnh TCM đang có xu 
hướng gia tăng tại địa phương. Nghiên cứu đã áp dụng 
thiết kế khoa học và qui trình thu thập số liệu được kiểm 
soát chặt chẽ để thu được các kết quả có ý nghĩa như sau:
Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về phòng bệnh TCM 
đạt 77,3%. Kết quả của chúng tôi cao hơn so với kết quả 
nghiên cứu tại một số địa phương khác như: nghiên cứu 
tại huyện Long Thành, Đồng Nai (43,72%) [3]; nghiên 
cứu tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (62,75%) [4]; 
và nghiên cứu tại huyện Gia Lâm, Hà Nội (62,8%) [5]. 
Sự khác biệt này có thể được giải thích do nghiên cứu 
của chúng tôi được thực hiện tại địa bàn thành phố, nơi 
có tỷ lệ các bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp trở 
lên tương đối cao (49,5%) và có tới 55,8% các bà mẹ là 
cán bộ, công nhân, viên chức. Đồng thời, các địa phương 
triển khai các chương trình truyền thông GDSK khác 
nhau sẽ có các tác động khác nhau tới kiến thức phòng 
bệnh của người dân. 
Đối với phần thực hành, tỷ lệ các bà mẹ tại TP.Vĩnh 
Long có thực hành phòng bệnh TCM đạt là 64,4%. Kết 
quả của chúng tôi cao hơn kết quả của các tác giả Trần Thị 
Anh Đào tại Đồng Nai [3] và Giang Xuân Thiện tại Hậu 
Giang [4]. Sự khác biệt này có thể được lý giải do tỷ lệ các 
bà mẹ trong nghiên cứu của chúng tôi có kiến thức phòng 
bệnh TCM đạt cao hơn so với kết quả nghiên cứu của các 
địa phương khác. Kiến thức tốt là một trong các yếu tố 
quan trọng giúp cho các bà mẹ thực hành tốt các biện pháp 
Nghề nghiệp
CBCNV nhà nước 108 67,5 52 32,5 1,251
0,826-1,897
0,290
Các nghề khác 161 62,4 97 37,6
Thu nhập trung bình của gia đình
>1.300.000đ/ tháng 37 63,9 18 32,7 1,161
0,635-2,120
0,628
≤ 1.300.000đ/ tháng 232 67,3 131 36,1
Số con của bà mẹ dưới 5 tuổi
> 2 trẻ 57 62,0 19 25,0 1,839
1,047-3,236
0,032
(p<0,05)≤ 2 trẻ 212 75,0 130 38,0
Tiếp cận với thông tin truyền thông về phòng bệnh TCM
Có 182 73,7 65 26,3 2,703
1,790-4,083
<0,001
Không 87 50,9 84 49
Kiến thức phòng bệnh TCM của các bà mẹ
Đạt 243 75,2 80 24,8 8,061
(4,807 – 13,518)
<0,001
Không đạt 26 27,4 69 72,6
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 21
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
phòng bệnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới trên 
90% các bà mẹ đã thực hiện rất tốt một số biện pháp phòng 
bệnh như: Vệ sinh tay thường xuyên bằng xà phòng; lau 
chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa thường xuyên và xử lý phân 
và chất thải của trẻ đúng cách. Tuy nhiên, có một số biện 
pháp phòng bệnh có tỷ lệ các bà mẹ thực hành chưa tốt còn 
tương đối cao cần được lưu ý là: Vệ sinh đồ chơi cho trẻ 
thường xuyên; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ 
ngậm, mút ngón tay, đồ chơi. Căn cứ vào kết quả nghiên 
cứu, chúng tôi đề xuất cần chú trọng các nội dung trên 
trong các chương trình truyền thông GDSK để nâng cao 
hiệu quả công tác phòng bệnh TCM tại địa phương. 
 Kết quả phân tích thống kê cho thấy, có 4 yếu tố liên 
quan có ý nghĩa thống kế với thực hành của các bà mẹ bao 
gồm: Trình độ học vấn; số con của các bà mẹ; tình trạng 
được tiếp cận thông tin truyền thông; và kiến thức phòng 
bệnh TCM. Trong đó, hai yếu tố “tiếp cận thông tin” và 
“kiến thức phòng bệnh TCM” có mối liên quan mạnh nhất: 
Những bà mẹ “có tiếp cận với thông tin truyền thông” có 
khả năng thực hành tốt phòng chống TCM cao hơn 2,7 
lần so với các bà mẹ “không tiếp cận với thông tin truyền 
thông (OR = 2,7; p<0,05); những bà mẹ có “kiến thức đạt” 
về phòng bệnh TCM có khả năng thực hành đạt cao hơn 
8,1 lần so với các bà mẹ có “kiến thức không đạt” (OR = 
8,1; p<0,001). Mối liên quan giữa “kiến thức” và “thực 
hành” của các bà mẹ trong phòng bệnh TCM cũng được 
chỉ ra trong một số nghiên cứu khác [4], [5]. Tuy nhiên, chỉ 
số chênh OR trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị tới 
8,1; cao hơn so với các nghiên cứu khác thể hiện mối liên 
quan mạnh giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM 
của các bà mẹ. 
Nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng phương pháp 
tin cậy để đưa ra được các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa 
khoa học. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp phân tích 
đơn biến để phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành 
của các bà mẹ còn có hạn chế nhất định. Chúng tôi đề xuất 
các nghiên cứu sau có thể áp dụng phương pháp phân tích 
đa biến để đưa ra các kết luận chắc chắn hơn về các yếu tố 
liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ. 
V. KẾT LUẬN
Sau khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi thu được các 
kết quả chính sau:
 Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM 
cho trẻ tương tối cao (77,3%). 
Tỷ lệ các bà mẹ có thực hành đạt là 64,4%. Một số nội 
dung phòng bệnh các bà mẹ thực hiện chưa tốt bao gồm: 
lau rửa đồ chơi thường xuyên và vệ sinh ăn uống cho trẻ.
Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với thực 
hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ bao gồm: trình độ 
học vấn; số con của các bà mẹ; tình trạng được tiếp cận 
thông tin truyền thông; và kiến thức phòng bệnh TCM.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn giám sát và phòng bệnh tay chân miệng.
2. Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Long (2017), Báo cáo công tác y tế dự phòng thành phố Vĩnh Long năm 2017.
3. Trần Thị Anh Đào (2012), Kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 
tuổi tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Đại học Y Dược Huế.
4. Giang Xuân Thiện (2013), Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng bệnh tay 
chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2013. Đại học Y Dược Cần Thơ.
5. Phan Trọng Lân, Lê Thị Thanh Hương (2014), Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của 
người chăm sóc chính cho trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội năm 2013. Tạp chí Y học 
Việt Nam, 1(419).

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thuc_hanh_phong_benh_tay_chan_mieng_cua_cac_ba_me.pdf