Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 và một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu trên 340 người dân của xã Quảng Trực,

huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông nhằm mô tả kiến thức,

thực hành phòng bệnh sốt rét và phân tích một số yếu tố

liên quan đến thực hành phòng bệnh SR của người dân.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích,

sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp

nghiên cứu định tính. Kết quả: Kiến thức chung về phòng

bệnh SR đạt là 85,9%; 14,1% không đạt. ĐTNC có ngủ lại

khi giao lưu biên giới và có sử dụng màn là 87,5%; không

sử dụng màn là 12,4%. Thực hành chung về phòng bệnh

SR đạt là 71,8%; 28,2% không đạt. Kết luận: Tỷ lệ đạt về

kiến thức và thực hành phòng bệnh SR của người dân khá

cao. Yếu tố về giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, được

gia đình và bạn bè tư vấn, nhận được thông tin truyền

thông từ các phương tiện thông tin đại chúng, tiền sử mắc

bệnh SR, kiến thức về phòng bệnh SR có liên quan đến

thực hành phòng bệnh SR

pdf 8 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 và một số yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 và một số yếu tố liên quan

Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019 và một số yếu tố liên quan
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn8
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI 
DÂN XÃ QUẢNG TRỰC, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG 
NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Nguyễn Văn Chuyên1, Trịnh Thị Lan Anh2, Nguyễn Thúy Quỳnh3, 
Nguyễn Thế Anh1, Ngô Quý Lâm1
TÓM TẮT
Nghiên cứu trên 340 người dân của xã Quảng Trực, 
huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông nhằm mô tả kiến thức, 
thực hành phòng bệnh sốt rét và phân tích một số yếu tố 
liên quan đến thực hành phòng bệnh SR của người dân. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, 
sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp 
nghiên cứu định tính. Kết quả: Kiến thức chung về phòng 
bệnh SR đạt là 85,9%; 14,1% không đạt. ĐTNC có ngủ lại 
khi giao lưu biên giới và có sử dụng màn là 87,5%; không 
sử dụng màn là 12,4%. Thực hành chung về phòng bệnh 
SR đạt là 71,8%; 28,2% không đạt. Kết luận: Tỷ lệ đạt về 
kiến thức và thực hành phòng bệnh SR của người dân khá 
cao. Yếu tố về giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, được 
gia đình và bạn bè tư vấn, nhận được thông tin truyền 
thông từ các phương tiện thông tin đại chúng, tiền sử mắc 
bệnh SR, kiến thức về phòng bệnh SR có liên quan đến 
thực hành phòng bệnh SR.
Từ khoá: Sốt rét, kiến thức, thực hành, yếu tố 
liên quan.
ABSTRACT:
MALARIA PREVENTION KNOWLEDGE 
AND PRACTICE OF PEOPLE IN QUANG TRUC 
COMMUNE, TUY DUC DISTRICT, DAK NONG 
PROVINCE IN 2019 AND SOME RELATED 
FACTORS
Research on 340 people of Quang Truc commune, 
Tuy Duc district, Dak Nong province to describe 
knowledge, malaria prevention practices and analyze 
some factors related to malaria prevention practices of 
people. Methods: Descriptive cross-sectional studies 
were analyzed, using quantitative research methods in 
combination with qualitative research. Results: The 
general knowledge about preventing malaria is 85.9%; 
14.1% failed. Researchers sleep at cross-border exchanges 
and use curtains at 87.5%; Do not use mosquito net 
is 12.4%. General practice of preventing malaria was 
71.8%; 28.2% failed. Conclusion: The rate of people 
about knowledge and practice of malaria prevention 
is quite high. Gender, ethnicity, education, family and 
friends counseling, information and communication from 
mass media, history of malaria, knowledge about malaria 
prevention related to SR prevention practices.
Keywords: Malaria, knowledge, practices, related 
factors.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét (SR) là căn bệnh truyền nhiễm xuất hiện lâu 
đời nhất, gây nguy hiểm và đe dọa tới sức khỏe cộng 
đồng. Năm 2017, cả nước ghi nhận 4.548 bệnh nhân có ký 
sinh trùng SR với 6 trường hợp tử vong.
Đắk Nông là một trong những tỉnh có tỷ lệ bệnh sốt 
rét lưu hành cao nhất và cũng là tỉnh có đường biên giới 
dài nhất với Campuchia. Xã Quảng Trực thuộc huyện Tuy 
Đức tỉnh Đắk Nông là xã có tỷ lệ sốt rét lưu hành cao 
nhất. Toàn xã Quảng Trực có 5 thôn có đường biên giới 
với 34 km biên giới Việt Nam - Campuchia và có dân 
giao lưu qua lại biên giới của người dân 2 nước nên tình 
hình sốt rét luôn biến động phức tạp. Dân số của xã là 
5588 người, dân tộc M’Nông chiếm 81,2%, ngoài ra còn 
có người Kinh, Tày, Nùng, Dao. Mặt khác, điều kiện địa 
hình, kinh tế, tập quán canh tác ở địa phương nên nhiều 
người thường xuyên đi rừng, làm rẫy và ngủ lại qua đêm 
trong rừng, trình độ hiểu biết còn hạn chế, không ngủ màn 
nên dễ mắc bệnh, tỷ lệ nhiễm sốt rét cao. Tỷ lệ người/
màn 2,36 thấp hơn so với quy định chương trình PCSR 
là 2; tỷ lệ ngủ màn 72,10% thấp <80% [1]. Đề tài chúng 
Ngày nhận bài: 31/01/2020 Ngày phản biện: 10/02/2020 Ngày duyệt đăng: 18/02/2020
1. Học viện Quân Y 
2. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng
3. Trường Đại học Y tế Công cộng
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 9
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tôi tiến hành trên một phần của đề tài cấp Quốc gia có mã 
số TN16/T03, để phục vụ cho mục tiêu 1 của đề tài đề 
xuất được giải pháp tăng cường bảo vệ chăm sóc sức khỏe 
cộng đồng biên giới Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông 
nói riêng. Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài 
“Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người 
dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông 
năm 2019 và một số yếu tố liên quan” với mục tiêu: 
(1). Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh SR của người 
dân. (2). Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành 
phòng bệnh SR của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy 
Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người dân từ 18 tuổi trở lên sinh sống tại xã Quảng 
Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông và có đi rừng, 
làm rẫy.
Thời gian: Từ tháng 03/2019 đến tháng 08/2019.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
2.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: 340 người. 
- Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng: chọn 
ngẫu nhiên 01 thôn giáp biên giới và 01 thôn không giáp 
biên giới, mỗi thôn điều tra 170 người. 
2.4. Phương pháp thu thập số liệu
- Công cụ: Dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn 
đáp ứng với mục tiêu nghiên cứu. Phiếu phỏng vấn gồm 
08 câu hỏi về kiến thức, 11 câu hỏi về thực hành. Đánh giá 
kiến thức, thực hành đạt khi ĐTNC trả lời được từ 70% 
số điểm trở lên. 
- Phương pháp: Tiến hành phỏng vấn điều tra về kiến 
thức và thực hành phòng bệnh sốt rét trên ĐTNC.
 2.5. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm 
Epidata 3.1. 
Phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.
2.6. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ theo các quy định của Hội đồng 
Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng theo Quyết 
định số 350/2016/YTCC-HĐ3, ngày 29/12/2016 trước 
khi tiến hành. 
III. KẾT QUẢ
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=340)
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Số lượng Tỷ lệ (%)
Tuổi
<39 227 66,8
≥40 113 33,2
Giới tính
Nam 143 41,1
Nữ 197 57,1
Dân tộc
Kinh 135 39,7
M’Nông: 131 38,5
Khác 74 21,8
Trình độ học vấn
< THCS 208 61,2
≥ THCS 132 38,8
Kinh tế gia đình
Nghèo 106 31,2
Cận nghèo 145 42,6
Khá 89 26,2
Tiền sử mắc SR
Có 261 76,8
Không 79 23,2
Giao lưu biên giới
Có 287 84,4
Không 53 15,6
Làm rẫy, ngủ lại trong rẫy
Có 312 91,8
Không 28 8,2
Đi rừng, ngủ lại trong rừng
Có 298 87,6
Không 42 12,4
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn10
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Kết quả bảng 3.1 cho thấy: Độ tuổi <39 chiếm tỷ 
lệ 66,8%; ≥40 chiếm tỷ lệ 33,2%, nam giới chiếm tỷ lệ 
41,1%, nữ giới là 57,1%, dân tộc Kinh và M’Nông chiếm 
tỷ lệ tương tự nhau (khoảng 39%), trình độ học vấn khá 
thấp: <THCS chiếm 61,1%; ≥THCS chiếm 38,8%, điều 
kiện kinh tế gia đình hộ nghèo và cận nghèo là 73,8%; 
76,8% ĐTNC đã từng mắc sốt rét; 84,4% người dân có 
giao lưu biên giới. Hầu hết 91,8% người dân làm rẫy và 
ngủ lại; 87,6% người dân đi rừng và ngủ lại.
3.2. Kiến thức về phòng bệnh sốt rét của người 
dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông 
năm 2019
Kết quả về kiến thức của ĐTNC: 96,8% đều biết 
được nguyên nhân gây bệnh SR là do KSTSR; 100% biết 
đường lây truyền bệnh SR là do muỗi; có 78,5% biết do 
truyền máu không an toàn và 72,6% do truyền từ mẹ sang 
con; 100% người dân biết nguồn lây truyền bệnh SR do 
người bệnh nhiễm KSTSR, 88,8% biết nguồn lây truyền 
do động vật hoang dã nhiễm KSTSR (khỉ, vượn) và 84% 
biết nguồn lây truyền do máu nhiễm KSTSR; 95% biết 
đến hậu quả của bệnh sốt rét ác tính có thể gây tử vong và 
98,5% biết bệnh SR có khả năng điều trị khỏi; 100% đều 
biết biện pháp phòng bệnh SR là phòng chống muỗi đốt. 
96,8% biết phải ngủ màn khi giao lưu biên giới.
Bảng 3.2. Thực hành phòng bệnh sốt rét khi giao lưu biên giới
Thực hành PSR giao lưu biên giới Số lượng Tỷ lệ %
Ngủ lại khi qua biên giới Campuchia (n=287)
Có 242 84,4
Không 45 15,6
Ngủ màn khi ở lại biên giới (n=242)
Có 212 87,5
Không 30 12,5
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ kiến thức chung của ĐTNC
85.9
14.1
Đạt
Không đạt
Biểu đồ 3.1 cho thấy đa số 85,9% người dân có 
kiến thức chung về phòng bệnh sốt rét đạt; vẫn có 
14,1% chưa đạt.
3.3. Thực hành về phòng bệnh sốt rét của người 
dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông 
năm 2019
Bảng 3.2 cho thấy 84,4% người dân khi qua biên giới Campuchia có ngủ lại, khi ngủ lại có 87,5% người dân sử 
dụng màn; vẫn còn 12,5% không sử dụng màn.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 11
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3.3. Thực hành phòng bệnh sốt rét khi đi rừng, ngủ rẫy (n=340)
Thực hành PSR khi đi rừng, ngủ rẫy Số lượng Tỷ lệ %
Mang theo túi thuốc phòng bệnh khi đi rừng
Thường xuyên 280 82,4
Thỉnh thoảng 24 7,1
Không bao giờ 36 10,6
Tắm suối/khe nước lúc trời tối khi ở trong rừng
Thường xuyên 10 2,9
Thỉnh thoảng 39 11,5
Không bao giờ 340 85,6
Bảng 3.4. Biện pháp phòng tránh muỗi đốt khi ngủ trong rẫy, trong rừng 
Biện pháp bảo vệ Số lượng Tỷ lệ %
Khi ngủ trong rẫy (n=312)
Ngủ màn, võng thường xuyên 258 82,7
Ngủ màn, võng không thường xuyên 48 15,4
Không dùng 6 1,9
Khi ngủ trong rừng (n = 298)
Ngủ màn, võng thường xuyên 248 83,2
Ngủ màn, võng không thường xuyên 42 14,1
Không dùng 8 2,7
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ thực hành phòng bệnh sốt rét của ĐTNC
Trong số 340 đối tượng nghiên cứu, khi đi rừng, ngủ 
rẫy, ĐTNC thường xuyên mang túi thuốc dự phòng là 
82,4%; thỉnh thoảng là 7,1%; không bao giờ là 10,6%. 
Trong rừng, không bao giờ tắm suối khi trời tối là 85,6%; 
thỉnh thoảng là 11,5%; thường xuyên là 2,9%.
Trong số 312 đối tượng có đi rẫy và ngủ lại có 258 
người thường xuyên sử dụng màn, võng để phòng chống 
muỗi đốt; 15,4% ít sử dụng phương tiện bảo vệ khỏi muỗi 
đốt và 1,9% không sử dụng biện pháp bảo vệ. 
Trong số 298 đối tượng có đi rừng và ngủ lại có 248 
người thường xuyên sử dụng màn, võng để phòng chống 
muỗi đốt chiếm 83,2%; 14,1% ít sử dụng phương tiện bảo 
vệ khỏi muỗi đốt và 2,7% không sử dụng biện pháp bảo vệ.
Đạt Không đạt
Biểu đồ 3.3 cho thấy 71,8% thực hành đạt; 28,2% thực hành không đạt.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn12
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
3.4. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, 
tỉnh Đắk Nông năm 2019
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân đến thực hành chung về phòng bệnh sốt rét của người dân xã 
Quảng Trực (n=340)
Yếu tố 
Thực hành chung
p
OR
(CI 95%)Không đạt n (%) Đạt n (%)
Giới tính
Nữ 64 (32,5) 133 (67,5)
0,04
1,7
(1,1 - 3,1)Nam 32 (22,4) 111 (77,6)
Dân tộc
DTTS 69 (33,7) 136 (66,3)
0,006
2,0
(1,2 – 3,7)Kinh 27 (20,0) 108 (80,0)
Trình độ học vấn
< THCS 75 (36,1) 133 (63,9)
<0,001
2,9
(1,7 – 5,1)≥ THCS 21 (15,9) 111 (84,1)
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa yếu tố nhận thông tin truyền thông về bệnh sốt rét với thực hành chung của người 
dân xã Quảng Trực (n=340)
Yếu tố 
Thực hành chung
p
OR
(CI 95%)Không đạt n (%) Đạt n (%)
Được nhận thông tin qua phương tiện thông tin đại chúng
Chưa bao giờ 52 (42,6) 70 (57,4)
< 0,001
2,8
(1,7-4,5)Có 44 (20,2) 164 (79,8)
Được nhận thông tin qua tranh, pano, áp phích
Chưa bao giờ 79 (48,2) 85 (51,8)
< 0,001
8,7
(4,8-15,6)Có 17 (9,7) 159 (90,3)
Được nhận thông tin qua hệ thống truyền thanh
Chưa bao giờ 68 (80,0) 17 (20,0)
< 0,001
32,4
(16,7-62,8)Có 28 (11,0) 227 (89,0)
Được nhận thông tin qua tài liệu tuyên truyền phát tay
Chưa bao giờ 92 (44,9) 113 (55,1)
<0,001
26,6
(9,5-102,3)Có 4 (3,0) 131 (97,0)
Bảng 3.5 cho thấy các yếu tố: giới tính, dân tộc và 
trình độ học vấn có mối liên quan đến thực hành chung về 
phòng bệnh SR cụ thể: nữ giới thực hành PCSR không đạt 
cao gấp 1,7 lần so với nam giới, OR=1,7, CI (1,1 - 3,1); 
người DTTS thực hành PCSR không đạt cao gấp 2 lần so 
với dân tộc Kinh, OR=2,0, CI (1,2 - 3,7); người dân trình 
độ <THCS thực hành PSR không đạt cao gấp 2,98 lần so 
với người có trình độ ≥THCS, OR=2,9, CI (1,7 - 5,1). 
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 13
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa kiến thức chung về bệnh sốt rét với thực hành chung của người dân xã Quảng 
Trực (n=340)
Yếu tố
Thực hành chung
p
OR
(CI 95%)Không đạt n (%) Đạt n (%)
Kiến thức chung
Không đạt 41 (85,4) 7 (14,6)
<0,001
25,2
(8,9-72,6)Đạt 55 (18,8) 237 (81,2)
Những người chưa bao giờ được nhận thông tin 
qua phương tiện thông tin đại chúng thì thực hành PSR 
không đạt cao gấp 2,8 lần so với người đã được nhận, 
OR=2,8, CI(1,7 - 4,5). Chưa bao giờ được nhận thông 
tin qua tranh, pano, áp phích thì thực hành PSR không 
đạt cao gấp 8,7 lần so với người đã được nhận, OR=8,7, 
CI (4,8 - 15,6).
Những người chưa bao giờ được nhận thông tin qua 
hệ thống truyền thanh thì thực hành PSR không đạt cao 
gấp 32,4 lần so với người đã được nhận, OR=32,4, CI 
(16,7 - 62,8). Chưa bao giờ được nhận thông tin qua tài 
liệu tuyên truyền phát tay thì thực hành PSR không đạt cao 
gấp 26,6 lần so với những người đã được nhận, OR=26,6, 
CI (9,5 - 102,3).
Kết quả bảng 3.7 cho thấy có mối liên quan giữa kiến 
thức với thực hành PSR, cụ thể: những người có kiến thức 
không đạt thì thực hành PSR không đạt cao gấp 25,2 lần 
so với những người có kiến thức đạt với OR=25,2, CI 
(8,9 - 72,6).
IV. BÀN LUẬN
4.1 Thực hành phòng bệnh sốt rét của người dân 
xã Quảng Trực
Nghiên cứu có 84,4% người dân ngủ lại khi qua biên 
giới, trong đó 87,5% có ngủ màn khi ngủ lại; tỷ lệ này hơn 
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Chuyên (2018) tại 
Tuy Đức là 70,86% [1]; biên giới Việt Nam - Campuchia 
là vùng lưu hành hành nặng vì vậy việc không ngủ màn là 
yếu tố nguy cơ của bệnh sốt rét. Nghiên cứu của Nguyễn 
Văn Chuyên cho thấy không ngủ màn nhiễm KSTSR là 
13,75% cao hơn so với người có ngủ màn (p<0,05) [1]. Vì 
vậy cần phải tuyên truyền người dân thực hành ngủ màn 
khi giao lưu biên giới nhằm hạn chế tỷ lệ mắc KSTSR đến 
mức thấp nhất.
Hầu hết người dân đã ý thức được tầm quan trọng 
của dự phòng thuốc sốt rét khi đi rừng, ngủ rẫy, có 89,4% 
người dân thực hành mang thuốc. Tỷ lệ này cao hơn 
nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên (49,71%) [1]; cao 
hơn nghiên cứu của Đào Thị Kim Nhung (2017) là 68,1% 
[2]. Trên rừng, rẫy là nơi thường có nhiều muỗi mà biện 
pháp phòng chống muỗi chưa được bao phủ. Do vậy nếu 
không ngủ màn người dân rất dễ nhiễm KSTSR, họ là 
người dễ mang mầm bệnh lây truyền trong cộng đồng. 
Ở những khe nước, suối có độ ẩm cao là nơi muỗi 
sinh trưởng và phát triển nhiều, thời gian hoạt động của 
muỗi thường vào 20 - 24h nên rất dễ bị muỗi đốt; có 
14,4% người dân tắm khi trời tối thấp hơn nghiên cứu của 
Đào Thị Kim Nhung (2017) là 60,4% [2]. Đây là hành vi 
gây nguy cơ mắc bệnh SR cao cần phải tuyên truyền để 
người dân thay đổi.
Khi ngủ trong rẫy có 82,7% ngủ màn, võng thường 
xuyên. Khi ngủ trong rừng có 83,2% ngủ màn, võng 
thường xuyên. Nghiên cứu cho thấy 71,8% người dân 
thực hành đạt về phòng bệnh SR, cao hơn nghiên cứu của 
Nguyễn Đình Hòa (2015) là 55,7% [5]; tỷ lệ này cũng cao 
hơn nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và Đinh Văn Thiên 
(2010) là 66,8% [4]; sự khác nhau này có thể là do địa bàn 
nghiên cứu là huyện biên giới, nơi có tỷ lệ lưu hành sốt 
rét; được triển khai Dự án “Phòng, chống sốt rét cho dân 
di biến động khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia 
giai đoạn 2016-2020” thuộc hợp phần khu vực của dự 
án “Sáng kiến khu vực ngăn chặn sốt rét kháng thuốc 
Artemisinin – RAI” Giai đoạn 2 do Quỹ Toàn cầu tài trợ 
[3] nên được tiếp cận và cung cấp các dịch vụ y tế cần 
thiết cho nhóm người dân giao lưu biên giới; đặc biệt là 
việc can thiệp truyền thông thay đổi hành vi ở nhóm người 
nguy cơ cao (đi rừng, ngủ rẫy; người dân tộc thiểu số); 
đồng thời hỗ trợ giám sát; phòng bệnh và quản lý ca bệnh 
nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh. 
4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng 
bệnh sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy 
Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2019
Dân tộc
Yếu tố dân tộc có liên quan đến thực hành phòng bệnh 
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn14
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
SR, cụ thể là người Kinh có thực hành đạt cao hơn người 
DTTS (80% so với 66,3%), p<0,05. Kết quả tương đồng 
với nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và Đinh Văn Thiên 
(2010): người Kinh thực hành đạt cao hơn người DTTS 
(99,4% so với 95,3%) [4]. Nghiên cứu của Nguyễn Đình 
Hòa (2015) cũng cho kết quả tương tự, người dân tộc khác 
thực hành phòng bệnh SR chưa đạt cao gấp 4,5 lần người 
Kinh, p<0,001 [5]. Đa số người Kinh họ sống gần những 
nơi giao thông thuận lợi, gần trục đường chính, gần trung 
tâm, đông dân cư nơi có điều kiện tiếp cận với các dịch 
vụ y tế nhiều hơn so với người DTTS; Vì vậy thực hành 
phòng bệnh SR của người DTTS thấp hơn người Kinh. 
Đây là vấn đề mà địa phương cần có giải pháp, tăng cường 
công tác truyền thông; tạo điều kiện cho người dân tiếp 
cận thông tin y tế nhất là người DTTS, để từ đó họ có kỹ 
năng, thực hành phòng bệnh sốt rét ngày một tốt hơn.
Trình độ học vấn
Kết quả cho thấy những người có trình độ học vấn cao 
có thực hành phòng bệnh SR cao gấp 2,9 lần những người 
trình độ học vấn thấp; p<0,05. Nghiên cứu của Nguyễn 
Đình Hòa (2015) cũng cho kết quả tương tự, những người 
trình độ học vấn <THCS có thực hành phòng bệnh SR 
chưa đạt cao gấp 2,3 lần những người trình độ học vấn 
≥THCS, p<0,05 [5]. Nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và 
Đinh Văn Thiên (2010) cho thấy tỷ lệ thực hành phòng 
bệnh SR đạt ở những người có trình độ học vấn ≥THCS 
cao hơn người trình độ học vấn <THCS (95,3% so với 
92,1%) [4]. Trình độ học vấn cao sẽ giúp người dân có 
khả năng tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhạy, nhận 
thức tốt hơn dẫn đến thực hành tốt hơn những người trình 
độ học vấn thấp.
Yếu tố nhận thông tin truyền thông về bệnh sốt rét 
Những người đã từng được nhận thông tin qua phương 
tiện thông tin đại chúng thực hành phòng bệnh SR cao gấp 
2,8 lần người chưa từng tiếp nhận; p<0,05. Nghiên cứu 
của Nguyễn Đình Hòa (2015) cho thấy những người chưa 
từng nghe/nhìn thông tin về bệnh SR thực hành phòng 
bệnh SR chưa đạt cao gấp 3,9 lần những người đã từng 
nghe/nhìn thông tin, (p<0,05) [5]. Điều này cũng dễ hiểu 
vì những người đã từng nhận thông tin về bệnh SR, họ sẽ 
có kiến thức tốt về bệnh và nhận thức được tầm quan trọng 
của việc phòng bệnh, do đó dẫn đến thực hành phòng bệnh 
tốt hơn. 
Những người nhận thông tin qua tranh, pano, áp phích 
có thực hành đạt cao gấp 8,7 lần người không được nhận; 
những người nhận thông tin qua hệ thống truyền thanh có 
thực hành đạt cao gấp 32,4 lần người không nhận; những 
người đã từng nhận thông tin qua tài liệu tuyên truyền 
phát tay có thực hành đat cao gấp 26,6 lần người chưa 
từng nhận; p<0,05. Vì vậy, công tác truyền thông thay đổi 
nhận thức, hành vi cho cộng đồng là hết sức quan trọng; 
hình thức truyền thông có thể được thực hiện phong phú, 
đa dạng bằng nhiều hình thức như loa đài, phát thanh, 
pano áp phích; truyền thông trực tiếp tại cụm dân cư,
Kiến thức phòng bệnh sốt rét
Kết quả cho thấy những người có kiến thức không đạt 
thì thực hành không đạt cao 25,2 lần so với những người 
kiến thức đạt, p<0,05. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hòa 
(2015) cho thấy những người có kiến thức đạt thực hành 
phòng bệnh SR cao gấp 4 lần người có kiến thức không 
đạt (p<0,05) [5]. Điều này cho thấy những người có kiến 
thức tốt về phòng bệnh sốt rét thì bản thân họ và gia đình 
họ thực hành phòng bệnh tốt hơn. Vì vậy, để người dân 
thực hành phòng bệnh SR tốt ngành Y tế địa phương cần 
phải tổ chức công tác truyền thông bằng nhiều hình thức 
và thường xuyên để người dân được trang bị những kiến 
thức tốt nhất về bệnh SR.
V. KẾT LUẬN
Kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt rét của người 
dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông 
năm 2019
Tỷ lệ kiến thức chung đạt về phòng bệnh sốt rét 
là 85,9%.
Tỷ lệ ngủ lại khi giao lưu biên giới và có sử dụng 
màn là 87,5%.
Khi đi rừng, ngủ rẫy, ĐTNC có mang túi thuốc dự 
phòng là 82,4%. Trong rừng, không bao giờ tắm suối khi 
trời tối là 85,6%.
Tỷ lệ thực hành đạt về phòng bệnh SR là 71,8%.
Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh 
sốt rét của người dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, 
tỉnh Đắk Nông năm 2019
Có một số yếu tố liên quan đến thực hành cụ thể: Nữ 
giới thực hành không tốt bằng nam giới (tỷ lệ không đạt cao 
gấp 1,7 lần); người Kinh thực hành tốt hơn người DTTS 
(gấp 2 lần); người có trình độ học vấn thấp có thực hành 
không tốt bằng người có trình độ học vấn cao (cao gấp 2,98 
lần); người chưa từng được nhận thông tin truyền thông 
bệnh SR qua các phương tiện thông tin đại chúng (tranh 
ảnh, pano, áp phích; truyền thanh; tài liệu phát tay) đều có 
thực hành PSR không tốt so với những người được nhận; 
những người có kiến thức không đạt thì thực hành PSR 
không tốt bằng người kiến thức đạt (gấp 25,2 lần); p<0,05.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 15
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Chuyên (2018), Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ mắc bệnh sốt rét ở xã biên giới Campuchia, 
huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông năm 2018.
2. Đào Thị Kim Nhung (2017), Mô tả một số hành vi nguy cơ bệnh sốt rét và một số yếu tố liên quan của người dân 
đi rừng ngủ rẫy tại xã Đa Sar, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng năm 2017, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường 
Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
3. Sở Y tế Đắk Nông (2017), Báo cáo tổng kết công tác Y tế năm 2017.
4. Đinh Văn Thiên, Trần Đỗ Hùng (2013), Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về phòng 
chống sốt rét tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2010, Tạp chí Y học Thực hành (873) - số 6/2013.
5. Nguyễn Đình Hòa (2015), Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đên phòng bệnh sốt rét của người 
dân xã Đăk Lao, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông; Luận văn thạc sỹ YTCC, Hà Nội.

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thuc_hanh_phong_benh_sot_ret_cua_nguoi_dan_xa_quan.pdf