Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế tại tuyến xã huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2017
Thực hiện khảo sát kiến thức của nhân viên y tế tại
30 trạm y tế thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình về quản
lý chất thải y tế cho thấy: 28,0% là nhân viên y tế có thâm
niên công tác từ dưới 10 năm; 25,4% ở nhóm có thâm
niên trên 10 năm biết được chất thải y tế được chia làm
5 nhóm. 76,6% nhân viên y tế biết được túi đựng rác thải
tối đa 3/4 túi, 74,9% không để lẫn chất thải y tế và chất
thải thông thường. Tỷ lệ nhân viên thực hiện đúng lượng
chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy 3/4 túi chiếm 73,1%;
thời gian vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 1 lần 1
ngày và khi cần chiếm 64,0%; thời gian lưu giữ chất thải
rắn y tế tối đa trước khi xử lý chiếm tỷ lệ thấp nhất 50,9%.
56,0% và 53,7% nhân viên y tế xử lý chất thải sắc nhọn và
chất thải lây nhiễm bằng thiêu đốt trong lò; 42,3% nhân
viên y tế thực hiện tiêu hủy chất thải giải phẫu ngay sau
khi phát sinh
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế tại tuyến xã huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn20 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 TÓM TẮT Thực hiện khảo sát kiến thức của nhân viên y tế tại 30 trạm y tế thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình về quản lý chất thải y tế cho thấy: 28,0% là nhân viên y tế có thâm niên công tác từ dưới 10 năm; 25,4% ở nhóm có thâm niên trên 10 năm biết được chất thải y tế được chia làm 5 nhóm. 76,6% nhân viên y tế biết được túi đựng rác thải tối đa 3/4 túi, 74,9% không để lẫn chất thải y tế và chất thải thông thường. Tỷ lệ nhân viên thực hiện đúng lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy 3/4 túi chiếm 73,1%; thời gian vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 1 lần 1 ngày và khi cần chiếm 64,0%; thời gian lưu giữ chất thải rắn y tế tối đa trước khi xử lý chiếm tỷ lệ thấp nhất 50,9%. 56,0% và 53,7% nhân viên y tế xử lý chất thải sắc nhọn và chất thải lây nhiễm bằng thiêu đốt trong lò; 42,3% nhân viên y tế thực hiện tiêu hủy chất thải giải phẫu ngay sau khi phát sinh. Từ khóa: Rác y tế, trạm y tế, chất thải rắn ABSTRACT: KNOWLEDGE AND PRACTICE OF MEDICAL STAFF ON MEDICAL WASTE MANAGEMENT AT COMMUNE LEVEL AT VU THU DISTRICT IN THAI BINH PROVINCE IN 2017 This study was among medical staff at 30 medical stations in Vuthu district Thaibinh province on medical waste management. The results showef that: 28.0% of the staff had the seniority of less than 10 years. About 25.4% of the staff with more than 10 years seniority knew that medical waste was decided into 5 groups. About 76.6% medical staff knew that the bag for medical garbage was at most of three fourths of the bag; 74.9% knew that it was no use mixing medical waste and normal waste; 73.1% of the staff practiced of putting at most of three fourths of the medical waste into the bag; time to transfer the waste to the store with the frequency of 1 time per day and when in need were of 64.0%. The maximum time to store the solid medical waste before processing was at lowest rate of 50.9%. About 56.0% and 53.7% of the staff treated sharp medical garbage and transmitted garbage by burning in furnace; 42.3% of the staff practiced distructing surgical waste right after incurring. Key words: Medical waste, medical station, solid waste I. ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, việc quản lý chất thải y tế ngày càng được ngành Y tế cũng như xã hội quan tâm, đặc biệt là các loại chất thải có chứa mầm bệnh. Vì vậy, việc thu gom, phân loại ngay từ nguồn chất thải và xử lý ban đầu, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại sẽ giảm được nguy cơ lây bệnh cho nhân viên y tế và tiết kiệm rất lớn chi phí cho cơ sở y tế. Để thực hiện điều này, giải pháp hiệu quả là tăng cường nhận thức và thực hành của nhân viên y tế trong quản lý và xử lý chất thải y tế. Vì vậy để góp phần đề xuất giải pháp các biện pháp nâng cao kiến thức, thực hành cho nhân viên y tế và cải thiện tình trạng quản lý chất thải rắn y tế phù hợp với điều kiện thực tế tại các trạm y tế, hạn chế mức độ ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài với mục tiêu nghiên cứu Đánh giá kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải rắn y tế tại địa bàn nghiên cứu II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành tại 30 trạm y tế xã ở huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình 2.2. Đối tượng nghiên cứu Nhân viên y tế tại trạm y tế: Đó là những nhân viên y tế đã và đang làm việc thường xuyên tại các trạm y tế xã của huyện Vũ Thư trong thời gian trên 6 tháng, tình nguyện hợp tác trong quá trình điều tra nghiên cứu (trạm Ngày nhận bài: 05/04/2018 Ngày phản biện: 15/04/2018 Ngày duyệt đăng: 21/04/2018 1. Trường Đại học Y Dược Thái Bình KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI TUYẾN XÃ HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2017 Đặng Thị Thu Ngà1, Ngô Thị Nhu1, Nguyễn Thị Hiên1 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 21 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC trưởng, các nhân viên y tế trực tiếp tham gia vào công tác khám chữa bệnh tại trạm). 2.3. Phương pháp nghiên cứu * Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang để tìm hiểu kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về quản lý (phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý) chất thải rắn y tế theo bộ câu hỏi đã được xây dựng. * Cỡ mẫu nghiên cứu Cỡ mẫu điều tra kiến thức, thực hành của nhân viên y tế: Toàn bộ cán bộ y tế tham gia công tác khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã thuộc huyện Vũ Thư. Qua điều tra phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi đã điều tra 175 nhân viên y tế tại các trạm y tế tuyến xã huyện Vũ Thư 2.4. Phương pháp xử lý số liệu - Các số liệu của đề tài nghiên cứu sẽ được nhập máy tính và phân tích dựa trên phần mềm Epi-info 6.04 và Epi - Data, sử dụng các thuật toán thống kê trong y học - Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế biết được chất thải y tế được chia làm 5 nhóm còn rất thấp, trong đó 28,0% là nhân viên y tế có thâm niên công tác từ dưới 10 năm; 25,4% ở nhóm có thâm niên trên 10 năm. Bên cạnh đó tỷ lệ nhân viên y tế cho rằng chất thải y tế chia làm 3 và 4 nhóm là khá cao (61,0% ở nhóm có thâm niên công tác dưới 10 năm; 61,3% ở nhóm có thâm niên trên 10 năm). Kết quả bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế trả lời đúng về phân loại rác y tế theo thời gian công tác trên 10 năm và dưới 10 năm là như nhau, là trả lời đúng từ 70% trở lên các câu hỏi. Và tỷ lệ trả lời không đạt của nhóm dưới 10 năm là cao hơn nhóm trên 10 năm công tác. Bảng 3.1. Kiến thức của nhân viên y tế về số nhóm chất thải với thâm niên công tác Thâm niên Nhóm chất thải ≤ 10 (n=100) > 10 (n=75) SL % SL % ≤ 4 nhóm 61 61,0 46 61,3 Đúng 5 nhóm 28 28,0 19 25,4 > 5 nhóm 11 11,0 10 13,3 Bảng 3.2. Kiến thức phân loại rác thải đúng theo thâm niên công tác (trả lời đúng trên 70% được cho là đạt) Thâm niên công tác Đạt Không đạt SL TL (%) SL TL (%) < 10 năm 12 50 88 58,3 ≤ 10 năm 12 50 63 41,7 Tổng 24 100 151 100 Bảng 3.3. Kiến thức đúng của nhân viên y tế về thu gom chất thải rắn y tế (n=175) Kiến thức đúng Số lượng Tỷ lệ (%) Thùng thu gom CTYT tại nơi phát sinh 85 48,6 Lượng CTYT tối đa ¾ túi 134 76,6 Không để lẫn CTYT và CT thông thường 131 74,9 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn22 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Kết quả bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế biết được túi đựng rác thải tối đa 3/4 túi, không để lẫn chất thải y tế và chất thải thông thường chiếm tỷ lệ cao (lần lượt là 76,6% và 74,9%). Kết quả bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng khá cao về vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế, chỉ riêng kiến thức lưu giữ chất thải chất thải y tế tại buồng riêng biệt còn hơi thấp, chỉ chiếm 11,4%. Biểu đồ 3.1 cho thấy 70,3% tỷ lệ nhân viên y tế biết cách xử lý bằng cách thiêu đốt trong lò chuyên dụng; 22,3% nhân viên y tế biết xử lý bằng cách chôn trong bể xi măng; chỉ 5,1% nhân viên y tế cho rằng chất thải sắc nhọn xử lý bằng chôn lấp thông thường. Bảng 3.4. Kiến thức đúng của nhân viên y tế về vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế (n=175) Kiến thức về vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế Số lượng Tỷ lệ (%) Thời gian vận chuyển chất thải về nơi lưu giữ một lần/ngày và khi cần 102 58,3 Điều kiện vận chuyển Kín miệng túi/thùng 141 80,6 Xe chuyên dụng 135 77,1 Không rơi vãi 114 65,1 Lưu giữ CTYT tại buồng riêng biệt 20 11,4 Thời gian lưu giữ CTYT t0 thường (≤48h) 164 93,7 Lạnh (≤72h) 162 92,6 Khoảng cách nơi lưu giữ CTYT ≥10m 160 91,4 Biểu đồ 3.1. Kiến thức của nhân viên y tế về xử lý chất thải sắc nhọn SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 23 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ nhân viên biết cách xử lý chất thải hóa học nguy hại, hóa chất, dược phẩm quá hạn thiêu đốt trong các lò chiếm tỷ lệ cao nhất 49,1%; sau đó là dùng nhiệt độ để thiêu đốt trong các lò chiếm tỷ lệ 37,7%; tỷ lệ nhân viên y tế không biết xử lý chất thải hóa học nguy hại, hóa chất, dược phẩm quá hạn chiếm 5,1%. Qua bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện phân loại đúng chất thải lây nhiễm vào dụng cụ màu vàng khá cao chiếm 73,1%. Bên cạnh đó, tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện phân loại rác thải tái chế vào dụng cụ màu trắng chỉ chiếm 58,3%. Qua bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ nhân viên thực hiện đúng lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy 3/4 túi chiếm 73,1%; tiếp theo là thời gian vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 1 lần 1 ngày và khi cần chiếm 64,0%; bên cạnh đó thời gian lưu giữ chất thải rắn y tế tối đa trước khi xử lý chiếm tỷ lệ thấp nhất 50,9%. Bảng 3.5. Thực hành đúng của nhân viên y tế về phân loại chất thải rắn y tế Thực hành phân loại chất thải y tế Số lượng Tỷ lệ (%) Chất thải lây nhiễm đựng trong dụng cụ màu vàng 128 73,1 Chất thải hóa học nguy hại, dược phẩm quá hạn sử dụng đựng trong dụng cụ màu đen 112 64,0 Chất thải tái chế đựng trong dụng cụ màu trắng 102 58,3 Chất thải sắc nhọn đựng trong thùng kháng thủng 112 64,0 Bảng 3.6. Thực hành đúng của nhân viên y tế về thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế (n = 175) Thực hành về thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế Số lượng Tỷ lệ (%) Vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 112 64,0 Lượng chất thải chứa trong túi (3/4 túi) 128 73,1 Không để lẫn CTRYT với chất thải thông thường 109 62,3 Thời gian lưu giữ CTRYT tối đa trước khi xử lý 89 50,9 Biểu đồ 3.2. Kiến thức của nhân viên y tế về xử lý chất thải hóa học nguy hại, dược phẩm quá hạn SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn24 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3.7. Thực hành đúng của nhân viên y tế về xử lý chất thải rắn y tế (n = 175) Thực hành về xử lý chất thải rắn y tế Số lượng Tỷ lệ (%) Chất thải giải phẫu 74 42,3 Xử lý chất thải lây nhiễm 94 53,7 Xử lý chất thải sắc nhọn 98 56,0 Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế xử lý đúng chất thải y tế nói chung còn chưa cao, 56,0% và 53,7% nhân viên y tế xử lý chất thải sắc nhọn và chất thải lây nhiễm bằng thiêu đốt trong lò; 42,3% nhân viên y tế thực hiện tiêu hủy chất thải giải phẫu ngay sau khi phát sinh. IV. BÀN LUẬN Kiến thức phân loại chất thải y tế đúng theo thâm niên công tác vẫn còn thấp ở cả 2 nhóm trên 10 năm và dưới 10 năm. Kết quả này của chúng tôi thấp hơn của tác giả Hoàng Thị Thúy: 53,0% nhân viên trả lời đúng về phân loại chất thải y tế và 70,5% nhân viên y tế trả lời đúng về phân loại chất thải lây nhiễm [36]. Kết quả của chúng tôi cũng thấp hơn nghiên cứu của tác giả Trần Đại Tri Hãn ở Quảng Bình, tại đây có 35,2% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng về quản lý chất thải y tế nói chung[13], Qua kết quả nghiên cứu về kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về xử lý rác thải y tế cho thấy mặc dù các nhân viên y tế đã có nhận thức cũng như thái độ tích cực về những vấn đề liên quan đến công tác xử lý rác thải y tế tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định. Thực hành của các nhân viên y tế so với kiến thức tuy có cao hơn nhưng tỷ lệ thực hành đúng vẫn chưa thật tốt, nguyên nhân là do các yếu tố chủ quan (vẫn còn hạn chế về một số kiến thức) và các yếu tố khách quan (điều kiện trang thiết bị phục vụ cho công tác xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế xã vẫn còn thiếu, còn thiếu sự hướng dẫn) tác động đã làm ảnh hưởng đến thực hành của nhân viên y tế. V. KẾT LUẬN - 28,0% là nhân viên y tế có thâm niên công tác từ dưới 10 năm; 25,4% ở nhóm có thâm niên trên 10 năm biết được chất thải y tế được chia làm 5 nhóm - 76,6% nhân viên y tế biết được túi đựng rác thải tối đa 3/4 túi, 74,9% không để lẫn chất thải y tế và chất thải thông thường - Tỷ lệ nhân viên thực hiện đúng lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy 3/4 túi chiếm 73,1%; thời gian vận chuyển về nơi lưu trữ đúng tần suất 1 lần 1 ngày và khi cần chiếm 64,0%; thời gian lưu giữ chất thải rắn y tế tối đa trước khi xử lý chiếm tỷ lệ thấp nhất 50,9%. - 56,0% và 53,7% nhân viên y tế xử lý chất thải sắc nhọn và chất thải lây nhiễm bằng thiêu đốt trong lò; 42,3% nhân viên y tế thực hiện tiêu hủy chất thải giải phẫu ngay sau khi phát sinh. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Đắc Thắng (2014), Thực trạng và kiến thức thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La năm 2014, Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Thái Bình. 2. Nguyễn Thị Thu Trang (2012), Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định và đề xuất mô hình can thiệp, Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội. 3. Phạm Thị An Vinh (2012), Thực trạng về quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên trạm y tế tại thành phố Nam Định năm 2012, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y dược Thái Bình.
File đính kèm:
kien_thuc_thuc_hanh_cua_nhan_vien_y_te_ve_quan_ly_chat_thai.pdf

