Kiến thức, thực hành của bà mẹ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại ba xã huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2017
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến
thức, thực hành của bà mẹ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe
bà mẹ trẻ em (CSSKBMTE) tại ba xã huyện Tiền Hải
năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy 90% các bà mẹ
có kiến thức đúng về các loại vắc xin trong chương trình
tiêm chủng mở rộng. Trong các loại vắc xin cần thiết phải
tiêm khi mang thai uốn ván chiếm tỷ lệ cao nhất (97%).
Các dấu hiệu bất thường khi mang thai cần đến ngay cơ
sở y tế mà bà mẹ biết là đau bụng ra máu (>90%); mất
dấu hiệu thai nghén và phù đột ngột (>70%). Về kiến
thức chăm sóc trẻ sơ sinh của các bà mẹ khá tốt: có trên
90% số bà mẹ nêu được phải lau khô, ủ ấm, chăm sóc rốn
trẻ và tiêm phòng ngay cho trẻ; 64% cho rằng cần khám
trước khi ra về.
Tất cả các bà mẹ đều đi khám thai và tỷ lệ bà mẹ đi
tiêm phòng uốn ván là 98,9%. Hầu hết các bà mẹ đều tiêm
phòng cho con trong 24 giờ đầu (99,1%) và cho con bú
ngay trong 24 giờ đầu là 92,1%. Bà mẹ có theo dõi cân
nặng của trẻ trong lần sinh gần đây nhất chiếm 98,0%
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thực hành của bà mẹ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại ba xã huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2017
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 41 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÓM TẮT Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (CSSKBMTE) tại ba xã huyện Tiền Hải năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy 90% các bà mẹ có kiến thức đúng về các loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Trong các loại vắc xin cần thiết phải tiêm khi mang thai uốn ván chiếm tỷ lệ cao nhất (97%). Các dấu hiệu bất thường khi mang thai cần đến ngay cơ sở y tế mà bà mẹ biết là đau bụng ra máu (>90%); mất dấu hiệu thai nghén và phù đột ngột (>70%). Về kiến thức chăm sóc trẻ sơ sinh của các bà mẹ khá tốt: có trên 90% số bà mẹ nêu được phải lau khô, ủ ấm, chăm sóc rốn trẻ và tiêm phòng ngay cho trẻ; 64% cho rằng cần khám trước khi ra về. Tất cả các bà mẹ đều đi khám thai và tỷ lệ bà mẹ đi tiêm phòng uốn ván là 98,9%. Hầu hết các bà mẹ đều tiêm phòng cho con trong 24 giờ đầu (99,1%) và cho con bú ngay trong 24 giờ đầu là 92,1%. Bà mẹ có theo dõi cân nặng của trẻ trong lần sinh gần đây nhất chiếm 98,0%. Từ khóa: Kiến thức, thực hành, bà mẹ trẻ em, Tiền Hải SUMMARY: KNOWLEDGE, PRACTICE OF MOTHERS ABOUT MATERNAL AND CHILD CARE SERVICES IN THREE COMMUNES IN TIEN HAI DISTRICT, THAI BINH PROVINCE IN 2017 The descriptive, cross-sectional study was implemented to assess the knowledge and practice of mothers about maternal and child care services in three communes in Tien Hai District in 2017. The results showed that the majority of mothers knew the list of vaccines used in Expanded Program on Immunization (EPI) and selected Tetanus vaccine which is the most popular vaccines specifically recommended during pregnancy (90% and 97% respectively). The signs of complications and emergencies during pregnancy chosen by mothers were abdominal pain, vaginal bleeding (above 90%) and loss of pregnancy symptoms or swelling suddenly (over 70%). Regarding take care of newborn babies, over 90% of participants knew keeping the baby clean and warm, caring for the unbilical cord and immunizating immediately; 64% of them believed that medical examination before they went home was necessary. All of mothers visited the health center during their pregnancies and 98.9% of them having immunized for tetanus. The majority of newborn babies were vaccinated and breastfed immediately in the first 24 hours (99.1% and 92.1% respectively). 98% of mothers kept track of children’s weight in their recently births. Keywords: Knowledge, Practice, mother and child, Tien Hai. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh là giải pháp đơn giản, hiệu quả với chi phí thấp làm giảm tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Để đạt hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em nói chung cũng như sức khỏe sinh sản nói riêng của bà mẹ, việc hiểu được nội dung hoạt động của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản sẽ giúp các bà mẹ có nhận thức và hành vi đúng đắn khi CSSK bà mẹ - trẻ em. Tuy nhiên có tới 44,3% bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại An Giang không theo dõi cân nặng của mình trong quá trình mang thai; 13,9% không khám thai trong suốt thai kỳ. Số bà mẹ được tiêm vacxin phòng uốn ván chiếm tỷ lệ 95,9% và 59,7% bà mẹ đã uống viên sắt bổ sung trong chế độ ăn uống [2]. Điểm kiến thức trung bình của phụ nữ tại 5 tỉnh Tây Nguyên về dấu hiệu nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai là rất thấp chỉ đạt 20 điểm, cao nhất là ở Đăk Lắk là 24,9 điểm, thấp nhất là ở Kon Tum là 15,2 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VỀ DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ TRẺ EM TẠI BA XÃ HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2017 Trần Duy Huân1, Ngô Thị Nhu2, Bùi Minh Tiến2, Đặng Thị Ngọc Anh2 Ngày nhận bài: 22/03/2018 Ngày phản biện: 31/03/2018 Ngày duyệt đăng: 06/04/2018 1. TTYT huyện Tiền Hải 2. Trường Đại học Y Dược Thái Bình SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn42 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 điểm. Đối với phụ nữ sau sinh là 18,1 điểm [5]. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh là 83,0% và 57,6%. Có 19% bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú lần đầu. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành đúng về trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 80,8% và 12,2%. Có 19,4% trẻ được ăn bổ sung sau 6 tháng tuổi và 80% trẻ ăn bổ sung sớm trước 6 tháng [8]. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu: “Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em tại ba xã huyện Tiền Hải năm 2017.” II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu - Địa điểm nghiên cứu: Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình - Đối tượng nghiên cứu: Bà mẹ có con dưới 2 tuổi đang sinh sống và làm việc tại các xã nghiên cứu tính từ thời điểm điều tra. - Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2016-5/2017. 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học dựa trên cuộc điều tra cắt ngang. 2.2.2. Kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu * Chọn mẫu: - Chọn xã: Chúng tôi chọn chủ định 3 xã thuộc 3 khu vực đại diện cho 3 vùng của huyện. - Chọn đối tượng nghiên cứu là bà mẹ có con dưới 2 tuổi: Chúng tôi tiến hành lập danh sách các bà mẹ có con dưới 2 tuổi tại 3 xã nghiên cứu, với danh sách được lập chúng tôi có là 457 đối tượng có thể tham gia điều tra, do đó chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ các bà mẹ đã được lập danh sách. * Cỡ mẫu: Chọn 3 xã đại diện cho 3 khu Đông, Nam và Tây Tiền Hải. Cỡ mẫu cho điều tra bà mẹ được tính theo công thức: Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu p là tỉ lệ người dân có kiến thức đúng về CSSK bà mẹ - trẻ em, chúng tôi chọn p=0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất q = 1 - p α: ngưỡng xác xuất thống kê chọn bằng 0,05 nên Z = 1,96 d: độ sai số mong muốn, chúng tôi chọn là 0,046 Qua tính toán cỡ mẫu của chúng tôi n= 454 và trên thực tế chúng tôi điều tra được 457 bà mẹ. 2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu Phỏng vấn kiến thức, thực hành của bà mẹ bằng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước. 2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu Các số liệu được xử lý trên phần mềm Epi info 6.04, SPSS 16.0 và phương pháp thống kê trong y học. Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả bảng 1 cho thấy kiến thức của các bà mẹ về các loại vắc xin trong chương trình TCMR chiếm tỷ lệ cao trên 90%. Bảng 1. Kiến thức đúng của bà mẹ về vắc xin trong chương trình TCMR Kiến thức vắc xin Số lượng (n = 457) Tỷ lệ(%) Phòng lao 447 97,8 Viêm gan B 453 99,1 Quinvaxem 438 95,8 Bại liệt 432 94,5 Sởi 431 94,3 Viêm não Nhật Bản 427 93,4 Uốn ván 424 92,7 n = Z2 α/2 x p(1-p) d2 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 43 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 2. Kiến thức đúng của bà mẹ về tác dụng của tiêm vắc xin khi mang thai Tác dụng của vắc xin Số lượng (n = 457) Tỷ lệ (%) Để mẹ khỏe mạnh 278 60,8 Tránh dị tật cho con 332 72,6 Phòng biến chứng trong và sau sinh 438 95,8 Tránh lây bệnh sang cho con 312 68,2 Bảng 3. Kiến thức của bà mẹ về những dấu hiệu bất thường khi mang thai cần đến ngay cơ sở y tế Kiến thức Số lượng (n = 457) Tỷ lệ (%) Ra máu âm đạo 447 97,8 Chất dịch hôi ngứa 304 66,5 Phù đột ngột 376 82,3 Đau bụng ra máu 423 92,6 Mất dấu hiệu thai nghén 351 76,8 Biểu đồ 1. Kiến thức đúng của bà mẹ tiêm vắc xin khi mang thai Biểu đồ 2. Kiến thức đúng của bà mẹ về những hoạt động trong chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình(n=457) Biểu đồ 1 trình bày kiến thức đúng của bà mẹ về các loại vắc xin cần thiết phải tiêm khi mang thai: cao nhất là uốn ván (97%); viêm gan B (72,4%); Sởi - Quai bị- Rubella, Thủy đậu và Cúm (58,6% - 62,6%). Còn trên 14,8% số bà mẹ không biết, không trả lời câu hỏi. Khi được hỏi về tác dụng của tiêm vắc xin khi mang thai: 95,8% số bà mẹ trả lời là phòng biến chứng trong và sau sinh; 72,6% cho là tránh dị tật khi sinh; 68,2% cho rằng vắc xin có tác dụng tránh lây bệnh sang cho con. Khi được hỏi về những nội dung và hoạt động trong chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, số bà mẹ trả lời biết các nội dung đúng chiếm tỷ lệ cao nhất là tư vấn sức khỏe (88,0%) và thấp nhất là phá thai (58,2%). SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn44 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3 trình bày về kiến thức của các bà mẹ về những dấu hiệu bất thường khi mang thai phải đến cơ sở y tế: trên 90% cho là khi đau bụng ra máu; trên 70% trả lời là mất dấu hiệu thai nghén và phù đột ngột. Kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ sơ sinh có trên 90% số bà mẹ nêu được phải lau khô, ủ ấm, chăm sóc rốn trẻ và tiêm phòng ngay cho trẻ; 64% cho rằng cần khám trước khi ra về. Bảng 5 trình bày kiến thức của các bà mẹ cần tư vấn sau sinh: 98,5% cho rằng cần cho bú sớm, đúng cách, hoàn toàn trong 6 tháng đầu; 93,4% giữ ấm, chăm sóc vệ sinh rốn trẻ; dinh dưỡng cho bà mẹ thời kỳ cho bú và hướng dẫn lịch tiêm chủng là 87%. Biểu đồ 3 cho thấy trong lần sinh gần nhất 100% bà mẹ đều đi khám thai và tỷ lệ bà mẹ đi tiêm phòng uốn ván là 98,9%. Bảng 4. Kiến thức của bà mẹ về cách chăm sóc trẻ sơ sinh Cách chăm sóc Số lượng (n = 457) Tỷ lệ (%) Lau khô, ủ ấm 442 96,7 Hồi sức 239 52,3 Hút nhớt 371 81,2 Chăm sóc rốn sau sinh 416 91,0 Tiêm phòng 431 94,3 Khám trước khi ra về 294 64,3 Bảng 5. Kiến thức của bà mẹ về nội dung cần tư vấn sau sinh Nội dung cần tư vấn Số lượng (n = 457) Tỷ lệ (%) Cho bú sớm, đúng cách, hoàn toàn trong 6 tháng đầu 450 98,5 Giữ ấm, vệ sinh rốn trẻ 427 93,4 Dinh dưỡng cho bà mẹ thời kỳ cho bú 398 87,1 Biến chứng sau sinh 399 87,3 Dấu hiệu bất thường cần khám và điều trị 385 84,2 Hướng dẫn lịch tiêm chủng 399 87,3 Tư vấn KHHGĐ 302 66,1 Biểu đồ 3. Tỷ lệ đối tượng đi khám thai và tiêm phòng uốn ván trong lần sinh gần nhất (n=457) SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 45 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Hầu hết các bà mẹ đều tiêm phòng cho con trong 24 giờ đầu (99,1%) và cho con bú ngay trong 24 giờ đầu là 92,1% Kết quả biểu đồ 4 cho thấy hầu hết các bà mẹ có theo dõi cân nặng của trẻ trong lần sinh gần đây nhất chiếm 98,0%. IV. BÀN LUẬN Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau khi sinh là giải pháp đơn giản, hiệu quả với chi phí thấp làm giảm tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Nghiên cứu kiến thức của bà mẹ về các loại vaccine cần thiết phải tiêm khi mang thai cho thấy cao nhất là uốn ván (97%). Điều này phù hợp với nghiên cứu của Dương Thị Quỳnh Châu [1]: 94,5% phụ nữ cho rằng cần tiêm phòng uốn ván; 91,0% biết mức độ nguy hiểm của bệnh uốn ván sơ sinh. Là vaccine duy nhất được tổ chức tiêm tại trạm y tế xã cho phụ nữ có thai nên tỷ lệ bà mẹ hiểu biết đúng về vaccine uốn ván cao nhất là phù hợp thực tế. Tuy nhiên còn 14,8% số bà mẹ không biết, không trả lời câu hỏi. Đây là điều mà cán bộ y tế cần quan tâm và tăng cường lồng ghép vào các hoạt động truyền thông về CSSKBMTE nhằm nâng cao nhận thức cũng như hành vi của phụ nữ trong việc chủ động tiêm chủng đầy đủ khi mang thai. Thai nghén là giai đoạn có thể dẫn tới những ảnh hưởng tới sức khỏe như bệnh tật, các biến chứng lâu dài, thậm chí tử vong. Hiểu biết đúng các dấu hiệu nguy hiểm sẽ giúp bà mẹ chủ động phát hiện và tìm kiếm dịch vụ hỗ trợ kịp thời đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Kết quả nghiên cứu về những dấu hiệu khi mang thai phải đến ngay cơ sở y tế cho thấy trên 97,8% cho là khi đau bụng ra máu; 82,3% phù đột ngột và 76,8% trả lời là mất dấu hiệu thai nghén (Bảng 3). Còn nhiều bà mẹ chưa có kiến thức nhận biết những dấu hiệu của nhiễm độc thai nghén như phù, đau đầu, nhìn mờ, co giật, mặc dù đây là một bệnh lý rất nguy hiểm liên quan đến thai nghén. Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thu Hà tại tỉnh Điện Biên [4], điều này có thể giải thích là do đối tượng nghiên cứu của tác giả chủ yếu là phụ nữ thuộc các nhóm dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế còn khó khăn, và một phần do phong tục nên có sự hạn chế về kiến thức khi mang thai nghén. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huy và cộng sự [6]. Như vậy ngày nhận thức của các bà mẹ về các dấu hiệu bất thường càng cao hơn. Chăm sóc sau sinh là một trong những giải pháp quan trọng để phát hiện, xử trí sớm các tai biến góp phần giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Khi nghiên cứu về kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ sơ sinh thì có trên 90% số bà mẹ biết phải lau khô, ủ ấm, chăm sóc rốn trẻ và tiêm phòng ngay cho trẻ; 64% cho rằng cần khám trước khi ra về. Bên cạnh đó khi được hỏi về vấn đề cần tư vấn sau sinh cho thấy 93,4% cần tư vấn giữ ấm, chăm sóc vệ sinh rốn trẻ; dinh dưỡng cho bà mẹ thời kỳ cho bú và hướng dẫn lịch tiêm chủng là 87%. Điều này sẽ giúp các bà mẹ chăm sóc trẻ tốt hơn giảm một phần tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh. Nuôi con bằng sữa mẹ, nhất là cho bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu là phương pháp tốt nhất đối với trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em [9]. Kết quả nghiên cứu cho thấy 92,1% bà mẹ cho trẻ bú ngay trong vòng 24 giờ đầu. Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm và cộng sự tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cho Bảng 6. Tỷ lệ đối tượng cho con tiêm phòng và cho con bú trong 24 giờ đầu trong lần sinh gần nhất (n=457) Thông tin Số lượng (n = 457) Tỷ lệ (%) Có tiêm phòng 453 99,1 Cho con bú 421 92,1 Biểu đồ 7. Tỷ lệ đối tượng có theo dõi cân nặng cho trẻ trong lần sinh gần nhất (n=457) SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn46 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 thấy tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ bú sớm sau sinh trong 1 vòng giờ đầu là 75,7% [7]. Thời kỳ trẻ bắt đầu ăn bổ sung là thời kỳ trẻ có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng. Do đó việc theo dõi cân nặng của trẻ rất quan trọng giúp các bà mẹ có thể theo dõi sự phát triển của con mình. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Đạo về tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại vùng dân tộc thiểu số thuộc huyện Bắc Trà My cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 36,5% trong đó 28,3% là độ I; 6,8% là độ II; 1,4% là độ II. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 62,8% trong đó 43,0% độ I; 19,8% là độ II. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm là 8,4% [3]. Kết quả biểu đồ 4 cho thấy hầu hết các bà mẹ có theo dõi cân nặng của trẻ trong lần sinh gần đây nhất chiếm 98,0%. V. KẾT LUẬN - Hầu hết (90%) các bà mẹ có kiến thức đúng về các loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. - Kiến thức đúng của bà mẹ về các loại vắc xin cần thiết phải tiêm khi mang thai: cao nhất là Uốn ván (97%); Viêm gan B (69,4% - 76,4%); Sởi - Quai bị - Rubella (56,2% - 76,4%). - 90% bà mẹ cho là khi đau bụng ra máu khi mang thai phải đến cơ sở y tế ; trên 70% trả lời là mất dấu hiệu thai nghén và phù đột ngột. - Về kiến thức chăm sóc trẻ sơ sinh của các bà mẹ khá tốt: có trên 90% số bà mẹ nêu được phải lau khô, ủ ấm, chăm sóc rốn trẻ và tiêm phòng ngay cho trẻ; 64% cho rằng cần khám trước khi ra về. - 100% bà mẹ đều đi khám thai và tỷ lệ bà mẹ đi tiêm phòng uốn ván là 98,9%. - Hầu hết các bà mẹ đều tiêm phòng cho con trong 24 giờ đầu (99,1%) và cho con bú ngay trong 24 giờ đầu là 92,1%. Số bà mẹ có theo dõi cân nặng của trẻ trong lần sinh gần đây nhất chiếm 98,0%. 1. Dương Thị Quỳnh Châu (2014), Thực trạng hoạt động của cán bộ y tế và kiến thức thực hành phòng bệnh uốn ván sơ sinh của phụ nữ có thai tại 4 xã huyện Điện Biên, Luận án Bác sỹ Chuyên khoa cấp 2, Trường Đại học Y Dược Thái Bình. 2. Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Văn Lành (2016), “Kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, năm 2013”, Tạp chí Y học Dự phòng, số 1 (174), tr.117 3. Đinh Đạo (2014), Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện bắc Trà My tỉnh Quảng Nam, Luận án Tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Huế. 4. Ngô Thị Thu Hà (2013), Kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em của phụ nữ từ 15-19 tuổi đang nuôi con dưới 3 tuổi tại tỉnh Điện Biên năm 2012, Luận văn thạc sỹ Y tế Công tế Công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình. 5. Nguyễn Minh Hưng, Trịnh Thanh Hùng, Nguyễn Văn Ba và cộng sự (2016), “Thực trạng trang thiết bị của trạm y tế xã và kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ-trẻ em tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên năm 2014-2015”, Tạp chí Y học Cộng đồng, số 31, tr.40-43. 6. Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Văn Tiến (2016), “Nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại trạm y tế xã ở một số tỉnh Việt Nam năm 2014”, Tạp chí Y học Dự phòng, số 4(177), tr.161. 7. Nguyễn Thị Tâm, Văn Hiến Tài (2015), “Nghiên cứu tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2012”, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2014, tr.5-13. 8. Nguyễn Anh Vũ, Lê Thị Hương, Phạm Thị Thúy Hòa và cộng sự (2013), “Kiến thức và thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 12 - 24 tháng tuổi tại huyện Tiên Lữ năm 2011”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, số 82 (2), tr.148-154. 9. Oddy WH (2017), “Breastfeeding, Childhood Asthma, and Allergic Disease”, Ann Nutr Metab, vol 70, pp.26-36. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
kien_thuc_thuc_hanh_cua_ba_me_ve_dich_vu_cham_soc_suc_khoe_b.pdf

