Kiến thức, thái độ về covid-19 của sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm thứ sáu tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu: Sinh viên y đa khoa là nguồn lực quan trọng trong việc hỗ trợ công tác phòng chống đại dịch do

chủng mới Coronavirus (COVID-19). Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức, và thái độ về

COVID-19 của sinh viên y đa khoa hai năm cuối.

Đối tượng-phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 589 sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm

thứ sáu tại Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 đến tháng 8/2020. Số liệu được thu thập bằng bộ

câu hỏi soạn sẵn.

Kết quả: Có 589 (68.3%) sinh viên tham gia khảo sát trong tổng số 863 sinh viên y đa khoa hai năm cuối.

Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng là 43,1% và thái độ tích cực là 67,6%. Có sự khác biệt về kiến thức giữa sinh

viên năm năm và năm sáu (PR 1,29 KTC 95%:1,1-1,6). Sinh viên nữ có thái độ tích cực hơn sinh viên nam (PR

1,3 KTC 95%:1,0-1,6). Kiến thức có mối liên quan với thái độ (PR 1,42 KTC:1,1-1,8). Hầu hết sinh viên biết các

thông tin về COVID-19 qua mạng xã hội (88,3%).

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ về covid-19 của sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm thứ sáu tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thái độ về covid-19 của sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm thứ sáu tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Kiến thức, thái độ về covid-19 của sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm thứ sáu tại Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 185 
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ COVID-19 CỦA SINH VIÊN Y ĐA KHOA NĂM 
THỨ NĂM VÀ NĂM THỨ SÁU TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC 
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
Đào Thị Ngọc Huyền1, Phạm Kim Oanh2, Huỳnh Giao2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Sinh viên y đa khoa là nguồn lực quan trọng trong việc hỗ trợ công tác phòng chống đại dịch do 
chủng mới Coronavirus (COVID-19). Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức, và thái độ về 
COVID-19 của sinh viên y đa khoa hai năm cuối. 
Đối tượng-phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 589 sinh viên y đa khoa năm thứ năm và năm 
thứ sáu tại Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 đến tháng 8/2020. Số liệu được thu thập bằng bộ 
câu hỏi soạn sẵn. 
Kết quả: Có 589 (68.3%) sinh viên tham gia khảo sát trong tổng số 863 sinh viên y đa khoa hai năm cuối. 
Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng là 43,1% và thái độ tích cực là 67,6%. Có sự khác biệt về kiến thức giữa sinh 
viên năm năm và năm sáu (PR 1,29 KTC 95%:1,1-1,6). Sinh viên nữ có thái độ tích cực hơn sinh viên nam (PR 
1,3 KTC 95%:1,0-1,6). Kiến thức có mối liên quan với thái độ (PR 1,42 KTC:1,1-1,8). Hầu hết sinh viên biết các 
thông tin về COVID-19 qua mạng xã hội (88,3%). 
Kết luận: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng và thái độ tích cực về COVID-19 tương đối thấp. Do đó, các 
chương trình giáo dục sức khoẻ cho sinh viên cần được củng cố và thúc đẩy. Trong đó, tập trung truyền thông 
qua mạng xã hội, và khuyến khích sinh viên truy cập các nguồn thông tin chính thống từ Bộ Y tế và báo khoa học. 
Từ khoá: kiến thức, thái độ, COVID-19, sinh viên y đa khoa 
ABSTRACT 
KNOWLEDGE AND ATTITUDES TOWARD COVID-19 AMONG THE FIFTH AND SIXTH YEAR 
MEDICAL STUDENTS OF UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY HO CHI MINH CITY 
Dao Thi Ngoc Huyen, Pham Kim Oanh, Huynh Giao 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1- 2021: 185 - 191 
Objectives: The medical students has been, is and will an important resource in the fight against the 
pandemic of coronavirus disease 19 (COVID-19). Therefore, we conduct assessment the knowledge and attitude 
toward COVID-19 of the final-year medical students at University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh 
City. with 
Methods: A cross-sectional study with 589 medical students was carried out between May and August 
2020. Data were collected by interviewing strategy of a structured questionnaire. 
Results: Of 863 final-years medical students, 589 was enrolled in this study (68.3%). The rate of sufficient 
knowledge, and positive attitude was 43.1%, and 67.6%, respectively. There is significant difference about 
knowledge between the fifth-year and sixth-year medical students (PR 1.29 CI 95%: 1.1-1.6). The attitude of 
female students was higher than male students (PR 1.3 CI 95%: 1.0-1.6). The knowledge and attitude were 
significantly related (PR 1.42 CI 1.1-1.8). Most of students (88.3%) knew the information regarding the COVID-
19 through the social networks. 
1Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 2Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Đào Thị Ngọc Huyền ĐT: 0902845707 Email: [email protected] 
*Bộ môn Chẩn Đoán Hình Ảnh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 186 
Conclusion: Among final-years medical students, there is an existence of insufficient knowledge and 
attitude. The health education programs for students should be encouraged and expanded including washing the 
hands, and wearing the protective personal equipment. Besides, it is crucially to focus on the social networks, and 
promote students access the reliable information of Ministry of Health and research articles. 
Keywords: knowledge, attitude, COVID-19, medical student 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới 
vi rút corona (SARS-CoV-2) được gọi là COVID-
19, xuất hiện đầu tiên từ cuối năm 2019 tại thành 
phố Vũ Hán - Trung Quốc đã và đang ảnh 
hưởng nghiêm trọng đến hơn 200 quốc gia và 
các vùng lãnh thổ khác trên toàn thế giới. SARS-
CoV-2 có nguồn gốc từ động vật, là một chủng 
hoàn toàn mới chưa xác định nhưng có khả năng 
lây lan từ người sang người qua cơ chế giọt bắn 
và trực tiếp(1,2). Dựa trên bằng chứng tăng nhanh 
số ca mắc bệnh và khả năng lây truyền bởi 
những người không có triệu chứng, SARS-CoV-
2 trở thành mối nguy hại cao và, lây truyền rất 
nhanh và đe doạ cộng đồng. Theo nghiên cứu, 
khoảng 80% số bệnh nhân mắc COVID-19 có 
biểu hiện nhẹ và thường tự hồi phục sau 1 tuần, 
14% tiến triển đến viêm phổi và hơn 4% diễn 
tiến nặng gây suy hô hấp, suy đa cơ quan, cần 
phải chăm sóc tích cực(2). Dù tỷ lệ tử vong thấp 
từ 1,4 – 6,5% theo nhiều nghiên cứu nhưng với 
tốc độ lây nhiễm cao và số ca mắc tăng rất nhanh 
dẫn đến sự quá tải của hệ thống y tế(3). Ngoài ra, 
COVID-19 vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu 
hay vắc xin dự phòng, do đó các biện pháp 
phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa dựa theo 
đường lây (rửa tay bằng xà phòng và nước, đeo 
khẩu trang), cách ly ca bệnh, truy vết tiếp xúc 
là những biện pháp then chốt giúp thế giới vuợt 
qua đại dịch này. Nhân viên y tế là đối tượng có 
nguy cơ nhiễm bệnh cao và có thể trở thành 
nguồn lây cho đồng nghiệp, bệnh nhân và cộng 
đồng. Số lượng người bệnh tăng nhanh, dẫn đến 
sự quá tải của hệ thống y tế, thiếu trang thiết bị 
và thiếu nguồn nhân lực. Sinh viên y khoa là 
nhóm đối tượng cần thiết để hỗ trợ công tác 
chống dịch. Do đó kiến thức, thái độ của sinh 
viên y Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
(TP. HCM) là yếu tố rất quan trọng. Hiện nay, 
trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên 
cứu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về 
COVID-19 trên nhiều đối tượng khác nhau 
nhưng chủ yếu là người dân và nhân viên y tế, 
rất ít nghiên cứu trên đối tượng là sinh viên y 
khoa. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này 
nhằm đánh giá kiến thức và thái độ của sinh 
viên ngành y đa khoa hai năm cuối Đại học Y 
dược TPHCM về dịch bệnh mới nổi này. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8/2020 
trên 589 sinh viên y đa khoa năm thứ năm và 
năm thứ sáu đang theo học tại Đại học Y Dược 
Thành phố Hồ Chí Minh niên khóa 2019-2020. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Kĩ thuật chọn mẫu 
Chọn mẫu thuận tiện 
Thu thập số liệu 
Đối tượng điền vào bộ câu hỏi được thiết kế 
dựa trên hướng dẫn của WHO về COVID-19(4). 
Bộ câu hỏi được nghiên cứu thử trên 10 sinh viên 
để hiệu chỉnh cho phù hợp. Gồm 2 phần: thông 
tin về đặc điểm dân số – xã hội của đối tượng 
nghiên cứu và đánh giá kiến thức và thái độ bao 
gồm 7 nội dung kiến thức và 8 câu hỏi về thái độ 
đối với COVID-19 sử dụng thang đo Likert gồm 
5 mức độ từ hoàn toàn đồng ý đến hoàn toàn 
không đồng ý. 
Định nghĩa các biến số 
Mỗi câu hỏi kiến thức được đánh giá đúng 
và không đúng. Sử dụng ngưỡng cắt Bloom theo 
nghiên cứu của tác giả Nahida để xác định kiến 
thức chung đúng(5). Kiến thức chung về COVID-
19 đúng khi trả lời đúng ít nhất 75% của 7 phần 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 187 
kiến thức (5 trên 7 phần). Đánh giá thái độ, mỗi 
câu trả lời hoàn toàn đồng ý và đồng ý được cho 
1 điểm, điểm cắt ≥ 6 được xem là thái độ chung 
tích cực. 
Xử lý số liệu 
Nhập liệu bằng phần mềm Excel 2015, phân 
tích số liệu bằng phần mềm Stata 14. Thống kê 
mô tả tính tần số và tỷ lệ các biến số đặc điểm xã 
hội của đối tượng (năm học, giới tính), nguồn 
kiến thức về COVID-19, kiến thức đúng và thái 
độ tích cực. Phép kiểm Chi bình phương hoặc 
phép kiểm chính xác Fisher (khi có lớn hơn 20% 
số ô có giá trị vọng trị nhỏ hơn 5 hoặc có 1 ô có 
giá trị vọng trị nhỏ hơn 1) để xác định mối liên 
quan giữa đặc điểm dân số xã hội (giới tính, năm 
học) với kiến thức chung đúng, thái độ chung tốt 
về COVID-19 và mối quan hệ giữa kiến thức và 
thái độ về COVID-19. Sử dụng chỉ số lượng giá 
mức độ liên quan bằng số đo tỷ số tỷ lệ hiện mắc 
PR (Prevalence Ratio) và khoảng tin cậy 95%. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh 
viện Bệnh Nhiệt Đới, số 162/HĐĐĐ, ngày 
26/02/2020. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm dân số-xã hội của đối tượng nghiên 
cứu (NC) 
Bảng 1: Đặc điểm dân số - xã hội của đối tượng 
nghiên cứu (n=589) 
Đặc điểm n (%) 
Giới tính (Nam) 351 (59,6) 
Năm học 
Năm thứ năm 271 (46,0) 
Năm thứ sáu 318 (54,0) 
Nguồn thông tin về Covid-19 
Báo phổ thông (Tuổi trẻ, Thanh niên, Dân 
Trí,) 
411 (69,8) 
Mạng xã hội (Facebook, Instagram, Twitter,) 520 (88,3) 
Báo/Tạp chí/Website (Tạp chí y học, Pubmed, 
Lancet, Nature,) 
325 (55,2) 
Tivi 389 (66,0) 
Radio 58 (9,9) 
Hàng xóm, bạn bè 231 (39,2) 
Khác 3 (0,5) 
Trong nghiên cứu, nam giới nhiều hơn nữ 
giới với tỷ lệ 59,6%. Tỷ lệ sinh viên năm thứ sáu 
cao hơn (54%). Hầu hết các đối tượng có kiến 
thức về COVID-19 thông qua mạng xã hội 
(88,3%). Tỷ lệ sinh viên tiếp xúc với báo/tạp 
chí/website khoa học là 55,2%. Nguồn khác được 
sinh viên ghi nhận là từ bộ môn Nhiễm khi đi 
thực tập lâm sàng. 
Kiến thức, thái độ về COVID-19 
Bảng 2: Kiến thức về COVID-19 (n=589) 
Nội dung n (%) 
Tác nhân gây COVID-19 (Đúng) 311 (52,8) 
Đường lây truyền COVID-19 (Đúng) 445 (75,6) 
Sàng lọc đối tượng có nguy cơ cao mắc 
COVID-19 (Đúng) 
350 (59,4) 
Biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm tác nhân 
gây COVID-19 (Đúng) 
540 (91,7) 
Đeo khẩu trang đúng cách 589 (100) 
Vệ sinh tay đúng cách 588 (99,8) 
Tránh chạm tay vào mắt, mũi, miệng 583 (99,0) 
Tránh đi đến nơi đông người 582 (98,8) 
Không dùng thuốc kháng sinh 549 (93,2) 
Không tiêm vắc xin cúm mùa 499 (84,7) 
Không ăn tỏi 484 (88,2) 
Lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị COVID-19 
(Đúng) 
364 (61,8) 
Triệu chứng (sốt, ho, khó thở, có thể mắc bệnh 
mà không có triệu chứng) 
539 (91,5) 
Không giống như cảm cúm, triệu chứng sổ mũi 
thường ít gặp hơn ở bệnh nhân COVID-19 
402 (68,3) 
Xét nghiệm chẩn đoán xác định COVID-19 là 
Realtime RT-PCR 
223 (37,9) 
Kiểm soát nhiễm khuẩn (Đúng) 212 (36,0) 
Cách lấy mẫu, vận chuyển bệnh phẩm 367 (62,3) 
Trình tự mặc PPE 205 (34,8) 
Trình tự tháo PPE 154 (26,2) 
Truyền thông, giáo dục sức khoẻ (Đúng) 300 (50,9) 
Rửa tay đúng cách 544 (92,4) 
Đeo khẩu trang đúng cách 374 (63,5) 
Hướng dẫn người có triệu chứng ho cần làm 
gì 
457 (77,6) 
Kiến thức chung (đúng) 254 (43,1) 
Bảng 3: Thái độ về COVID-19 (n=589) 
Nội dung n (%) 
Tôi sẽ lo sợ khi biết 1 thành viên trong gia đình 
mắc bệnh (Có) 
332 (56,4) 
Tôi sợ đi đến những nơi công cộng (rạp chiếu 
phim, nhà hàng, khu mua sắm,) trong tình hình 
này (Có) 
269 (45,7) 
Tôi có thể sẽ nhiễm SARS-CoV-2 nếu tôi tiếp xúc 
với người bị nhiễm mặc dù tôi khoẻ mạnh (Có) 
479 (81,3) 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 188 
Nội dung n (%) 
Sự lây truyền SARS-CoV-2 có thể được ngăn 
ngừa bằng việc rửa tay với xà phòng thường 
xuyên (Có) 
468 (79,5) 
Tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 có thể giảm nếu 
NVYT/sinh viên y khoa chủ động tuân thủ các 
phương pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn trong 
bệnh viện (Có) 
497 (84,4) 
Nếu COVID-19 có vắc-xin, tôi sẽ tiêm ngừa (Có) 412 (70,0) 
Tôi sẵn sàng tham gia công tác phòng chống 
dịch COVID-19 khi cần thiết (Có) 
393 (66,7) 
Tôi cập nhật thông tin về COVID-19 (Có) 490 (83,2) 
Thái độ chung (tích cực) 398 (67,6) 
Kết quả cho thấy có 67,6% đối tượng nghiên 
cứu có thái độ chung tích cực về COVID-19. Có 
56,4% sinh viên sẽ lo lắng khi biết một thành 
viên trong gia đình họ bị nhiễm bệnh. Bên cạnh 
đó, có 83,2% sinh viên cho biết họ cập nhật thông 
tin về COVID-19. Ngoài ra, khi được hỏi về việc 
có tham gia vào công tác chống dịch nếu được 
kêu gọi, có 66,7% sinh viên cho biết rằng đồng ý 
sẵn sàng tham gia. 
Mối liên quan giữa đặc điểm nghiên cứu với 
kiến thức chung và thái độ chung về COVID-
19 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
kiến thức chung đúng, thái độ tích cực với thực 
hành phòng ngừa COVID-19, với p <0,05. 
Có mối liên quan giữa năm học với kiến thức 
chung về COVID-19. Theo đó, sinh viên y đa 
khoa năm thứ sáu có kiến thức chung đúng 
nhiều hơn 1,29 lần sinh viên y đa khoa năm thứ 
năm (PR=1,3; KTC 1,1-1,6; p <0,05). Kết quả cho 
thấy sự khác biệt giữa giới tính với kiến thức 
chung đúng không có ý nghĩa thống kê. 
Bảng 4: Mối liên quan giữa đặc điểm đối tượng với kiến thức chung về COVID-19 (n=589) 
Đặc điểm 
Kiến thức 
p* 
PR 
KTC 95% Đúng n (%) Không đúng n (%) 
Giới tính 
Nữ 104 (43,7) 134 (56,3) 
0,817 1,0 (0,9-1,2) 
Nam 150 (42,7) 201 (57,3) 
Năm học 
Năm thứ sáu 153 (48,1) 165 (51,9) 
0,008 1,3 (1,1-1,6) 
Năm thứ năm 101 (37,3) 170 (62,7) 
*Chi bình phương 
Bảng 5: Mối liên quan giữa đặc điểm đối tượng với thái độ về COVID-19 (n=589) 
Đặc điểm 
Thái độ 
p* 
PR 
KTC 95% Tích cực n (%) Tiêu cực n (%) 
Giới tính 
Nữ 174 (73,1) 64 (26,9) 
0,018 1,3 (1,0-1,6) 
Nam 124 (63,8) 127 (36,2) 
Năm học 
Năm thứ sáu 204 (64,2) 114 (35,8) 
0,055 0,9 (0,7-1,0) 
Năm thứ năm 194 (71,6) 77 (28,4) 
*Chi bình phương 
Bảng 6: Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về 
COVID-19 (n=589) 
Đặc điểm 
Thái độ 
p* 
PR 
KTC 95% 
Tích cực 
n (%) 
Tiêu cực 
n (%) 
Kiến thức 
Đúng 190 (74,8) 64 (25,2) 
0,001 1,4 (1,1-1,8) 
Không đúng 208 (62,1) 127 (37,9) 
*Chi bình phương 
Giới tính với thái độ chung về COVID-19 có 
mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Sinh viên nữ 
có thái độ chung tích cực cao hơn gấp 1,30 lần 
sinh viên nam (PR=1,3; KTC 1,0-1,6; p <0,05). Sự 
khác biệt giữa năm học và thái độ chung về 
COVID-19 không có ý nghĩa thống kê. 
Sinh viên có kiến thức chung đúng về 
COVID-19 có thái độ tích cực cao gấp 1,42 lần 
sinh viên có kiến thức chung không đúng và mối 
liên quan có ý nghĩa thống kê (PR=1,4; KTC 1,1-
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 189 
1,8; p <0,05). 
BÀN LUẬN 
Nghiên cứu đã đánh giá kiến thức, thái độ về 
COVID-19 trên sinh viên y đa khoa hai năm học 
cuối đang theo học tại Đại học Y Dược TP. HCM 
trong giai đoạn đầu sau khi thực hiện dãn cách 
xã hội. Qua khảo sát 589 sinh viên cho thấy tỷ lệ 
nam sinh viên chiếm nhiều hơn nữ với 59,6%, 
Sinh viên năm thứ sáu chiếm tỷ lệ 54%, trong khi 
đó sinh viên năm thứ năm chiếm tỷ lệ 46%. Kết 
quả nghiên cứu cho thấy sinh viên biết về 
COVID-19 nhiều nhất thông qua mạng xã hội 
với tỷ lệ 88,3% (Bảng 1). Kết quả này tương đồng 
với nghiên cứu trên đối tượng là nhân viên y tế 
(NVYT) của tác giả Huỳnh Giao, của tác giả 
Saqlain M tại Pakista(6,7). Qua đây có thể thấy 
được việc cung cấp thông tin qua mạng xã hội 
rất phổ biến và cần thiết trong tình hình hiện 
nay. Phát hiện này giúp cho các đại học đào tạo 
y khoa nên đa dạng hoá các nguồn cung cấp 
kiến thức và tài liệu học tập cho sinh viên về 
COVID-19. Nguồn thông tin khoa học từ báo/tạp 
chí/website khoa học chiếm tỷ lệ 55,2%, thấp hơn 
so với nghiên cứu của Khasawneh AI (64,1%)(8). 
Đây là một thách thức trong quá trình hội nhập 
với nền khoa học của thế giới, các đại học y nên 
chú trọng khuyến khích sinh viên biết cách sử 
dụng nguồn tài liệu chính thống này. 
Về kiến thức về tác nhân gây bệnh, tỷ lệ sinh 
viên trả lời đúng thấp. Tỷ lệ này thấp hơn so với 
nghiên cứu sinh viên y tại Iran (55,3% so với 
85,4%), trên NVYT tại Saudi Arabia (53,3% so 
với 96,4%)(9,10). Kết quả này có thể giải thích do 
đây là một vi rút mới, sinh viên chưa được học 
trong chương trình đào tạo. Sinh viên có kiến 
thức đúng về đường lây truyền là 75,6% (Bảng 
2). Một số lượng lớn sinh viên y khoa vẫn còn có 
sự nhầm lẫn giữa đường lây qua không khí và 
giọt bắn, trong đó đường kính các hạt lớn hơn 5 - 
10 micromet được gọi là giọt bắn, và khi đường 
kính nhỏ hơn 5 micromet được gọi là lây truyền 
qua đường không khí. 
Về biện pháp phòng ngừa, tất cả 100% sinh 
viên đồng ý rằng đeo khẩu trang đúng cách là 
một biện pháp phòng ngừa nhiễm SARS-CoV-2 
cao hơn so với nghiên cứu trên sinh viên 3 năm 
cuối tại Iran là 85,5% hay 19,3% ở nghiên cứu 
của Khasawneh AI(8,10). Điều này có thể giải thích 
là do quan niệm và văn hoá giữa các vùng, các 
quốc gia và các khuyến cáo khác nhau về lợi ích 
của khẩu trang trong cuộc chiến chống COVID-
19. Ngoài ra, có đến 93,2% sinh viên biết rằng 
uống thuốc kháng sinh không là một biện pháp 
phòng ngừa, tuy nhiên vẫn còn số ít còn lại đã 
sai lầm rằng uống thuốc kháng sinh sẽ giúp bảo 
vệ họ khỏi bị nhiễm vi rút. Kết quả này cho thấy 
sự không nhận thức về các loại thuốc cụ thể. Do 
đó, cần phải có kiến thức chính xác về điều trị để 
hạn chế lạm dụng kháng sinh vì sự xuất hiện của 
các sinh vật đa kháng thuốc là mối lo ngại toàn 
cầu(11). 
Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về lâm 
sàng, cận lâm sàng và điều trị không cao (55,7%) 
(Bảng 2). Kiến thức này thấp có thể là do chỉ có 
37,9% sinh viên biết chỉ có xét nghiệm RT-PCR là 
xét nghiệm để chẩn đoán xác định COVID-19. 
Sinh viên có kiến thức đúng về triệu chứng của 
COVID-19 là 91,5%. Để trả lời đúng câu hỏi này, 
sinh viên cần chọn đúng cả bốn đáp án là sốt, ho 
khan, khó thở và có thể nhiễm mà không có bất 
kì triệu chứng nào. Chúng tôi chọn ngưỡng cắt 
này là vì theo các nghiên cứu, sốt, ho khan và 
khó thở là ba triệu chứng chính của COVID-19(2). 
Phát hiện này cho thấy sinh viên còn ít hiểu biết 
về các triệu chứng ít gặp của COVID-19, do đó 
cần tổ chức thêm các khoá học và sinh viên cần 
đọc thêm các nguồn tài liệu khoa học tin cậy. Có 
68,3% sinh viên nhận diện đúng rằng triệu 
chứng sổ mũi thường ít gặp hơn ở bệnh nhân 
COVID-19 so với cảm cúm, ít hơn nghiên cứu 
trên người dân Saudi Arabia (70,3%)(12). Việc 
nhầm lẫn các triệu chứng của COVID-19 với cảm 
lạnh thông thường có thể là một thách thức 
trong thực hành chẩn đoán và điều trị sớm 
COVID-19. 
Về kiểm soát nhiễm khuẩn, tỷ lệ sinh viên trả 
lời đúng thứ tự mặc và tháo PPE khá thấp 
(34,8% và 26,2%). Cần thiết phải cải thiện vì sinh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 190 
viên y khoa năm cuối là lực lượng tham gia 
phòng chống dịch nếu dịch bùng phát nên cần 
xây dựng phương pháp đào tạo về thực hành 
mặc đồ bảo hộ đúng cách và cần nắm rõ những 
ý nghĩa, nguyên tắc để việc thực hành có hiệu 
quả hơn. Về sàng lọc đối tượng có nguy cơ cao, 
số sinh viên trả lời đúng tất cả 6 trường hợp sàng 
lọc đối tượng nguy cơ nhiễm COVID-19 là 
59,4%. Nếu sinh viên y khoa năm cuối có thể 
tham gia vào công tác chống dịch thì đây là công 
việc mà sinh viên có thể tham gia được nên cần 
có những can thiệp giáo dục để giúp sinh viên 
cải thiện kiến thức này. 
Có 50,9% sinh viên có kiến thức đúng về 
truyền thông- giáo dục sức khoẻ. Trong đó, có 
77,6% sinh viên hướng dẫn người có triệu chứng 
ho cần đeo khẩu trang y tế thông thường và ho 
vào khăn giấy hoặc khuỷu tay. Tỷ lệ sinh viên 
trả lời đúng cách rửa tay là 92,4%, tỷ lệ này cao 
hơn sinh viên y khoa ở Mumbai (52,5%)(13). Nhìn 
chung tỷ lệ sinh viên trả lời đúng các kiến thức 
về rửa tay khá cao. Kiến thức chung đúng khi 
sinh viên trả lời đúng ít nhất 5 trên 7 nội dung 
được đề cập. Bảng 2 cho thấy tỷ lệ sinh viên có 
kiến thức chung về COVID-19 tương đối thấp 
(43,1%). Thông qua nghiên cứu, chúng tôi hy 
vọng sẽ cung cấp cho các trường đại học, và 
bệnh viện về những thiếu sót trong kiến thức 
của sinh viên (kiểm soát nhiễm khuẩn, giáo dục 
sức khoẻ, sàng lọc đối tượng nguy cơ) để bổ 
sung ngay và nhắc lại kiến thức trước khi sinh 
viên cùng tham gia công tác chống dịch. Bên 
cạnh đó, cần có những can thiệp giáo dục 
thường xuyên. 
Bảng 3 cho thấy có 67,6% sinh viên có thái độ 
chung tích cực đối với đại dịch COVID-19. Có 
84,4% sinh viên đồng ý rằng mức độ lan rộng 
của COVID-19 có thể giảm nếu NVYT chủ động 
tuân thủ các biện pháp ngừa nhiễm khuẩn bệnh 
viện. Ngoài ra, chỉ có 79,5% sinh viên đồng ý 
rằng rửa tay thường xuyên có thể ngăn ngừa 
được sự lây truyền vi rút. Thực hành là cách mà 
một người thể hiện kiến thức và thái độ qua 
hành động. Kết quả này cho thấy thái độ về rửa 
tay và các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn 
cần được cải thiện để có thể nâng cao thực hành. 
Có 81,3% dân số nghiên cứu đồng ý rằng họ có 
thể nhiễm vi rút này mặc dù họ khoẻ mạnh. Sinh 
viên y khoa, đặc biệt sinh viên giai đoạn thực tập 
lâm sàng (năm ba đến năm sáu) là một đối 
tượng có nguy cơ cao nhiễm vi rút do phải đi 
thực tập tại bệnh viện, tiếp xúc nhiều với người 
bệnh. Do đó, họ không được chủ quan, mà cần 
tiếp tục theo dõi các chính sách của nhà nước và 
thực hiện nghiêm túc việc tránh tụ tập nơi đông 
người và các biện pháp phòng ngừa khác để hạn 
chế lây nhiễm. Ngoài ra, có 66,7% sinh viên tình 
nguyện tham gia vào công tác phòng chống dịch 
khi được kêu gọi. Tỷ lệ này thấp hơn (66,6% so 
với 97,9%) so với tỷ lệ trên NVYT tại bệnh viện 
Quận 2 của tác giả Huỳnh Giao(6). Điều này có 
thể giải thích là do sinh viên chưa tự tin đối mặt 
với dịch bệnh như NVYT đã ra trường và làm 
lâm sàng tại bệnh viện. Do đó, cần thiết có các 
chương trình tập huấn về các rủi ro và chiến 
lược phòng bệnh cho NVYT vì sẽ giúp cải thiện 
sự tự tin của sinh viên y khoa và NVYT trong 
việc tham gia vào công tác chống dịch. 
Sinh viên năm thứ sáu có kiến thức chung 
cao hơn 1,29 lần sinh viên năm thứ năm (p <0,05) 
(Bảng 4). Có mối liên quan giữa thái độ chung 
tích cực và giới tính. Sinh viên nữ có thái độ 
chung tích cực gấp 1,30 lần sinh viên nam (bảng 
5). Kết quả này tương đồng với kết quả trên sinh 
viên y khoa tại Uganda(14). Sinh viên có kiến thức 
chung đúng thì thái độ tích cực về COVID-19 
cao hơn gấp 1,42 lần sinh viên có kiến thức 
chung không đúng và có ý nghĩa thống kê (Bảng 
6). Mối quan hệ giữa kiến thức đúng và thái độ 
tích cực về COVID-19 cũng được ghi nhận trong 
một số nghiên cứu(15,16). Một người có ý định với 
một hành vi cụ thể có thể được dự đoán bằng 
thái độ của người đó đối với hành vi đó. Dựa 
trên mối liên hệ tích cực đáng kể giữa kiến thức 
và thái độ trong nghiên cứu của chúng tôi, các 
chương trình giáo dục sức khỏe, đặc biệt nên 
quan tâm nhiều vào các cá nhân có kiến thức 
kém hơn. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 191 
KẾT LUẬN 
Tỷ lệ sinh viên có kiến thức chung đúng và 
thái độ chung tích cực còn chưa cao. Sinh viên 
năm thứ sáu có kiến thức chung tốt hơn sinh 
viên năm thứ năm. Trong bối cảnh sinh viên y 
khoa hai năm cuối sẽ là đối tương tham gia 
phòng chống dịch nếu dịch bùng phát nên cần 
chú trọng vào thực hành (rửa tay, mặc đồ bảo 
hộ), nhận biết các triệu chứng của COVID-19 
và nhận diện đối tượng nguy cơ cao. Ngoài ra 
còn nên áp dụng kênh truyền thông rộng rãi 
như mạng xã hội. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Chang D, Lin M, Wei L, Xie L (2020). Epidemiologic and 
Clinical Characteristics of Novel Coronavirus Infections 
Involving 13 Patients Outside Wuhan, China. JAMA, 
323(11):1092-1093. 
2. Huang C, Wang Y, Li X, Ren L, Zhao J (2020). Clinical features 
of patients infected with 2019 novel coronavirus in Wuhan, 
China. Lancet, 395(10223):497-506. 
3. Liu Y, Gayle AA, Wilder-Smith A, Rocklöv J (2020). The 
reproductive number of COVID-19 is higher compared to SARS 
coronavirus. J Travel Med, 27(2):taaa021. 
4. WHO (2020). Coronavirus disease 2019 (COVID-19) 2020. URL: 
hps://www.who.int/emergencies/diseases/novel-coronavirus-
2019, truy cập ngày 16/11/2020. 
5. Kaliyaperumal K (2004). Guideline for conducting a knowledge, 
attitude and practice (KAP) study. AECS Illumination, 4(1):7-9. 
6. Huỳnh Giao, Nguyễn Thị Ngọc Hân, Võ Kim Ngân, Phạm Lê 
An (2020). Knowledge and attitude toward COVID-19 among 
healthcare workers at District 2 Hospital, Ho Chi Minh City. 
Asian Pacific Journal of Tropical Medicine, 13(6):260. 
7. Saqlain M, Munir MM, Rehman SU, Gulzar A (2020). 
Knowledge, attitude, practice and perceived barriers among 
healthcare professionals regarding COVID-19: A Cross-sectional 
survey from Pakistan. J Hosp Infect, 105(3):419-423. 
8. Khasawneh AI, Humeidan AA, Alsulaiman JW, Bloukh S 
(2020). Medical Students and COVID-19: Knowledge, Attitudes, 
and Precautionary Measures. A Descriptive Study From Jordan. 
Front Public Health, 8:253. 
9. Al Sulayyim Hadi J, Al-Noaemi Mohammed Chyad, Rajab 
Saleh M, Daghriri Hassan A (2020). An Assessment of 
Healthcare Workers Knowledge about COVID-19. Open Journal 
of Epidemiology, 10(03):220. 
10. Taghrir MH, Borazjani R, Shiraly R (2020). COVID-19 and 
Iranian Medical Students; A Survey on Their Related-
Knowledge, Preventive Behaviors and Risk Perception. Arch 
Iran Med, 23(4):249-254. 
11. Sengupta S, Chattopadhyay MK, Grossart HP (2013). The 
multifaceted roles of antibiotics and antibiotic resistance in 
nature. Front Microbiol, 4:47. 
12. Al-Hanawi MK, Angawi K, Alshareef N, Qattan AMN (2020). 
Knowledge, Attitude and Practice Toward COVID-19 Among 
the Public in the Kingdom of Saudi Arabia: A Cross-Sectional 
Study. Front Public Health, 8:217. 
13. Modi PD, Nair G, Uppe A, Modi J (2020). COVID-19 Awareness 
Among Healthcare Students and Professionals in Mumbai 
Metropolitan Region: A Questionnaire-Based Survey. Cureus, 
12(4):7514. 
14. Olum R, Kajjimu J, Kanyike AM (2020). Perspective of Medical 
Students on the COVID-19 Pandemic: Survey of Nine Medical 
Schools in Uganda. JMIR Public Health Surveill, 6(2):19847. 
15. Khan MU, Shah S, Ahmad A, Fatokun O (2014). Knowledge 
and attitude of healthcare workers about Middle East 
Respiratory Syndrome in multispecialty hospitals of Qassim, 
Saudi Arabia. BMC Public Health, 14:1281. 
16. Shi Y, Wang J, Yang Y, Wang Z (2020). Knowledge and attitudes 
of medical staff in Chinese psychiatric hospitals regarding 
COVID-19. Brain Behav Immun Health, 4:100064. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_ve_covid_19_cua_sinh_vien_y_da_khoa_nam_th.pdf