Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh

Mở đầu: Lợi ích của sữa mẹ đã được chứng minh là an toàn, đầy đủ chất

dinh dưỡng, dễ hấp thu và tiêu hóa, cung cấp kháng thể cho trẻ và phòng

ngừa bệnh tật cho mẹ. Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 triệu

trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.

Mục tiêu: 1)Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh; 2) Đánh giá kiến thức,

thái độ và thực hành cho con bú ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa

Hậu Sản – Bệnh viện Hùng Vương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phỏng vấn và

quan sát bằng bảng kiểm trên 1771 bà mẹ.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 27,69 (SD=4,96). Tỉ lệ

chung có cho bú mẹ sau sinh là 100%. Có 56,63 % các bà mẹ cho con

bú trong vòng 1 giờ sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn sau sinh trong

thời gian ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức khá chiếm tỉ lệ

75,15%. Tỉ lệ về thái độ tích cực NCBSM là 38,74%. Tỉ lệ thực hành nuôi

con bằng sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%.

Kết luận: Mặc dù tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tương đối cao, tuy

nhiên tỷ lệ các bà mẹ thực hành cho con bú sau sinh sớm trong 1 giờ

đầu, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm bệnh viện, thực hành nuôi

con bằng sữa mẹ đúng và thái độ tích cực cho con bú mẹ còn thấp.

Kiến nghị: Cần tăng cường hướng dẫn và tư vấn cho các bà mẹ về

lợi ích và phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian hậu sản

tại Bệnh viện

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh

Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
73
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 73 - 78, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Ngô Thị Thanh Thảo, Trần Thị Hồng Thắm, Huỳnh Thị Minh Dung, Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Thị Hà 
Bệnh viện Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
VÀ THỰC HÀNH CHO BÚ MẸ SAU SINH
CỦA CÁC BÀ MẸ SINH NGÃ ÂM ĐẠO
TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Ngô Thị Thanh Thảo, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: nuôi con bằng sữa 
mẹ, cho bú sau sinh, Bệnh viện 
Hùng Vương.
Keywords: breast feeding, 
postnatal breastfeeding, Hung 
Vuong hospital.
Tóm tắt
Mở đầu: Lợi ích của sữa mẹ đã được chứng minh là an toàn, đầy đủ chất 
dinh dưỡng, dễ hấp thu và tiêu hóa, cung cấp kháng thể cho trẻ và phòng 
ngừa bệnh tật cho mẹ. Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 triệu 
trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. 
Mục tiêu: 1)Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh; 2) Đánh giá kiến thức, 
thái độ và thực hành cho con bú ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa 
Hậu Sản – Bệnh viện Hùng Vương. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phỏng vấn và 
quan sát bằng bảng kiểm trên 1771 bà mẹ. 
Kết quả: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 27,69 (SD=4,96). Tỉ lệ 
chung có cho bú mẹ sau sinh là 100%. Có 56,63 % các bà mẹ cho con 
bú trong vòng 1 giờ sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn sau sinh trong 
thời gian ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức khá chiếm tỉ lệ 
75,15%. Tỉ lệ về thái độ tích cực NCBSM là 38,74%. Tỉ lệ thực hành nuôi 
con bằng sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%. 
Kết luận: Mặc dù tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tương đối cao, tuy 
nhiên tỷ lệ các bà mẹ thực hành cho con bú sau sinh sớm trong 1 giờ 
đầu, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm bệnh viện, thực hành nuôi 
con bằng sữa mẹ đúng và thái độ tích cực cho con bú mẹ còn thấp. 
Kiến nghị: Cần tăng cường hướng dẫn và tư vấn cho các bà mẹ về 
lợi ích và phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian hậu sản 
tại Bệnh viện. 
Từ khóa: nuôi con bằng sữa mẹ, cho bú sau sinh, Bệnh viện Hùng Vương
Abstract 
PREVALENCE, KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND 
PRACTICE ON BREAST FEEDING AMONG WOMAN 
GIVING NORMAL DELIVERY AT HUNG VUONG 
HOSPITAL, HO CHI MINH CITY
Introduction: Breast feeding has been proven as safety, nutritional 
1. Đặt vấn đề
Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 
triệu trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa 
mẹ (NCBSM) trong 6 tháng đầu [3]. Cho bú sữa mẹ 
trong vòng 1 giờ sau sinh có thể ngăn ngừa được 
31% cái chết của những trẻ sơ sinh [5]. Nghiên cứu 
của Nigue và cs (2016) ở Southwestern Ethiopia 
cho thấy có 93,6% những người tham gia nghe 
nói đến cho bú hoàn toàn nhưng chỉ có 34,7% 
biết đúng thời gian khuyến cáo; 89,5% có thái độ 
đúng; chỉ có 59,3% bà mẹ tin rằng đủ khả năng 
cho bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và thực tế 
chỉ có 26,4% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 
tháng đầu [7]. Nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi năm 
2009 tại Bệnh Viện Hùng Vương cũng cho thấy 
68-98% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nhưng chỉ 
29% có kiến thức đúng, 13% có thái độ đúng và 
4% thực hành đúng. Thực trạng trên cho thấy thực 
tế giữa kiến thức và thực hành việc nuôi con bằng 
sữa mẹ không tương xứng với nhau. Một số nghiên 
cứu gần đây khuyến cáo rằng, giáo dục và tư vấn 
nuôi con bằng sữa mẹ cho các thai phụ trong thời 
kỳ tiền sản và bà mẹ trong thời kỳ hậu sản tại Bệnh 
viện có thể đem lại hiệu quả cao hơn về thực hành 
NCBSM tại cộng đồng [6].
Từ năm 1995, Bệnh Viện Hùng Vương được 
công nhận là bệnh viện bạn hữu của trẻ em. Đặc 
biệt trong 2 năm qua Bệnh Viện luôn chú trọng 
công tác nuôi con bằng sữa mẹ. Nhằm đánh giá 
nỗ lực của bệnh viện, cung cấp bằng chứng thực 
tiễn cho việc xác định phương pháp tiếp cận thích 
hợp, kịp thời và hiệu quả trong việc giáo dục, nâng 
cao hiệu quả nuôi con bằng sữa mẹ, chúng tôi tiến 
hành đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ, kiến thức, thái độ 
NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ
74
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
sufficiency, best suitable for child’s digestive system as well as providing necessary antibody for 
preventing diseases. It also helps mothers to prevent certain types of diseases. According to UNICEF 
(2013), there was about 1.3 million children died annually due to insufficient breast feeding during the 
first 6 months of their life. 
Objectives:1) To identify the prevalence of postnatal breast feeding; 2) To examine knowledge, 
attitude, and skills on breast feeding and its associated factors among mothers who gave normal 
delivery at Hung Vuong hospital. 
Methods: A cross sectional study applying interview and observation based on checklist was 
carried out. 
Results: Mean of age was 27.69 (SD=4.96). The prevalence of postnatal breastfeeding was 
100%, however, there was only 56.63% of them practiced breast feeding within 1 hour after delivery, 
only 28,46% of them exclusive breastfeeding in during the stay in the hospital. The prevalence of 
mother has good knowledge, attitude, and skillson breastfeeding was 75.16%, 38.74%, and 51.1%, 
respectively. Mothers who received consultations and/or trainings on beast feeding during periodic 
pregnant examinations showed significantly higher knowledge, attitude, and skills on breast feeding 
than those who did not. 
Conclusions: Although the prevalence of mothers has good knowledge on breast feeding was 
considered as high, however, a small proportion of them practiced breast feeding within 1 hour after 
delivery appropriately, exclusive breastfeeding in the hospital and positive attitude on breast feeding. 
Suggestions: Providing consultations and trainings on breast feeding for the pregnants during 
periodic examinations is of important to improve breast feeding. 
Keywords: breast feeding, postnatal breastfeeding, Hung Vuong hospital.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
75
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 73 - 78, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
và thực hành cho bú sau sinh của các bà mẹ sinh 
ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, Thành phố 
Hồ Chí Minh năm 2017” nhằm hai mục tiêu sau: 
1. Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh của các bà 
mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa Hậu sản Bệnh viện 
Hùng Vương năm 2017. 
2. Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành cho 
con bú và một số yếu tố liên quan ở các bà mẹ 
sinh ngã âm đạo tại Khoa Hậu sản – Bệnh viện 
Hùng Vương. 
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu Sản phụ sinh 
ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Sản phụ sinh ngã âm đạo 
có con nằm cùng mẹ, đồng ý tham gia nghiên cứu; 
Tiêu chuẩn loại trừ: Sản phụ có chống chỉ định nuôi 
con bằng sữa mẹ như: nhiễm HIV, đang điều trị 
viêm gan B, tiền sản giật nặng, sản giật nặng, bệnh 
tim nặng Sản phụ không có khả năng trả lời câu 
hỏi: câm điếc, tâm thần, thiểu năng trí tuệ; sinh bé 
nhẹ cân dưới 2000g hoặc sản phụ dưới < 18 tuổi.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 
Địa điểm: khoa hậu sản A, B Bệnh viện Hùng 
Vương; Thời gian nghiên cứu: 08/02/2017 đến 
08/08/2017
2.3. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế 
nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang; Cỡ mẫu: 
1771 bà mẹ 
2.4. Công cụ và phương pháp thu thập 
thông tin: Công cụ thu thập thông tin: Bộ câu hỏi 
phỏng vấn; Bảng kiểm quan sát kỹ năng cho con 
bú;Phương pháp thu thập thông tin: Tập huấn cán 
bộ phỏng vấn về nội dung, quy trình, phương pháp 
và kỹ thuật thu thập thông tin; Chọn ngày hậu sản 
thứ 2 để phỏng vấn và quan sát. Thời gian phỏng 
vấn và quan sát: khoảng 20- 30 phút đối với mỗi 
sản phụ.
2.5. Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm chung của bà mẹ: tuổi, số con, dân 
tộc, nghề nghiệp, trình độ, nơi cư ngụ, nơi khám 
thai; Kiến thức của bà mẹ về NCBSM: gồm 28 câu 
hỏi. Trả lời đúng mỗi câu hỏi cho điểm 1, 0 nếu trả 
lời sai hoặc không rõ. Dựa vào khoảng tứ phân vị 
để phân nhóm mức độ hiểu biết của các bà mẹ về 
NCBSM. Từ 0-14 điểm: có kiến thức thấp; 15-20 
điểm: trung bình, và ≥ 21 điểm: có kiến thức tốt; 
Thái độ của các bà mẹ về NCBSM: gồm 6 câu hỏi. 
Đánh giá thái độ tương tự đánh giá kiến thức. Từ 
0-2 điểm: thái độ không tích cực; 3-4 điểm: trung 
bình; 5-6 điểm: có thái độ tích cực; Thực hành 
NCBSM: tối đa 6 điểm bao gồm 5 điểm cho 5 câu 
hỏi cho bà mẹ về thực hành NCBSM, và 1 điểm 
quan sát thực hành cho bú mẹ dựa trên bảng kiểm 
(đạt ≥ 9/12). Từ 1-2 điểm: thực hành kém; 3-4 
điểm: đạt, và 5-6 điểm: thực hành tốt.
2.6. Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý 
số liệu bằng phần mềm STATA 13. Sử dụng các 
chỉ số trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất và tỷ lệ 
phần trăm để mô tả và chi2 để so sánh sự khác biệt 
giữa 2 tỷ lệ. 
2.7. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu 
được Hội đồng đạo đức nghiên cứu Bệnh viện 
Hùng Vương phê duyệt.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng 
nghiên cứu
Đặc điểm Trung bình ± SD, n Min/max,%
1. Tuổi
18-25
26-35
>35 tuổi
2. Para
Con so
Con rạ
3. Dân tộc
Kinh
Hoa
Dân tộc khác
4. Học vấn
Mù chữ
Biết chữ
Cấp 2 trở lên
5. Nghề nghiệp
Nội trợ
Buôn bán
Viên chức
Công nhân
Nghề khác
6. Nơi cư ngụ
Thành thị
Nông thôn
7. Nơi khám thai
BV Hùng Vương
Nơi khác
27,69 ± 4,96
618
1012
141
952
819
1700
37
34
59
1350
362
450
295
321
567
138
1034
737
817
953
18-45
34,98
57,14
7,97
53,75
46,25
95,99
2,09
1,92
3,33
76,23
20,44
25,41
16,66
18,13
32,02
7,79
58,39
41,61
46,13
53,81
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=1771)
NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ
76
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
3.2.Tỷ lệ cho bú sau sinh
3.2.1. Tỉ lệ cho bú mẹ sau sinh: 100% sản phụ 
tham gia nghiên cứu cho bú sau sinh.
3.2.2 Cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh 
56,63% các bà mẹ cho bú trong 1 giờ sau sinh
3.2.3 Cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời 
gian nằm ở bệnh viện
28,46% các bà mẹ cho bú hoàn toàn trong thời 
gian nằm viện
3.3. Kiến thức của bà mẹ về cho con 
bú mẹ
3.3.1. Kiến thức chung
Nhận xét: Khoảng 2/3 các bà mẹ có kiến thức 
khá về nuôi con bằng sữa mẹ
Cho bú trong 1 giờ sau sinh N %
Có
Không
Tổng
1003
768
1771
56,63
43,37
100
Bảng 2: Cho bú trong 01 giờ sau sinh (n=1771)
Bú mẹ hoàn toàn n %
Có
Không
Tổng
504
1267
1771
28,46
71,54
100
Bảng 3: Cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm ở bệnh viện
Stt Kiến thức
Đạt Không đạt
n % n %
1 Nghe nói về nuôi con bằng sữa mẹ 1583 89,38 188 10,62
2 Biết cần cho bú trước 1 giờ sau sinh 1111 62,73 660 37,27
3 Biết nên cho trẻ bú sữa non 1660 93,73 111 6,27
4 Biết cho bú nhiều lần sẽ giúp sản xuất sữa 1586 89,55 185 10,45
5 Biết thời gian bú hoàn toàn là 6 tháng đầu 831 46,92 940 53,08
6 Biết sữa non chứa nhiều chất dinh dưỡng 1621 91,53 150 8,47
7 Biết sữa non chứa nhiều kháng thể 1553 87,69 218 12,31
8 Biết sữa mẹ cung cấp đủ chất dinh dưỡng trong 6 tháng đầu 1657 93,56 114 6,44
9 Biết sữa mẹ giúp trẻ thông minh hơn 1606 90,68 165 9,32
10 Biết cho con bú giúp mẹ phòng chống được một số bệnh 1464 82,67 307 17,33
11 Biết cho bú tăng tình cảm mẹ con 1674 94,52 97 5,48
12 Biết cho bú nhiều lần giúp tiết nhiều sữa 1617 91,30 154 8,70
13 Biết thời gian bắt đầu ăn dặm là 6 tháng 1175 66,35 596 33,65
14 Biết thời gian cai sữa 24 tháng 287 16,15 1484 83,79
15 Biết không nên vắt bỏ sữa non 1312 74,08 459 25,92
16 Không nên cho ăn thêm trong 6 tháng đầu 1353 76,40 418 23,60
Bảng 4: Kiến thức của bà mẹ về cho con bú (n=1771)
Đánh giá kiến thức n %
Không đạt 93 5,25
Đạt mức độ trung bình 347 19,59
Đạt mức độ khá trở lên 1331 75,16
Tổng 1771 100
Bảng 5: Đánh giá kiến thức chung nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771)
3.3.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức 
nuôi con bằng sữa mẹ
Các bà mẹ độ tuổi 18-25, sinh con rạ, và khám 
thai tại BV Hùng Vương có kiến thức đúng về 
NCBSM cao hơn các bà mẹ khác.
3.4. Thái độ của bà mẹ nuôi con bằng 
sữa mẹ
Nhận xét: Hơn 1/3 bà mẹ có thái độ tích cực 
nuôi con bằng sữa mẹ
3.5. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
3.5.1. Tỉ lệ chung
Khoảng hơn 1/2 bà mẹ thực hành tốt cho con 
bú mẹ.
3.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành 
nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771)
Các bà mẹ có học vấn cao, có kiến thức khá về 
NCBSM thì thực hành nuôi con bằng sữa mẹ càng 
tốt hơn các bà mẹ khác. 
Yếu tố
Kiến thức
Tổng P
Không đạt (%) Trung bình (%) Khá trở lên (%)
1. Tuổi
18 – 25 40(6,48) 158(25,61) 419(67,91) 617
<0,001
26 – 35 47(4,64) 168(16,60) 797(78,75) 1012
Trên 35 06(4,26) 21(14,89) 115(80,96) 142
Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,15) 1771
2. PARA
Con so 66(6,94) 218(22,92) 667(70,14) 951
<0,001Con rạ 27(3,30) 129(15,75) 664(81,07) 819
Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,16) 1771
3. Nơi 
khám 
thai
BV H.Vương 27(3,30) 133(16,28) 657(80,42) 817
<0,001Nơi khác 66(6,91) 214(22,43) 674(70,65) 954
Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,16) 1771
4. Thái 
độ
Kém 55(17,52) 119(37,90) 140(44,59) 314
<0,001
Trung bình 33(4,28) 171(22,18) 567(73,54) 771
Tích cực 05(0,74) 57(8,30) 624(90,96) 686
Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(57,16) 1771
5. Tập 
huấn 
NCBSM
Có 7(1,06) 74(11,16) 582(87,78) 663
<0,001Không 85(7,68) 273(24,66) 749(67,66) 1107
Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(57,16) 1771
Bảng 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Đánh giá thái độ n %
Kém
Trung bình
Tích cực
Tổng
314
771
686
1771
17,73
43,53
38,74
100
Bảng 7: Đánh giá thái độ nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771)
Đánh giá thực hành N %
Không đạt
Trung bình
Khá trở lên
Tổng
137
170
1464
1771
7,74
9,60
82,67
100
Bảng 8: Đánh giá thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771)
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
77
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 73 - 78, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
4. Bàn luận
4.1. Tỉ lệ cho bú mẹ
Qua nghiên cứu trên 1771 bà mẹ cho 
thấy100% bà mẹ đều cho con bú sữa mẹ, nhưng 
chỉ có 56,6% bà mẹ cho bú trong vòng 1 giờ sau 
sinh. Kết quả này cao hơn so với một số nghiên 
cứu gần đây trên thế giới (từ 31% đến 41%) [2]
[8] và nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi (2009) tại 
Bệnh viện Hùng Vương (BVHV) [1]. Mặc dù, tỷ lệ 
cho bú sau sinh đã có cải thiện song vẫn còn thấp 
theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Riêng về tỉ lệ nuôi con 
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong khoảng thời gian 
sau sinh ở bệnh viện là rất thấp 28,46%, đây là 
con số đáng lưu ý, nó phản ánh kiến thức và thái 
độ NCBSM của các bà mẹ cũng như hiệu quả của 
việc tư vấn NCBSM. Do vậy cần phải có những 
phương án tư vấn thiết thực và hiệu quả hơn nữa 
cho các thai phụ và bà mẹ trong thời gian khám 
thai và sinh con tại bệnh viện
Ở bảng 7, chỉ có hơn 1/3 bà mẹ có thái độ tích 
cực về NCBSM, kết quả này thấp hơn so với nghiên 
cứu của Mbada và cs [4]. Ở bảng 9, 37,44% các 
bà mẹ đã được tập huấn NCBSM, cũng thấp hơn 
nhiều so với các nghiên cứu của Mbada (khoảng 
70%) [4]. Nghiên cứu của Mbada và cs (2013) cho 
rằng những bà mẹ được tập huấn NCBSM có kiến 
thức, thái độ và thực hành NCBSM tốt hơn các bà 
mẹ chưa được tập huấn (p<0,001) [4]. Do vậy, cần 
tiếp tục tăng cường và hoàn thiện công tác truyền 
thông, tập huấn, tư vấn cho các bà mẹ trước và sau 
sinh tại Bệnh viện để nâng cao nhận thức, thái độ 
Yếu tố
Thực hành
Tổng P
Không đạt Trung bình Khá trở lên
1. Học 
vấn
Mù chữ 11(18,64) 10(16,95) 38(64,41) 59
0,003
Biết chữ 96(7,11) 128(9,48) 1126(83,41) 1350
Cấp 3 trở lên 30(8,29) 32(18,84) 300(82,87) 362
Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771
2. Nơi 
khám 
thai
BV H.Vương 56(6,85) 64(7,83) 697(85,31) 817
0,001Nơi khác 81(8,49) 106(11,11) 767(80,40) 954
Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771
3. Kiến 
thức
Không đạt 38 (41,30) 25 (27,17) 29 (31,52) 92
0,001
Trung bình 37 (10,36) 52 (14,94) 259 (74,42) 348
Khá trở lên 62 (4,66) 93 (6,99) 1176 (88,35) 1331
Tổng 137 (7,74) 170 (9,60) 1464 (82,67) 1771
4. Tập 
huấn 
NCBSM
Có 31(4,68) 53(7,99) 579(87,33) 663
0,001Không 106(9,57) 117(10,56) 885(79,87) 1108
Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771
Bảng 9: Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành NCBSM trong thời gian hậu sản tại 
BV và sau khi trở về nhà.
4.2. Kiến thức của bà mẹ về cho con 
bú mẹ
Bảng 5 có 75,16% bà mẹ có kiến thức chung về 
NCBSM đạt khá. Cụ thể hơn 80% các bà mẹ nhận 
biết các giá trị của sữa mẹ, tuy nhiên nhận thức về 
sự cần thiết cho trẻ bú sớm trước 1 giờ sau sinh, 
thời gian bú hoàn toàn 6 tháng đầu, thời gian bắt 
đầu ăn dặm, và cho bú đến 24 tháng tuổi thì vẫn 
còn thấp (khoảng 16-65%) (bảng 4). Kết quả này 
cũng tương đương các nghiên cứu được công bố 
gần đây trên thế giới [2], [4].
Bảng 6 cho thấy các yếu tố liên quan đến thiếu 
kiến thức NCBSM bao gồm độ tuổi dưới 25, bà 
mẹ sinh con so, và các bà mẹ không khám thai tại 
Bệnh viện Hùng Vương. Bệnh viện Hùng Vương là 
một bệnh viện chuyên khoa lớn tại TP HCM, do vậy 
những bà mẹ đến sinh tại Bệnh viện Hùng Vương có 
thể đến từ nhiều địa phương khác nhau. Trong khi 
đó, việc truyền thông giáo dục cho các bà mẹ về 
NCBSM ở các cơ sở y tế khác nhau là không đồng 
đều, đặc biệt nhất là những bà mẹ sinh con lần đầu, 
tuổi dưới 25 là không thể tránh khỏi. Qua kết quả 
nghiên cứu cho chúng ta một bằng chứng thực tiễn 
rất quan trọng rằng: việc thực hiện truyền thông 
giáo dục NCBSM trong thời kỳ tiền sản và hậu sản 
tại Bệnh viện Hùng Vương cho tất cả các bà mẹ đến 
khám thai và sinh tại bệnh viện là vô cùng quan 
trọng, điều này có thể đảm bảo tất cả các bà mẹ 
đều được nâng cao kiến thức, thái độ và biết thực 
hành bú mẹ đúng cách sau khi xuất viện. Đặc biệt, 
lưu ý các bà mẹ dưới 25 tuổi, sinh con so và các bà 
mẹ không khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương. 
4.3. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Kết quả bảng 8 cho thấy có 51,1% các bà mẹ 
thực hành đạt NCBSM. Tỉ lệ này cao hơn so với 
nhiều nghiên cứu khác của các tác giả khác trên 
thế giới[2], [4], [8]. Điều này có thể giải thích rằng 
tại bệnh viện Hùng Vương, công tác tư vấn nuôi 
con bằng sữa mẹ và hướng dẫn thực hành cho con 
bú mẹ đã được đẩy mạnh tích cực ở khoa sinh và 
khoa hậu sản. Bảng 9 cũng cho thấy, những bà 
mẹ có trình độ văn hóa thấp, các bà mẹ sinh con 
so có thực hành NCBSM không tốt bằng các bà 
mẹ khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(p<0,05). Điều này phù hợp với thực tế, các bà mẹ 
NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ
78
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
sinh con rạ có thể có cơ hội được tiếp cận với giáo 
dục truyền thông, tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ 
nhiều hơn, cùng thêm một số kinh nghiện nuôi con, 
nên thường tự tin, ít lúng túng hơn trong thực hành 
so với những bà mẹ sinh con lần đầu. Và cũng vậy, 
những bà mẹ có trình độ văn hóa cao, cơ hội tiếp 
nhận các nguồn thông tin nuôi con bằng sữa mẹ 
dễ dàng qua nhiều kênh truyền thông và khả năng 
tiếp thu vấn đề cũng cao hơn những mẹ có trình độ 
thấp. Kết quả trên cho chúng ta thấy nơi khám thai 
cũng đóng vai trò quan trọng trong thực hành nuôi 
con bằng sữa mẹ, những nơi khám thai có công tác 
tư vấn, truyền thông nuôi con bằng sữa mẹ tích cực 
sẽ giúp cho các bà mẹ có kiến thức, thái độ tích cực 
và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn, điều 
này là phù hợp với kết quả của nghiên cứu. 
5. Kết luận
Tỉ lệ chung có cho bú mẹ sau sinh tại Bệnh viện 
Hùng Vương là 100%.
Trong đó, tỷ lệ cho bú mẹ trong 1 giờ sau sinh 
chiếm 56,63%, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian 
nằm ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến 
thức khá chiếm tỉ lệ 75,16%; tỉ lệ về thái độ tích cực 
NCBSM là 38,74%; tỉ lệ thực hành nuôi con bằng 
sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%. Có mối tương quan giữa 
thái độ tích cực NCBSM và nơi khám thai; giữa kiến 
thức và tiền sử sản khoa cũng như nơi khám thai; 
giữa thực hành và tiền sử sản khoa, trình độ học vấn 
cũng như nơi khám thai; và giữa tập huấn cho con 
bú mẹ và kiến thức, thái độ, thực hành. 
Kiến nghị
Qua nghiên cứu tình hình NCBSM và các yếu tố 
liên quan tại bện viện Hùng Vương 
năm 2017, chúng tôi xin được kiến nghị: Cần 
tăng cường tư vấn cho tất các bà mẹ trước và ngay 
sau sinh để nâng cao tỉ lệ cho con bú sớm trong 
1 giờ đầu, cho bú hoàn toàn 6 tháng đầu và kéo 
dài đến 24 tháng; Cần tăng cường chương trình 
tư vấn và điều chỉnh nội dung NCBSM để nâng 
cao chất lượng truyền thông và tư vấn. Công tác 
truyền thông tư vấn NCBSM nên được áp dụng với 
tất cả các bà mẹ trong thời gian trước và sau sinh 
tại Bệnh viện. Cần tập trung tư vấn, giáo dục các 
nội dung cốt lõi về NCBSM như lợi ích và phương 
pháp NCBSM. Cần lưu ý đến các bà mẹ sinh con 
lần đầu, các bà mẹ có độ tuổi dưới 25, các bà mẹ 
không khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương, các 
bà mẹ có trình độ văn hóa thấp 
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thị Yến Phi (2009) “Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con 
bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV năm 2009”.
2. Ali Mohamed Al-Binali (2012). “Breastfeeding knowledge, attitude 
and practice among school teachers in Abha female education district, 
Southwestern Saudi arabia”. International Breastfeeding Journal,7:10
3. Black RE, Victora CG, Walker SP (2013). Maternal and child 
undernutrition and overweight in low-income and midle-income 
countries,Lancet; published online.
4. Chidozie E Mbada, Adekemi E Olowookere, Joel O Faronbi, Folasade 
C Oyinlola-Aromolaran, at al (2013). “Knowledge, attitude and techniques 
of breastfeeding among Nigerian mothers from a semi-urban community”. 
BMC Research Notes, 6:552
5. Gupta A (2004). Initiating breast feeding within one hour of birth. 
Egypt Public health association:1-12.
6. Kiranmai Tella, Shyamala Guruvare, Shripad Hebbar, Prashanth 
Adiga, Lavanya Rai, (2015) “Knowledge, attitude, and practice of 
techniques of breast-feeding among postnatal mothers in a coastal district 
of Karnataka”.
7. Oche MO, Umar AS, Ahmed H (2011). “Knowledge and practice of 
exclusive breastfeeding in Kware, Nigeria”.African Health Sciences Vol 
11 No3
8. Poreddi Vijayalakshmi, Susheela T, Mythili D (2015) “Knowledge, 
attitudes, and breast feeding practices of postnatal mothers”: A 
cross sectional survey.

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_va_thuc_hanh_cho_bu_me_sau_sinh_cua_cac_ba.pdf