Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh
Mở đầu: Lợi ích của sữa mẹ đã được chứng minh là an toàn, đầy đủ chất
dinh dưỡng, dễ hấp thu và tiêu hóa, cung cấp kháng thể cho trẻ và phòng
ngừa bệnh tật cho mẹ. Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 triệu
trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.
Mục tiêu: 1)Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh; 2) Đánh giá kiến thức,
thái độ và thực hành cho con bú ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa
Hậu Sản – Bệnh viện Hùng Vương.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phỏng vấn và
quan sát bằng bảng kiểm trên 1771 bà mẹ.
Kết quả: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 27,69 (SD=4,96). Tỉ lệ
chung có cho bú mẹ sau sinh là 100%. Có 56,63 % các bà mẹ cho con
bú trong vòng 1 giờ sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn sau sinh trong
thời gian ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức khá chiếm tỉ lệ
75,15%. Tỉ lệ về thái độ tích cực NCBSM là 38,74%. Tỉ lệ thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%.
Kết luận: Mặc dù tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tương đối cao, tuy
nhiên tỷ lệ các bà mẹ thực hành cho con bú sau sinh sớm trong 1 giờ
đầu, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm bệnh viện, thực hành nuôi
con bằng sữa mẹ đúng và thái độ tích cực cho con bú mẹ còn thấp.
Kiến nghị: Cần tăng cường hướng dẫn và tư vấn cho các bà mẹ về
lợi ích và phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian hậu sản
tại Bệnh viện
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, thành phố Hồ Chí Minh
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 73 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 73 - 78, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Ngô Thị Thanh Thảo, Trần Thị Hồng Thắm, Huỳnh Thị Minh Dung, Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Thị Hà Bệnh viện Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CHO BÚ MẸ SAU SINH CỦA CÁC BÀ MẸ SINH NGÃ ÂM ĐẠO TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tác giả liên hệ (Corresponding author): Ngô Thị Thanh Thảo, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Từ khóa: nuôi con bằng sữa mẹ, cho bú sau sinh, Bệnh viện Hùng Vương. Keywords: breast feeding, postnatal breastfeeding, Hung Vuong hospital. Tóm tắt Mở đầu: Lợi ích của sữa mẹ đã được chứng minh là an toàn, đầy đủ chất dinh dưỡng, dễ hấp thu và tiêu hóa, cung cấp kháng thể cho trẻ và phòng ngừa bệnh tật cho mẹ. Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 triệu trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. Mục tiêu: 1)Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh; 2) Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành cho con bú ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa Hậu Sản – Bệnh viện Hùng Vương. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phỏng vấn và quan sát bằng bảng kiểm trên 1771 bà mẹ. Kết quả: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 27,69 (SD=4,96). Tỉ lệ chung có cho bú mẹ sau sinh là 100%. Có 56,63 % các bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn sau sinh trong thời gian ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức khá chiếm tỉ lệ 75,15%. Tỉ lệ về thái độ tích cực NCBSM là 38,74%. Tỉ lệ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%. Kết luận: Mặc dù tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức tương đối cao, tuy nhiên tỷ lệ các bà mẹ thực hành cho con bú sau sinh sớm trong 1 giờ đầu, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm bệnh viện, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ đúng và thái độ tích cực cho con bú mẹ còn thấp. Kiến nghị: Cần tăng cường hướng dẫn và tư vấn cho các bà mẹ về lợi ích và phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian hậu sản tại Bệnh viện. Từ khóa: nuôi con bằng sữa mẹ, cho bú sau sinh, Bệnh viện Hùng Vương Abstract PREVALENCE, KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND PRACTICE ON BREAST FEEDING AMONG WOMAN GIVING NORMAL DELIVERY AT HUNG VUONG HOSPITAL, HO CHI MINH CITY Introduction: Breast feeding has been proven as safety, nutritional 1. Đặt vấn đề Theo UNICEF (2013), hằng năm khoảng 1,3 triệu trẻ tử vong vì không được nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) trong 6 tháng đầu [3]. Cho bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh có thể ngăn ngừa được 31% cái chết của những trẻ sơ sinh [5]. Nghiên cứu của Nigue và cs (2016) ở Southwestern Ethiopia cho thấy có 93,6% những người tham gia nghe nói đến cho bú hoàn toàn nhưng chỉ có 34,7% biết đúng thời gian khuyến cáo; 89,5% có thái độ đúng; chỉ có 59,3% bà mẹ tin rằng đủ khả năng cho bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và thực tế chỉ có 26,4% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [7]. Nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi năm 2009 tại Bệnh Viện Hùng Vương cũng cho thấy 68-98% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nhưng chỉ 29% có kiến thức đúng, 13% có thái độ đúng và 4% thực hành đúng. Thực trạng trên cho thấy thực tế giữa kiến thức và thực hành việc nuôi con bằng sữa mẹ không tương xứng với nhau. Một số nghiên cứu gần đây khuyến cáo rằng, giáo dục và tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cho các thai phụ trong thời kỳ tiền sản và bà mẹ trong thời kỳ hậu sản tại Bệnh viện có thể đem lại hiệu quả cao hơn về thực hành NCBSM tại cộng đồng [6]. Từ năm 1995, Bệnh Viện Hùng Vương được công nhận là bệnh viện bạn hữu của trẻ em. Đặc biệt trong 2 năm qua Bệnh Viện luôn chú trọng công tác nuôi con bằng sữa mẹ. Nhằm đánh giá nỗ lực của bệnh viện, cung cấp bằng chứng thực tiễn cho việc xác định phương pháp tiếp cận thích hợp, kịp thời và hiệu quả trong việc giáo dục, nâng cao hiệu quả nuôi con bằng sữa mẹ, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ, kiến thức, thái độ NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ 74 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H sufficiency, best suitable for child’s digestive system as well as providing necessary antibody for preventing diseases. It also helps mothers to prevent certain types of diseases. According to UNICEF (2013), there was about 1.3 million children died annually due to insufficient breast feeding during the first 6 months of their life. Objectives:1) To identify the prevalence of postnatal breast feeding; 2) To examine knowledge, attitude, and skills on breast feeding and its associated factors among mothers who gave normal delivery at Hung Vuong hospital. Methods: A cross sectional study applying interview and observation based on checklist was carried out. Results: Mean of age was 27.69 (SD=4.96). The prevalence of postnatal breastfeeding was 100%, however, there was only 56.63% of them practiced breast feeding within 1 hour after delivery, only 28,46% of them exclusive breastfeeding in during the stay in the hospital. The prevalence of mother has good knowledge, attitude, and skillson breastfeeding was 75.16%, 38.74%, and 51.1%, respectively. Mothers who received consultations and/or trainings on beast feeding during periodic pregnant examinations showed significantly higher knowledge, attitude, and skills on breast feeding than those who did not. Conclusions: Although the prevalence of mothers has good knowledge on breast feeding was considered as high, however, a small proportion of them practiced breast feeding within 1 hour after delivery appropriately, exclusive breastfeeding in the hospital and positive attitude on breast feeding. Suggestions: Providing consultations and trainings on breast feeding for the pregnants during periodic examinations is of important to improve breast feeding. Keywords: breast feeding, postnatal breastfeeding, Hung Vuong hospital. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 75 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 73 - 78, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 và thực hành cho bú sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017” nhằm hai mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ cho con bú sau sinh của các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa Hậu sản Bệnh viện Hùng Vương năm 2017. 2. Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành cho con bú và một số yếu tố liên quan ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Khoa Hậu sản – Bệnh viện Hùng Vương. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Sản phụ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Vương Tiêu chuẩn chọn mẫu: Sản phụ sinh ngã âm đạo có con nằm cùng mẹ, đồng ý tham gia nghiên cứu; Tiêu chuẩn loại trừ: Sản phụ có chống chỉ định nuôi con bằng sữa mẹ như: nhiễm HIV, đang điều trị viêm gan B, tiền sản giật nặng, sản giật nặng, bệnh tim nặng Sản phụ không có khả năng trả lời câu hỏi: câm điếc, tâm thần, thiểu năng trí tuệ; sinh bé nhẹ cân dưới 2000g hoặc sản phụ dưới < 18 tuổi. 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Địa điểm: khoa hậu sản A, B Bệnh viện Hùng Vương; Thời gian nghiên cứu: 08/02/2017 đến 08/08/2017 2.3. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang; Cỡ mẫu: 1771 bà mẹ 2.4. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin: Công cụ thu thập thông tin: Bộ câu hỏi phỏng vấn; Bảng kiểm quan sát kỹ năng cho con bú;Phương pháp thu thập thông tin: Tập huấn cán bộ phỏng vấn về nội dung, quy trình, phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin; Chọn ngày hậu sản thứ 2 để phỏng vấn và quan sát. Thời gian phỏng vấn và quan sát: khoảng 20- 30 phút đối với mỗi sản phụ. 2.5. Nội dung nghiên cứu Đặc điểm chung của bà mẹ: tuổi, số con, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ, nơi cư ngụ, nơi khám thai; Kiến thức của bà mẹ về NCBSM: gồm 28 câu hỏi. Trả lời đúng mỗi câu hỏi cho điểm 1, 0 nếu trả lời sai hoặc không rõ. Dựa vào khoảng tứ phân vị để phân nhóm mức độ hiểu biết của các bà mẹ về NCBSM. Từ 0-14 điểm: có kiến thức thấp; 15-20 điểm: trung bình, và ≥ 21 điểm: có kiến thức tốt; Thái độ của các bà mẹ về NCBSM: gồm 6 câu hỏi. Đánh giá thái độ tương tự đánh giá kiến thức. Từ 0-2 điểm: thái độ không tích cực; 3-4 điểm: trung bình; 5-6 điểm: có thái độ tích cực; Thực hành NCBSM: tối đa 6 điểm bao gồm 5 điểm cho 5 câu hỏi cho bà mẹ về thực hành NCBSM, và 1 điểm quan sát thực hành cho bú mẹ dựa trên bảng kiểm (đạt ≥ 9/12). Từ 1-2 điểm: thực hành kém; 3-4 điểm: đạt, và 5-6 điểm: thực hành tốt. 2.6. Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phần mềm STATA 13. Sử dụng các chỉ số trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất và tỷ lệ phần trăm để mô tả và chi2 để so sánh sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ. 2.7. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức nghiên cứu Bệnh viện Hùng Vương phê duyệt. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Trung bình ± SD, n Min/max,% 1. Tuổi 18-25 26-35 >35 tuổi 2. Para Con so Con rạ 3. Dân tộc Kinh Hoa Dân tộc khác 4. Học vấn Mù chữ Biết chữ Cấp 2 trở lên 5. Nghề nghiệp Nội trợ Buôn bán Viên chức Công nhân Nghề khác 6. Nơi cư ngụ Thành thị Nông thôn 7. Nơi khám thai BV Hùng Vương Nơi khác 27,69 ± 4,96 618 1012 141 952 819 1700 37 34 59 1350 362 450 295 321 567 138 1034 737 817 953 18-45 34,98 57,14 7,97 53,75 46,25 95,99 2,09 1,92 3,33 76,23 20,44 25,41 16,66 18,13 32,02 7,79 58,39 41,61 46,13 53,81 Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=1771) NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ 76 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 3.2.Tỷ lệ cho bú sau sinh 3.2.1. Tỉ lệ cho bú mẹ sau sinh: 100% sản phụ tham gia nghiên cứu cho bú sau sinh. 3.2.2 Cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh 56,63% các bà mẹ cho bú trong 1 giờ sau sinh 3.2.3 Cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm ở bệnh viện 28,46% các bà mẹ cho bú hoàn toàn trong thời gian nằm viện 3.3. Kiến thức của bà mẹ về cho con bú mẹ 3.3.1. Kiến thức chung Nhận xét: Khoảng 2/3 các bà mẹ có kiến thức khá về nuôi con bằng sữa mẹ Cho bú trong 1 giờ sau sinh N % Có Không Tổng 1003 768 1771 56,63 43,37 100 Bảng 2: Cho bú trong 01 giờ sau sinh (n=1771) Bú mẹ hoàn toàn n % Có Không Tổng 504 1267 1771 28,46 71,54 100 Bảng 3: Cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm ở bệnh viện Stt Kiến thức Đạt Không đạt n % n % 1 Nghe nói về nuôi con bằng sữa mẹ 1583 89,38 188 10,62 2 Biết cần cho bú trước 1 giờ sau sinh 1111 62,73 660 37,27 3 Biết nên cho trẻ bú sữa non 1660 93,73 111 6,27 4 Biết cho bú nhiều lần sẽ giúp sản xuất sữa 1586 89,55 185 10,45 5 Biết thời gian bú hoàn toàn là 6 tháng đầu 831 46,92 940 53,08 6 Biết sữa non chứa nhiều chất dinh dưỡng 1621 91,53 150 8,47 7 Biết sữa non chứa nhiều kháng thể 1553 87,69 218 12,31 8 Biết sữa mẹ cung cấp đủ chất dinh dưỡng trong 6 tháng đầu 1657 93,56 114 6,44 9 Biết sữa mẹ giúp trẻ thông minh hơn 1606 90,68 165 9,32 10 Biết cho con bú giúp mẹ phòng chống được một số bệnh 1464 82,67 307 17,33 11 Biết cho bú tăng tình cảm mẹ con 1674 94,52 97 5,48 12 Biết cho bú nhiều lần giúp tiết nhiều sữa 1617 91,30 154 8,70 13 Biết thời gian bắt đầu ăn dặm là 6 tháng 1175 66,35 596 33,65 14 Biết thời gian cai sữa 24 tháng 287 16,15 1484 83,79 15 Biết không nên vắt bỏ sữa non 1312 74,08 459 25,92 16 Không nên cho ăn thêm trong 6 tháng đầu 1353 76,40 418 23,60 Bảng 4: Kiến thức của bà mẹ về cho con bú (n=1771) Đánh giá kiến thức n % Không đạt 93 5,25 Đạt mức độ trung bình 347 19,59 Đạt mức độ khá trở lên 1331 75,16 Tổng 1771 100 Bảng 5: Đánh giá kiến thức chung nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771) 3.3.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ Các bà mẹ độ tuổi 18-25, sinh con rạ, và khám thai tại BV Hùng Vương có kiến thức đúng về NCBSM cao hơn các bà mẹ khác. 3.4. Thái độ của bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ Nhận xét: Hơn 1/3 bà mẹ có thái độ tích cực nuôi con bằng sữa mẹ 3.5. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ 3.5.1. Tỉ lệ chung Khoảng hơn 1/2 bà mẹ thực hành tốt cho con bú mẹ. 3.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771) Các bà mẹ có học vấn cao, có kiến thức khá về NCBSM thì thực hành nuôi con bằng sữa mẹ càng tốt hơn các bà mẹ khác. Yếu tố Kiến thức Tổng P Không đạt (%) Trung bình (%) Khá trở lên (%) 1. Tuổi 18 – 25 40(6,48) 158(25,61) 419(67,91) 617 <0,001 26 – 35 47(4,64) 168(16,60) 797(78,75) 1012 Trên 35 06(4,26) 21(14,89) 115(80,96) 142 Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,15) 1771 2. PARA Con so 66(6,94) 218(22,92) 667(70,14) 951 <0,001Con rạ 27(3,30) 129(15,75) 664(81,07) 819 Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,16) 1771 3. Nơi khám thai BV H.Vương 27(3,30) 133(16,28) 657(80,42) 817 <0,001Nơi khác 66(6,91) 214(22,43) 674(70,65) 954 Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(75,16) 1771 4. Thái độ Kém 55(17,52) 119(37,90) 140(44,59) 314 <0,001 Trung bình 33(4,28) 171(22,18) 567(73,54) 771 Tích cực 05(0,74) 57(8,30) 624(90,96) 686 Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(57,16) 1771 5. Tập huấn NCBSM Có 7(1,06) 74(11,16) 582(87,78) 663 <0,001Không 85(7,68) 273(24,66) 749(67,66) 1107 Tổng 93(5,25) 347(19,59) 1331(57,16) 1771 Bảng 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ Đánh giá thái độ n % Kém Trung bình Tích cực Tổng 314 771 686 1771 17,73 43,53 38,74 100 Bảng 7: Đánh giá thái độ nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771) Đánh giá thực hành N % Không đạt Trung bình Khá trở lên Tổng 137 170 1464 1771 7,74 9,60 82,67 100 Bảng 8: Đánh giá thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (n=1771) TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 77 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 73 - 78, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 4. Bàn luận 4.1. Tỉ lệ cho bú mẹ Qua nghiên cứu trên 1771 bà mẹ cho thấy100% bà mẹ đều cho con bú sữa mẹ, nhưng chỉ có 56,6% bà mẹ cho bú trong vòng 1 giờ sau sinh. Kết quả này cao hơn so với một số nghiên cứu gần đây trên thế giới (từ 31% đến 41%) [2] [8] và nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi (2009) tại Bệnh viện Hùng Vương (BVHV) [1]. Mặc dù, tỷ lệ cho bú sau sinh đã có cải thiện song vẫn còn thấp theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Riêng về tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong khoảng thời gian sau sinh ở bệnh viện là rất thấp 28,46%, đây là con số đáng lưu ý, nó phản ánh kiến thức và thái độ NCBSM của các bà mẹ cũng như hiệu quả của việc tư vấn NCBSM. Do vậy cần phải có những phương án tư vấn thiết thực và hiệu quả hơn nữa cho các thai phụ và bà mẹ trong thời gian khám thai và sinh con tại bệnh viện Ở bảng 7, chỉ có hơn 1/3 bà mẹ có thái độ tích cực về NCBSM, kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Mbada và cs [4]. Ở bảng 9, 37,44% các bà mẹ đã được tập huấn NCBSM, cũng thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu của Mbada (khoảng 70%) [4]. Nghiên cứu của Mbada và cs (2013) cho rằng những bà mẹ được tập huấn NCBSM có kiến thức, thái độ và thực hành NCBSM tốt hơn các bà mẹ chưa được tập huấn (p<0,001) [4]. Do vậy, cần tiếp tục tăng cường và hoàn thiện công tác truyền thông, tập huấn, tư vấn cho các bà mẹ trước và sau sinh tại Bệnh viện để nâng cao nhận thức, thái độ Yếu tố Thực hành Tổng P Không đạt Trung bình Khá trở lên 1. Học vấn Mù chữ 11(18,64) 10(16,95) 38(64,41) 59 0,003 Biết chữ 96(7,11) 128(9,48) 1126(83,41) 1350 Cấp 3 trở lên 30(8,29) 32(18,84) 300(82,87) 362 Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771 2. Nơi khám thai BV H.Vương 56(6,85) 64(7,83) 697(85,31) 817 0,001Nơi khác 81(8,49) 106(11,11) 767(80,40) 954 Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771 3. Kiến thức Không đạt 38 (41,30) 25 (27,17) 29 (31,52) 92 0,001 Trung bình 37 (10,36) 52 (14,94) 259 (74,42) 348 Khá trở lên 62 (4,66) 93 (6,99) 1176 (88,35) 1331 Tổng 137 (7,74) 170 (9,60) 1464 (82,67) 1771 4. Tập huấn NCBSM Có 31(4,68) 53(7,99) 579(87,33) 663 0,001Không 106(9,57) 117(10,56) 885(79,87) 1108 Tổng 137(7,74) 170(9,60) 1464(82,67) 1771 Bảng 9: Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành NCBSM trong thời gian hậu sản tại BV và sau khi trở về nhà. 4.2. Kiến thức của bà mẹ về cho con bú mẹ Bảng 5 có 75,16% bà mẹ có kiến thức chung về NCBSM đạt khá. Cụ thể hơn 80% các bà mẹ nhận biết các giá trị của sữa mẹ, tuy nhiên nhận thức về sự cần thiết cho trẻ bú sớm trước 1 giờ sau sinh, thời gian bú hoàn toàn 6 tháng đầu, thời gian bắt đầu ăn dặm, và cho bú đến 24 tháng tuổi thì vẫn còn thấp (khoảng 16-65%) (bảng 4). Kết quả này cũng tương đương các nghiên cứu được công bố gần đây trên thế giới [2], [4]. Bảng 6 cho thấy các yếu tố liên quan đến thiếu kiến thức NCBSM bao gồm độ tuổi dưới 25, bà mẹ sinh con so, và các bà mẹ không khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương. Bệnh viện Hùng Vương là một bệnh viện chuyên khoa lớn tại TP HCM, do vậy những bà mẹ đến sinh tại Bệnh viện Hùng Vương có thể đến từ nhiều địa phương khác nhau. Trong khi đó, việc truyền thông giáo dục cho các bà mẹ về NCBSM ở các cơ sở y tế khác nhau là không đồng đều, đặc biệt nhất là những bà mẹ sinh con lần đầu, tuổi dưới 25 là không thể tránh khỏi. Qua kết quả nghiên cứu cho chúng ta một bằng chứng thực tiễn rất quan trọng rằng: việc thực hiện truyền thông giáo dục NCBSM trong thời kỳ tiền sản và hậu sản tại Bệnh viện Hùng Vương cho tất cả các bà mẹ đến khám thai và sinh tại bệnh viện là vô cùng quan trọng, điều này có thể đảm bảo tất cả các bà mẹ đều được nâng cao kiến thức, thái độ và biết thực hành bú mẹ đúng cách sau khi xuất viện. Đặc biệt, lưu ý các bà mẹ dưới 25 tuổi, sinh con so và các bà mẹ không khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương. 4.3. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ Kết quả bảng 8 cho thấy có 51,1% các bà mẹ thực hành đạt NCBSM. Tỉ lệ này cao hơn so với nhiều nghiên cứu khác của các tác giả khác trên thế giới[2], [4], [8]. Điều này có thể giải thích rằng tại bệnh viện Hùng Vương, công tác tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ và hướng dẫn thực hành cho con bú mẹ đã được đẩy mạnh tích cực ở khoa sinh và khoa hậu sản. Bảng 9 cũng cho thấy, những bà mẹ có trình độ văn hóa thấp, các bà mẹ sinh con so có thực hành NCBSM không tốt bằng các bà mẹ khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Điều này phù hợp với thực tế, các bà mẹ NGÔ THỊ THANH THẢO, TRẦN THỊ HỒNG THẮM, HUỲNH THỊ MINH DUNG, NGUYỄN THỊ THU HÀ, VŨ THỊ HÀ 78 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H sinh con rạ có thể có cơ hội được tiếp cận với giáo dục truyền thông, tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn, cùng thêm một số kinh nghiện nuôi con, nên thường tự tin, ít lúng túng hơn trong thực hành so với những bà mẹ sinh con lần đầu. Và cũng vậy, những bà mẹ có trình độ văn hóa cao, cơ hội tiếp nhận các nguồn thông tin nuôi con bằng sữa mẹ dễ dàng qua nhiều kênh truyền thông và khả năng tiếp thu vấn đề cũng cao hơn những mẹ có trình độ thấp. Kết quả trên cho chúng ta thấy nơi khám thai cũng đóng vai trò quan trọng trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, những nơi khám thai có công tác tư vấn, truyền thông nuôi con bằng sữa mẹ tích cực sẽ giúp cho các bà mẹ có kiến thức, thái độ tích cực và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn, điều này là phù hợp với kết quả của nghiên cứu. 5. Kết luận Tỉ lệ chung có cho bú mẹ sau sinh tại Bệnh viện Hùng Vương là 100%. Trong đó, tỷ lệ cho bú mẹ trong 1 giờ sau sinh chiếm 56,63%, bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm ở bệnh viện là 28,46%. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức khá chiếm tỉ lệ 75,16%; tỉ lệ về thái độ tích cực NCBSM là 38,74%; tỉ lệ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ đạt tỉ lệ khá 51,1%. Có mối tương quan giữa thái độ tích cực NCBSM và nơi khám thai; giữa kiến thức và tiền sử sản khoa cũng như nơi khám thai; giữa thực hành và tiền sử sản khoa, trình độ học vấn cũng như nơi khám thai; và giữa tập huấn cho con bú mẹ và kiến thức, thái độ, thực hành. Kiến nghị Qua nghiên cứu tình hình NCBSM và các yếu tố liên quan tại bện viện Hùng Vương năm 2017, chúng tôi xin được kiến nghị: Cần tăng cường tư vấn cho tất các bà mẹ trước và ngay sau sinh để nâng cao tỉ lệ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu, cho bú hoàn toàn 6 tháng đầu và kéo dài đến 24 tháng; Cần tăng cường chương trình tư vấn và điều chỉnh nội dung NCBSM để nâng cao chất lượng truyền thông và tư vấn. Công tác truyền thông tư vấn NCBSM nên được áp dụng với tất cả các bà mẹ trong thời gian trước và sau sinh tại Bệnh viện. Cần tập trung tư vấn, giáo dục các nội dung cốt lõi về NCBSM như lợi ích và phương pháp NCBSM. Cần lưu ý đến các bà mẹ sinh con lần đầu, các bà mẹ có độ tuổi dưới 25, các bà mẹ không khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương, các bà mẹ có trình độ văn hóa thấp Tài liệu tham khảo 1. Lê Thị Yến Phi (2009) “Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sanh tại BVHV năm 2009”. 2. Ali Mohamed Al-Binali (2012). “Breastfeeding knowledge, attitude and practice among school teachers in Abha female education district, Southwestern Saudi arabia”. International Breastfeeding Journal,7:10 3. Black RE, Victora CG, Walker SP (2013). Maternal and child undernutrition and overweight in low-income and midle-income countries,Lancet; published online. 4. Chidozie E Mbada, Adekemi E Olowookere, Joel O Faronbi, Folasade C Oyinlola-Aromolaran, at al (2013). “Knowledge, attitude and techniques of breastfeeding among Nigerian mothers from a semi-urban community”. BMC Research Notes, 6:552 5. Gupta A (2004). Initiating breast feeding within one hour of birth. Egypt Public health association:1-12. 6. Kiranmai Tella, Shyamala Guruvare, Shripad Hebbar, Prashanth Adiga, Lavanya Rai, (2015) “Knowledge, attitude, and practice of techniques of breast-feeding among postnatal mothers in a coastal district of Karnataka”. 7. Oche MO, Umar AS, Ahmed H (2011). “Knowledge and practice of exclusive breastfeeding in Kware, Nigeria”.African Health Sciences Vol 11 No3 8. Poreddi Vijayalakshmi, Susheela T, Mythili D (2015) “Knowledge, attitudes, and breast feeding practices of postnatal mothers”: A cross sectional survey.
File đính kèm:
kien_thuc_thai_do_va_thuc_hanh_cho_bu_me_sau_sinh_cua_cac_ba.pdf

