Kiến thức, thái độ và mức độ phiền muộn của cặp vợ chồng vô sinh

Vô sinh là một vấn đề mang tính thời sự, cấp bách thu hút sự quan

tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, nhìn chung kiến thức về khả năng sinh

sản và vô sinh ở nhiều nước khá thấp. Nghiên cứu này nhằm mô tả kiến

thức về sinh sản của cặp vợ chồng vô sinh và khảo sát thái độ đối với

vô sinh và mức độ phiền muộn do vô sinh của cặp vợ chồng.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bộ

câu hỏi “Thang điểm kiến thức về sinh sản Cardiff” (Cardiff Fertility

Knowledge Scale - CFKS) và bộ câu hỏi “Thang đo phiền muộn do vô

sinh” (Infertility Distress Scale – IDS) để khảo sát 112 cặp vợ chồng

vô sinh đến khám và điều trị tại trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh,

Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế

Kết quả: Điểm trung bình “Thang điểm kiến thức về sinh sản Cardiff

- CFKS” của cặp vợ chồng là 54,8 ± 16,4%; không có sự khác nhau về

điểm số CFKS giữa người chồng và người vợ, giữa trình độ trung học và

trình độ đại học. Cặp vợ chồng đồng ý với quan điểm “Vô sinh là một

bệnh”,”Vô sinh nên được điều trị”, tuy nhiên, không chắc chắn với quan

điểm “ Vô sinh là một khuyết tật”. Họ đồng ý sử dụng thuốc hỗ trợ sinh

sản, có con từ thụ tinh trong ống nghiệm hay nhận con nuôi và không

đồng ý với quan điểm ly hôn hay kết hôn lần nữa khi bị vô sinh. Người

vợ có mức độ phiền muộn do vô sinh ở mức độ vừa. Trung bình điểm số

“Thang đo phiền muộn do vô sinh – IDS” của người vợ là 37,96 ± 4,96.

Kết luận: Kiến thức về sinh sản và vô sinh của cặp vợ chồng ở mức

độ trung bình. Họ có thái độ khá tích cực về vô sinh

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ và mức độ phiền muộn của cặp vợ chồng vô sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thái độ và mức độ phiền muộn của cặp vợ chồng vô sinh

Kiến thức, thái độ và mức độ phiền muộn của cặp vợ chồng vô sinh
NGUYỄN THỊ LÊ NA, HỒ THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH
64
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nguyễn Thị Lê Na, Hồ Thị Thanh Tâm, Lê Minh Tâm, Cao Ngọc Thành 
Trường Đại học Y Dược Huế
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ MỨC ĐỘ PHIỀN MUỘN
CỦA CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Lê Na,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/11/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/11/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Vô sinh, kiến thức, 
thái độ, phiền muộn.
Keywords: Infertility, 
Knowledge, Attitude, Distress.
Tóm tắt
Vô sinh là một vấn đề mang tính thời sự, cấp bách thu hút sự quan 
tâm của toàn xã hội. Tuy nhiên, nhìn chung kiến thức về khả năng sinh 
sản và vô sinh ở nhiều nước khá thấp. Nghiên cứu này nhằm mô tả kiến 
thức về sinh sản của cặp vợ chồng vô sinh và khảo sát thái độ đối với 
vô sinh và mức độ phiền muộn do vô sinh của cặp vợ chồng. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bộ 
câu hỏi “Thang điểm kiến thức về sinh sản Cardiff” (Cardiff Fertility 
Knowledge Scale - CFKS) và bộ câu hỏi “Thang đo phiền muộn do vô 
sinh” (Infertility Distress Scale – IDS) để khảo sát 112 cặp vợ chồng 
vô sinh đến khám và điều trị tại trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, 
Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế
Kết quả: Điểm trung bình “Thang điểm kiến thức về sinh sản Cardiff 
- CFKS” của cặp vợ chồng là 54,8 ± 16,4%; không có sự khác nhau về 
điểm số CFKS giữa người chồng và người vợ, giữa trình độ trung học và 
trình độ đại học. Cặp vợ chồng đồng ý với quan điểm “Vô sinh là một 
bệnh”,”Vô sinh nên được điều trị”, tuy nhiên, không chắc chắn với quan 
điểm “ Vô sinh là một khuyết tật”. Họ đồng ý sử dụng thuốc hỗ trợ sinh 
sản, có con từ thụ tinh trong ống nghiệm hay nhận con nuôi và không 
đồng ý với quan điểm ly hôn hay kết hôn lần nữa khi bị vô sinh. Người 
vợ có mức độ phiền muộn do vô sinh ở mức độ vừa. Trung bình điểm số 
“Thang đo phiền muộn do vô sinh – IDS” của người vợ là 37,96 ± 4,96. 
Kết luận: Kiến thức về sinh sản và vô sinh của cặp vợ chồng ở mức 
độ trung bình. Họ có thái độ khá tích cực về vô sinh. 
Từ khóa: Vô sinh, kiến thức, thái độ, phiền muộn.
Abstract 
KNOWLEDGE, ATTITUDE AND LEVELS OF 
INFERTILITY DISTRESS OF INFERTILE COUPLES
Infertility is an urgent issue which is attracting attention of the whole 
society. However, knowledge about reproduction and infertility is still poor 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 64 - 69, 2017
65
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
in many populations. This study aims to describe knowledge about reproduction and infertility of infertile 
couples and to investigate attitude toward infertility and levels of infertility distress of infertile couples. 
Subjects and Methods: cross-sectional descriptive study, using designed questions including 
Cardiff Fertility Knowledge Scale (CFKS) and Infertility Distress Scale (IDS) to survey 112 infertile 
couples who were examined and treated at the Center for Reproductive Endocrinology & Infertility, 
Hue University Hospital. 
Results: Average scores of Cardiff Fertility Knowledge Scale (CFKS) of the couples were 54.8 
± 16.4%. No differences in CFKS scores between husband and wife, between secondary and 
higher education. Couples agreed with the view “Infertility is a disease”,”Infertility should be treaded 
medically”, however, not sure with “Infertility is a disability”. They agreed using fertility drugs, having 
a child from IVF or adoption and disagreed with the views divorced or remarried because of infertility. 
The wife had levels of infertility distress in moderation (Average scores of Infertility Distress Scale – 
IDS of wifes were 37.96 ± 4.96). 
Conclusion: Knowledge about reproduction and infertility of the couples at the intermediate level. 
They have positive attitudes toward infertility and its social consequences. 
Keywords: Infertility, Knowledge, Attitude, Distress.
1. Đặt vấn đề 
Vô sinh là một trong những vấn đề chính của 
chiến lược sức khỏe sinh sản. Vô sinh được định 
nghĩa là tình trạng một cặp vợ chồng không có 
thai sau một năm chung sống, giao hợp đều 
đặn, không sử dụng các phương pháp ngừa thai 
và mong muốn có con. Theo thống kê trên thế 
giới, tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 8-15% các cặp 
vợ chồng. Ở Việt Nam hiện nay, vô sinh chiếm 
khoảng 8% tổng số cặp vợ chồng, tương đương 
với gần một triệu cặp vợ chồng. Nguyên nhân 
gây vô sinh do người chồng chiếm khoảng 30-
40%, do người vợ khoảng 40%, cả hai vợ chồng 
là khoảng 10% và đôi khi cũng không tìm ra 
nguyên nhân, khoảng 10%[2]. Kiến thức về khả 
năng sinh sản và vô sinh là khá quan trọng, giúp 
cho các cặp vợ chồng tránh được một số yếu tố 
ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản và giúp 
các cặp vợ chồng ra quyết định đúng khi nào thì 
nên tìm tới sự giúp đỡ của các chuyên gia để có 
thể có con. Tuy nhiên, nhìn chung kiến thức về 
khả năng sinh sản và vô sinh ở nhiều nước khá 
thấp [6][11].
Nhằm mục đích mô tả kiến thức về sinh sản - vô 
sinh, khảo sát thái độ đối với vô sinh và mức độ 
phiền muộn do vô sinh của các cặp vợ chồng vô 
sinh, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Khảo 
sát kiến thức, thái độ và mức độ phiền muộn của 
cặp vợ chồng vô sinh”
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm các cặp vợ chồng vô 
sinh đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh 
sản và Vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược 
Huế từ tháng 9/2015 đến tháng 3/2016.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, với cỡ mẫu:
n: cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý.
Z: với mức tin cậy mong muốn của ước lượng là 
95%=> Z=1,96
p: tỷ lệ phần trăm chính xác kiến thức về sinh 
sản. Theo nghiên cứu ở Nhật Bản sử dụng phiên 
bản tiếng Nhật của Thang điểm kiến thức về sinh 
sản Cardiff, tỷ lệ phần trăm chính xác kiến thức về 
NGUYỄN THỊ LÊ NA, HỒ THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH
66
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
sinh sản của nhóm đối tượng nam giới và phụ nữ 
trong độ tuổi từ 18 đến 50 là 53,1%[8].
c: độ sai số của nghiên cứu. Lấy c= 0,07.
Vậy cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý là 196, tương 
đương 98 cặp vợ chồng.
Nội dung bộ câu hỏi phỏng vấn:
“Thang đo kiến thức về sinh sản Cardiff” 
(Cardiff Fertility Knowledge Scale - CFKS) gồm 13 
câu hỏi điều tra kiến thức trong 3 lĩnh vực: (1) một 
số yếu tố làm giảm khả năng sinh sản; (2) quan 
niệm sai lầm về khả năng sinh sản; (3) thông tin cơ 
bản về vô sinh. Mỗi câu hỏi có 3 đáp án “Đúng”, 
“Sai” hoặc “Không biết”, đối tượng nghiên cứu 
chọn 1 đáp án, mỗi câu trả lời chính xác được một 
điểm, câu trả lời không chính xác hoặc “Không 
biết” không có điểm. Điểm được tổng kết, chia cho 
tổng số câu hỏi, rồi nhân 100 sẽ có tỷ lệ phần trăm 
chính xác kiến thức về sinh sản (0-100%). Hệ số tin 
cậy Cronbach’s Alpha của CFKS ban đầu là 0,79; 
phân tích nhân tố khám phá cho thấy rằng tất cả 
các câu hỏi đều có hệ số tải nhân tố >0,3 [7]
Thái độ đối với vô sinh: bộ câu hỏi đưa ra dựa 
trên bộ câu hỏi được xác nhận trước đó [9][10]. 
Có 9 câu hỏi theo thang đo Likert 5, các thái độ 
tích cực được tính từ 1 điểm là “Rất không đồng 
ý” tới 5 điểm là “Rất đồng ý” và ngược lại với thái 
độ tiêu cực được tính từ 1 điểm là “Rất đồng ý” tới 
5 điểm là “Rất không đồng ý”. Thang đo Likert 5 
đánh giá 5 mức theo hướng đồng ý với ý kiến tích 
cực 1,00-1,80 là rất không đồng ý; 1,81-2,60 
là không đồng ý; 2,61-3,40 là không có ý kiến/ 
không chắc chắn; 3,41-4,20 là đồng ý và 4,21-
5,00 là rất đồng ý và ngược lại đối với các thái 
độ tiêu cực.
“Thang đo phiền muộn do vô sinh” (Infertility 
Distress Scale – IDS) được xây dựng bởi Akyuz [4] 
có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha đối với nhóm nữ 
vô sinh là 0,899 và được Arab-sheybani điều tra 
và xác nhận [5] có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 
đối với nhóm nữ vô sinh là 0,91; cả 2 nghiên cứu 
đều có hệ số tải nhân tố >0,3 với mỗi câu hỏi. Bao 
gồm 16 câu theo hướng mức độ phiền muộn tăng 
dần, được tính điểm từ 1 điểm (“Không bao giờ”) 
tới 4 điểm (“Luôn luôn”) và 5 câu theo hướng mức 
độ phiền muộn giảm dần, được tính điểm ngược 
lại. Tổng điểm đạt được từ 21 đến 84, tỷ lệ theo 
mức độ phiền muộn tăng dần. Áp dụng thang đo 
Likert 4 vào IDS thì có thể chia IDS thành 4 mức: 
mức 1 (phiền muộn mức độ nhẹ) ứng với điểm số từ 
21,00 đến 36,75; mức 2 (phiền muộn mức độ vừa) 
ứng với điểm số từ 36,76 đến 52,50; mức 3 (phiền 
muộn mức độ nặng) ứng với điểm số từ 52,51 đến 
68,25 và mức 4 (phiền muộn mức độ rất nặng) ứng 
với điểm số từ 68,26 đến 84,00.
Xử lý số liệu sử dụng phần mềm SPSS 22.0
3. Kết quả
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
- Tuổi: tuổi trung bình của người chồng là 
33,06 ± 4,52, trong đó tập trung nhiều nhất ở lớp 
tuổi 30-34 tuổi (42,9%). Ở người vợ, độ tuổi trung 
bình trẻ hơn so với chồng (30,36 ± 4,99) và 42,9% 
trong độ tuổi 25-29.
- Trình độ học vấn: tất cả đối tượng trong mẫu 
nghiên cứu đều có trình độ trung học (cấp II, cấp 
III, trung cấp) trở lên, phân bố tương tự nhau trong 
nhóm người chồng và người vợ, và hơn 50% các 
cặp vợ chồng có trình độ đại học (cao đẳng, đại 
học, sau đại học).
- Nghề nghiệp: không có đối tượng thất nghiệp 
trong mẫu nghiên cứu. Chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 2 
nhóm chồng và vợ, tương ứng là công nhân – viên 
chức (69,6% - 57,1%).
- Địa dư: 62,5% số đối tượng sống ở thành thị, 
nhóm còn lại chủ yếu ở nông thôn (28,6%).
- Loại vô sinh : chủ yếu thuộc nhóm vô sinh 
nguyên phát (vô sinh I), chiếm 82,1%.
- Khoảng thời gian mong con: khoảng thời 
gian mong con trung bình của cặp vợ chồng là 
3,73 ± 2,60 năm. Khoảng thời gian mong con 
dài nhất là 15 năm.
3.2 Kiến thức về sinh sản và vô sinh
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của “Thang 
đo kiến thức sinh sản Cardiff - CFKS” ở mức chấp 
nhận được là 0,687. Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-
Olkin) > 0,5 nên phân tích nhân tố khám phá phù 
hợp với dữ liệu và thống kê Chi-square của kiểm 
định Bartlett (Sig.) đạt mức ý nghĩa là 0,000 nên 
các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên 
phạm vi tổng thể.
Điểm CFKS tính chung cho cả vợ và chồng là 
54,8 ± 16,4%. Không có sự khác nhau về kiến thức 
sinh sản giữa vợ và chồng, giữa nhóm có trình độ 
trung học và nhóm có trình độ đại học, giữa nhóm 
phiền muộn do vô sinh (Infertility Distress Scale 
– IDS) ở mức độ chấp nhận được (0,601). Hệ số 
KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) = 0,640 nên phân tích 
nhân tố khám phá phù hợp với dữ liệu và thống kê 
Chi-square của kiểm định Bartlett (Sig.) đạt mức 
ý nghĩa là 0,000 nên các biến quan sát có tương 
quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Hệ số tải 
nhân tố đều > 0,3 nên kết quả được chấp nhận.
Không có sự khác nhau về trung bình tổng điểm 
IDS giữa nhóm người vợ vô sinh I và nhóm người 
vợ vô sinh II, giữa nhóm người vợ có trình độ trung 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 64 - 69, 2017
67
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Nhóm Điểm CFKS SD P
Chung (n=224) 54,8% 16,4%
Chồng (n=112) 53,6% 17,0%
0,443 (>0,05)
Vợ (n=112) 56,1% 15,9%
Trình độ học vấn
Trung học (n=105) 51,7% 17,2%
0,145 (>0,05)
Đại học(n=119) 57,6% 15,3%
Địa dư
Thành thị (n=140) 56,5% 16,2%
0,054 (>0,05)
Khác (n=84) 52,1% 16,6%
Bảng 1: Điểm “Thang đo kiến thức sinh sản Cardiff-CFKS”sống ở thành thị và nhóm sống ở những nơi khác 
(nông thôn, miền núi, miền biển) (p>0,05).
Khoảng 75% người chồng và 85% người vợ biết 
hút thuốc lá làm giảm khả năng sinh sản ở cả nam 
và nữ. Trên 85% cả chồng và vợ biết rằng các bệnh 
lây truyền qua đường tình dục có thể làm giảm khả 
năng sinh sản ở cả nam và nữ. Chỉ có 9% người 
chồng và 4% người vợ biết lối sống lành mạnh không 
đồng nghĩa với khả năng sinh sản bình thường. 
Kiến thức về những thông tin cơ bản liên quan 
vô sinh: 49% chồng và 65% vợ biết về khoảng thời 
gian mà họ cần đến sự giúp đỡ của chuyên gia để 
có con, 38% ở cả vợ và chồng quan tâm đến tỷ lệ 
vô sinh trong cộng đồng.
Có 46% người vợ cho rằng nữ giới không bao 
giờ có kinh vẫn có thể có con và 23% người vợ biết 
rằng béo phì có thể gây vô sinh ở nữ giới. 
Có 44% người chồng biết khả năng sản xuất 
tinh trùng bình thường không đồng nghĩa với khả 
năng sinh sản bình thường, 62% người chồng biết 
rằng có chức năng cương dương vật bình thường 
không có nghĩa khả năng sinh sản của anh ta bình 
thường và 67% biết mắc quai bị sau dậy thì có thể 
dẫn đến vô sinh ở nam giới.
Tỷ lệ nguồn thông tin cung cấp kiến thức về sinh 
sản và vô sinh chủ yếu từ truyền thông đại chúng 
(báo đài, tivi,) và Internet là 49,9%. Nguồn 
thông tin từ nhân viên y tế khá hạn chế (17,0%).
3.3 Phần thái độ đối với vô sinh
Cặp vợ chồng rất đồng ý với ý kiến “Vô sinh nên 
được điều trị”, đồng ý với ý kiến “Vô sinh là một 
bệnh” và “Cặp vợ chồng đã có con, họ cũng có thể 
gặp khó khăn trong việc có con lần nữa”; không chắc 
chắn với ý kiến “Vô sinh là một khuyết tật”; không 
đồng ý với ý kiến “Vô sinh là một vấn đề đơn giản”.
Cặp vợ chồng không đồng ý với ý kiến “Một 
người phụ nữ không thể có con là một lý do để ly 
hôn” và “Một người phụ nữ không thể có con là 
một lý do chính đáng để người đàn ông kết hôn 
lần nữa”; rất đồng ý với ý kiến “Một cặp vợ chồng 
không thể có con, họ nên nhận con nuôi”, “Một em 
bé được sinh ra từ thụ tinh trong ống nghiệm được 
xã hội chấp nhận” và “Thuốc hỗ trợ sinh sản được 
xã hội chấp nhận”.
3.4 Mức độ phiền muộn do vô sinh 
gây ra cho người vợ
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của Thang đo 
Biểu đồ 1: Tỷ lệ phần trăm chính xác kiến thức về sinh sản và vô sinh
Ý kiến Điểm TB SD
Vô sinh là một bệnh. 3,62 0,87
Vô sinh là một khuyết tật. 2,74 0,99
Vô sinh là một vấn đề đơn giản. 2,16 0,94
Vô sinh nên được điều trị. 4,38 0,76
Một người phụ nữ không thể có con là một lý do để ly hôn. 3,88 0,97
Một người phụ nữ không thể có con là một lý do chính đáng để người đàn 
ông kết hôn lần nữa. 3,90 0,94
Một cặp vợ chồng không thể có con, họ nên nhận con nuôi. 3,61 0,74
Một em bé được sinh ra từ thụ tinh trong ống nghiệm được xã hội chấp nhận. 4,33 0,75
Thuốc hỗ trợ sinh sản được xã hội chấp nhận. 4,17 0,73
Bảng 2: Thái độ đối với vô sinh
Nhóm IDS SD P
Người vợ (n=112) 37,96 4,96
Loại vô sinh
I (n=92) 38,24 4,73
0,742 (>0,05)
II (n=20) 36,70 5,88
Khoảng thời gian 
mong con
1-5 năm (n=88) 37,75 4,57
0,028 (<0,05)
6 năm trở lên (n=24) 38,75 6,24
Trình độ học vấn
Trung học (n=51) 38,00 5,36
0,263 (>0,05)
Đại học (n=61) 37,93 4,65
Bảng 3: Điểm “Thang đo phiền muộn do vô sinh”
NGUYỄN THỊ LÊ NA, HỒ THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH
68
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
học và nhóm người vợ có trình độ đại học. Có sự 
khác nhau về trung bình tổng điểm IDS giữa nhóm 
người vợ có khoảng thời gian mong con từ 1 đến 5 
năm và nhóm người vợ có khoảng thời gian mong 
con từ 6 năm trở lên.
4. Bàn luận
Tuổi trung bình của người chồng là 33,06 ± 
4,52, ở người vợ, độ tuổi trung bình thấp hơn so 
với chồng (30,36 ± 4,99). Kết quả này phù hợp 
với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Ngọc 
(33,07 ± 5,51; 30,29 ± 5,16) [1]. Trình độ học 
vấn phân bố chủ yếu ở nhóm có trình độ đại học, 
tương đương ở 2 nhóm người chồng và người vợ 
(51,8% - 54,5%) cao hơn kết quả nghiên cứu của 
Nguyễn Thị Như Ngọc (31,6% - 33,1%) [1]. Điều 
này có thể do đây là nghiên cứu do đối tượng tự 
đánh vào bộ câu hỏi (có giải thích) và chỉ tiến hành 
lấy khi đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ 
vô sinh nguyên phát cao hơn hẳn vô sinh thứ phát 
(82,1% - 17,9%), phần nào thể hiện nhu cầu tiếp 
nhận dịch vụ điều trị vô sinh ở người chưa có đứa 
con nào bức thiết hơn là đã có một con. Khoảng 
thời gian mong con trung bình của cặp vợ chồng là 
3,73 ± 2,60 năm, dài nhất là 15 năm, kết quả này 
phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trịnh Thế Sơn 
(3,2 ± 2,9 năm; 17 năm)[3]
Kiến thức về sinh sản và vô sinh còn khiêm tốn, 
với tỷ lệ phần trăm chính xác trung bình 54,8% 
(SD=16,4), kết quả này phù hợp với nghiên cứu 
của Bunting và cộng sự trên phạm vi 79 quốc gia 
với nhóm đối tượng nam/nữ từ 18 – 50 tuổi, sống 
chung với bạn tình, quan hệ tình dục không bảo vệ 
và cố gắng thụ thai trên 6 tháng (56,9%)[7]. Chúng 
tôi coi đây là một tỷ lệ khiêm tốn so với tỷ lệ tối đa 
là 100%, kiến thức về sinh sản và vô sinh chỉ ở mức 
trung bình. Tuy vậy, kết quả này tốt hơn những gì 
đã được báo cáo về các bệnh khác như 37,05% 
chính xác kiến thức chung về HIV/AIDS hay 33% 
chính xác kiến thức về ung thư. Không có sự khác 
nhau về tỷ lệ phần trăm chính xác giữa người vợ và 
người chồng, giữa nhóm có trình độ trung học và 
nhóm có trình độ đại học (p>0,05). Tỷ lệ phần trăm 
chính xác trung bình trong nghiên cứu của chúng 
tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Eri 
Maeda và cộng sự ở Nhật Bản trên nhóm đối tượng 
nam giới và phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 50, 
hiện đang sống chung với vợ/chồng/bạn tình và 
đang cố gắng có thai ít nhất 6 tháng (53,1% chính 
xác) [8]. Như vậy trình độ học vấn (trung học- đại 
học) hay chỉ số phát triển con người (HDI) chưa 
thấy ảnh hưởng đến kiến thức sinh sản và vô sinh. 
Phần lớn nguồn thông tin kiến thức mà đối tượng 
có được là từ truyền thông đại chúng, Internet (49,9 
%), trong khi nguồn thông tin chính thức từ nhân 
viên y tế chỉ khoảng 17,0%. Việc tiếp cận nguồn 
thông tin kiến thức lĩnh vực này chủ yếu từ truyền 
thông đại chúng và Internet góp phần lý giải không 
có sự khác biệt về kiến thức sinh sản và vô sinh giữa 
vợ và chồng, giữa trình độ học vấn trung học và 
đại học. Kết quả này cũng cho chúng ta một lưu ý 
đặc biệt là nếu chúng ta tận dụng tốt các phương 
tiện này, như có những trang web chuyên về y học 
sinh sản để phổ cập kiến thức cộng đồng thì kết 
quả sẽ khả quan hơn và bên cạnh đó cán bộ y tế 
cũng cần phát huy vai trò truyền thông tốt hơn.
Cặp vợ chồng có chiều hướng tích cực với ý 
kiến vô sinh là “một bệnh” và “nên được điều trị”, 
tuy nhiên, không chắc chắn với ý kiến “Vô sinh là 
một khuyết tật”. Cặp vợ chồng không đồng ý với ý 
kiến vô sinh là một lý do để “ly hôn” và “người đàn 
ông kết hôn lần nữa”, đây là 2 ý kiến theo hướng 
tiêu cực với chuẩn mực xã hội ở Việt Nam. Cặp vợ 
chồng đồng ý với ý kiến “Một cặp vợ chồng không 
thể có con, họ nên nhận con nuôi”, “Một em bé 
được sinh ra từ thụ tinh ống nghiệm được xã hội 
chấp nhận” và “Thuốc hỗ trợ sinh sản được xã hội 
chấp nhận”, kết quả này tương đương với nghiên 
cứu của Albofotouh và cộng sự trên nhóm đang 
điều trị IVF (61,5% - 92,3% - 87,5% đồng ý)[10].
Trung bình tổng điểm “Thang đo phiền muộn do 
vô sinh - IDS” trong nghiên cứu của chúng tôi là 
37,96 ± 4,96; phiền muộn ở mức 2 (mức độ vừa). 
Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của 
Akyuz (45,94 ± 10,9) [4] và nghiên cứu của Arab-
sheybani (59,10 ± 12,74)[5] trên cùng nhóm đối 
tượng người nữ của cặp vô sinh. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi chỉ có sự khác biệt tổng điểm IDS theo 
khoảng thời gian mong con mà không có sự khác 
biệt tổng điểm IDS theo trình độ học vấn, trong khi 
nghiên cứu Akyuz và nghiên cứu của Arab-sheybani 
thời gian vô sinh cũng tương quan thuận với tổng 
điểm IDS nhưng trình độ học vấn thì có tương quan 
nghịch với tổng điểm IDS[4],[5]. Điều này có thể là 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 64 - 69, 2017
69
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
do cách lấy số liệu của chúng tôi là không tách riêng 
người vợ và người chồng của một cặp vợ chồng 
khi tiến hành phỏng vấn. Thật vậy, hệ số tin cậy 
Cronbach’s Alpha của chúng tôi chỉ ở mức độ chấp 
nhận được (0,601), thấp hơn rất nhiều so với kết 
quả Akyuz và cộng sự thu được (0,899)[4].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu các cặp vợ chồng vô sinh đến 
khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và 
Vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế, 
chúng tôi ghi nhận điểm trung bình “Thang đo kiến 
thức về sinh sản Cardiff” của cặp vợ chồng là 54,8 
± 16,4%, không có sự khác nhau về kiến thức sinh 
sản – vô sinh giữa người chồng và người vợ, giữa 
trình độ trung học và trình độ đại học, giữa cặp 
vợ chồng sống ở thành thị và cặp vợ chồng sống ở 
những nơi khác (p>0.05).
Thái độ đối với vô sinh của cặp vợ chồng vô sinh 
và mức độ phiền muộn do vô sinh: Cặp vợ chồng 
đồng ý với các ý kiến: “Vô sinh là một bệnh”, “Vô 
sinh nên được điều trị”, “Một cặp vợ chồng không 
thể có con, họ nên nhận con nuôi”, “Một em bé 
được sinh ra từ thụ tinh trong ống nghiệm được xã 
hội chấp nhận” và “Thuốc hỗ trợ sinh sản được xã 
hội chấp nhận”.
- Cặp vợ chồng không đồng ý với ý kiến “Một 
người phụ nữ không thể có con là một lý do để ly 
hôn” và “Một người phụ nữ không thể có con là một 
lý do chính đáng để người đàn ông kết hôn lần nữa”.
Người vợ có mức độ phiền muộn do vô sinh ở 
mức độ vừa với điểm số “Thang đo phiền muộn do 
vô sinh” là 37,96 (SD = 4,96). Thời gian mong con 
từ 6 năm trở lên có mức độ phiền muộn cao hơn có 
ý nghĩa thống kê so với người có thời gian mong 
con từ 1 đến 5 năm (p<0,05).
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Như Ngọc và công sự (2011), “Tình trạng lo âu và ảnh hưởng 
của lo âu trên những cặp vợ chồng đến khám vô sinh tại bệnh viện Hùng 
Vương”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tập 15(2), 219-223.
2. Phạm Văn Lình, Cao Ngọc Thành (2007), “Vô sinh”, Sản phụ khoa, 
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 642-643.
3. Trịnh Thế Sơn và cộng sự (2014), “Nghiên cứu mối liên quan giữa 
nồng độ một số hormone sinh sản với thời gian vô sinh ở bệnh nhân 
vô sinh nguyên phát”, Tạp chí y dược hoc Quân sự, 2014, số 9, 88-94.
4. Akyuz A, Gurhan N, Baklr B (2008), “Development and validation of an 
Infertility Distress Scale for Turkish Women”, TAF Prev Med Bull, 2008, 
Vol 7, No 6, p469–476.
5. Arab-sheybani et al (2012), “Admissibility Investigation and Validation 
of Infertility Distress Scale (IDS) in Iranian Infertile Women”, International 
Journal of Fertility and Sterility, Apr-Jun 2012, Vol 6, No 1, p37-44.
6. Bretherick KL, Fairbrother N, Avila L, Harbord SH, Robinson WP 
(2010), “Fertility and aging: do reproductive-aged Canadian women 
know what they need to know?”, Fertil Steril, 2010, 93:2162–8.10.1016/j.
fertnstert.2009.01.064.
7. Bunting L, Tsibulsky I, Boivin J (2013), “Fertility knowledge and 
beliefs about fertility treatment: findings from the International Fertility 
Decision-making Study”, Hum Reprod (Oxford, England), 2013, 28:385–
97.10.1093/humrep/des402.
8. Eri Maeda et al (2015), “A cross sectional study on fertility knowledge in 
Japan, measured with the Japanese version of Cardiff Fertility Knowledge 
Scale (CFKS-J)”, Reproductive Health,2015, 12:10, doi:10.1186/1742-
4755-12-10.
9. Kjellberg S, Sydsjö G, Glebe K, Sundelid M. (2000), “Knowledge of 
and attitudes towards infertility held by members of two county councils in 
Sweden”, Acta Obstet Gynecol Scand, 2000, Vol 79, No 11, p1015–1020
10. Mostafa A Abolfotouh t al (2013), Knowledge, attitude, and practices 
of infertility among Saudi couples, International Journal of General 
Medicine, 2013, Vol 6, p563-573.
11. Wyndham N, Marin Figueira PG, Patrizio P (2012), “A persistent 
misperception: assisted reproductive technology can reverse the 
“aged biological clock”, Fertil Steril, 2012, 97:1044–7.10.1016/j.
fertnstert.2012.02.015.

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_va_muc_do_phien_muon_cua_cap_vo_chong_vo_s.pdf