Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học

sinh trung học.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích

trên 400 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm,

thành phố Hải Dương.

Kết quả: Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng về nguy cơ

“có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình dục một lần”, có tới 82% trong tổng

số học sinh cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá

thai không an toàn. Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là

biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3%

và 78%) trong khi xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà học

sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. Trong 400 học sinh được hỏi chỉ có

50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân và cũng chỉ

11,3% trong số họ có sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục.

Kết luận: nghiên cứu này khẳng định một lần nữa những thiếu sót

trong việc cung cấp thông tin về phòng tránh thai cho học sinh trung

học để giúp các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn đúng

đắn trong vấn đề phòng tránh thai

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học

Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
LÊ VĂN AN, NGUYỄN ĐÀO THANH TÂM, NGUYỄN HOÀNG BÁCH, ALBERTO ALBERTI
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 63 - 68, 2018
6362
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
hiện nhiều phản ứng PCR riêng cho từng genotype 
đặc hiệu rất tốn kém, mất nhiều công sức. Phương 
pháp dựa trên khuếch đại xuất hiện khá sớm là sử 
dụng các mồi chung (degenerate primers), để khuếch 
đại một vùng đích của L1 cho nhiều genotype, sản 
phẩm khuếch đại được biotine hóa và lai với các 
probe đặc hiệu genotype được cố định trên màng 
cellulose và nhuộm màu với phức hợp streptavidine 
– cơ chất (kỹ thuật lai ngược trên giải giấy) [5], [9]. 
Hạn chế của khuếch đại dùng mồi chung cho nhiều 
genotype khác nhau là hiệu suất khuếch đại không 
cao và sản phẩm có thể phản ứng chéo giữa các 
genotype. Kỹ thuật khuếch đại - lai dot blot do hảng 
Việt Á (Tp HCM) dựa trên nguyên lý tương tự được 
sử dụng ở một số phòng xét nghiệm ở Việt Nam 
để phát hiện 24 genotype HPV gồm 14 genotype 
có nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 
52, 56, 58, 59, 68, 82); 8 genotype nguy cơ thấp 
(6, 11, 42, 43, 61, 70, 72, 81) và 02 genotype có 
thể nguy cơ cao (53, 66 ). Kỹ thuật này có ưu điểm 
phổ phát hiện bao gồm cả nhiều genotype nguy cơ 
thấp, vì vậy có thể phát hiện các nhiễm trùng phối 
hợp nhiều hơn 01 genotype ở trên một bệnh nhân. 
Kỹ thuật realtime PCR các genotype nguy cơ 
cao của hảng Nurex (Sassari, Italy) dùng trong 
nghiên cứu này xác định được 14 type HPV nguy 
cơ cao, trong đó cho biết cụ thể hai genotype 
HPV16/HPV18 và 12 genotype còn lại chỉ cho 
biết mẫu nghiệm có nhiễm HPV thuộc một trong 
các genotype nguy cơ cao nằm trong nhóm mix 
1 và mix 2, mà không cho biết một genotype cụ 
thể. Quy trình realtime PCR của một số hảng như 
realtime PCR của hảng Abbott và Cobas HPV assay 
của hảng Roche (Roche Molecular Diagnostics) xác 
định 14 genotype có nguy cơ cao được dùng ở 
nhiều nơi trên thế giới cho kết quả tương tự [6].
Do dùng các mồi đặc hiệu với các genotype 16/18 
và các genotype nguy cơ cao nên kỹ thuật realtime 
PCR này có ưu điểm là có độ nhạy cao hơn so với 
các kỹ thuật khác [6]. Các nhiễm trùng phối hợp giữa 
HPV16 hay HPV18 và 12 genotype còn lại trong phực 
hợp có thể phát hiện được bằng các tín hiệu màu HEX 
và FAM. Tuy nhiên, Realtime PCR các genotype nguy 
cơ cao không xác định các nhiễm trùng phối hợp giữa 
các genotype nguy cơ cao và các genotype của nhóm 
nguy cơ thấp. Mức độ chính xác của kỹ thuật realtime 
PCR được kiểm tra bằng giải trình tự ở 7 mẫu dương 
tính với realtime PCR các genotype nguy cơ cao cho 
kết quả phù hợp ở Bảng 3, trong đó 2 mẫu thuộc vào 
mix 1 và mix 2, giải trình tự xác định là HPV 58 và 
HPV 68. Bảy (07) mẫu không xác định trong realtime 
PCR genotype nguy cơ cao, giải trình tự phát hiện các 
genotype nguy cơ thấp như Bảng 3.
5. Kết luận
Sử dụng kỹ thuật realtime PCR phát hiện HPV các 
genotype nguy cơ cao để phát hiện các genotype 
HPV trên 383 mẫu nghiệm ngoáy cổ tử cung/ âm 
đạo, tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao là 13,8%, trong 
đó HPV16 chiếm tỷ lệ là 50,6%, tiếp đến HPV18 
là 26,4%, các genotype còn lại là 22,7%. Kết quả 
của realtime PCR được kiểm tra bằng giải trình tự 
ở 14 mẫu nghiệm cho thấy có sự phù hợp cao của 
realtime PCR được sử dụng.
Lời cám ơn: Các tác giả cám ơn GS Fransco 
Turrini, công ty Nurex, Sassari, Italy đã hổ trợ sinh 
phẩm trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Leto MD, Santos Júnior GF, Porro AM, Tomimori J. Human papillomavirus infection: 
etiopathogenesis, molecular biology and clinical manifestations. Ann Bras. Dermatol.; 2011 
Mar-Apr; 86(2): 306-17. 
2. Steben M, Duarte-Franco E. Human papillomavirus infection: epidemiology and 
pathophysiology. Gynecol Oncol. 2007 Nov; 107(2 Suppl 1):S2-5
3. Doorbar J, Quint W, Banks L, Bravo IG, Stoler M, Broker TR, Stanley MA. The biology 
and life-cycle of human papillomaviruses. Vaccine; 2012 Nov 20; 30 Suppl 5: F55–F70.
4. Munoz N, Bosch FX, de Sanjose S, Herrero R, Castellsague X, Shah KV, et al. 
Epidemiologic classification of human papillomavirus types associated with cervical 
cancer. N. Engl. J. Med; 2003 Feb 6; 348 (6):518-27.
5. Molijn A, Kleter B, Quint W, van Doorn LJ. Molecular diagnosis of human papillomavirus 
(HPV) infections, J. Clin. Virol.; 2005 Mar; 32 Suppl 1: S43–S51.
6. Park Y, Lee E, Choi J, Jeong S, Kim HS. Comparison of the Abbott Real Time High-Risk 
Human Papillomavirus (HPV), Roche Cobas HPV, and Hybrid Capture 2 assays to direct 
sequencing and genotyping of HPV DNA. J. Clin. Microbiol.; 2012 Jul; 50(7):2359-65.
7. Burk RD, Harari A, Chen Z. Human papillomavirus genome variants, Virology; 2013 
Oct; 445(1-2):232-43. 
8. Louie KS, de Sanjose S and Mayaud P. Epidemiology and prevention of human 
papillomavirus and cervical cancer in sub-Saharan Africa: a comprehensive review, Trop. 
Med. Int. Health; 2009 Oct;14(10):1287-302.
9. Gravitt PE, Peyton CL, Alessi TQ, Wheeler CM, Coutlee F, Hildesheim A, et al. 
Improved amplification of genital human papillomaviruses. J. Clin. Microbiol. 2000 
Jan;38(1):357-61.
10. International human papillomavirus reference center, truy cập tháng 6 năm 2017, tại 
địa chỉ: 
Nguyễn Ngọc Minh, Đỗ Đức Văn 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ TRÁNH THAI 
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Ngọc Minh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
05/01/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 12/01/2018
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, 
thực hành, tránh thai, học sinh 
trung học.
Keyword: Knowledge, 
attitudes, practices, 
contraception, high school 
students.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học 
sinh trung học. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích 
trên 400 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, 
thành phố Hải Dương. 
Kết quả: Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng về nguy cơ 
“có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình dục một lần”, có tới 82% trong tổng 
số học sinh cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá 
thai không an toàn. Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là 
biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3% 
và 78%) trong khi xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà học 
sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. Trong 400 học sinh được hỏi chỉ có 
50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân và cũng chỉ 
11,3% trong số họ có sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục. 
Kết luận: nghiên cứu này khẳng định một lần nữa những thiếu sót 
trong việc cung cấp thông tin về phòng tránh thai cho học sinh trung 
học để giúp các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn đúng 
đắn trong vấn đề phòng tránh thai.
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, thực hành, tránh thai, học sinh trung học. 
Abstract 
THE KNOWLEDGE, ATTITUDES AND PRACTICE OF 
CONTRACEPTION AMONG HIGH SCHOOL STUDENTS
Objectives: To assess knowledge, attitudes and use of contraception 
among high school students. 
Materials and methods: A cross-sectional descriptive study on 400 
students of Nguyen Binh Khiem high school, Hai Duong city. 
Results: Almost 80 percent of students believed they could be pregnant 
even sex only one time, up to 82% of students said that infertility is a 
result of unsafe abortion. Most of participants know that using condoms 
Kiến thức về vấn đề phá thai 
Hầu hết HS đã nghe đến việc phá thai chiếm 
89,2% và phần lớn cho rằng “vô sinh” là hậu quả 
nghiêm trọng của việc phá thai (trong đó 77,7% 
nam và 85,5% nữ). Trong khi “đau bụng” lại chiếm 
tỷ lệ thấp, trung bình 12,5%.
3.2 Thái độ của học sinh về tránh thai
Trong tổng số 400 học sinh được hỏi có đến 
78% cho rằng “bao cao su là giải pháp cho vị 
thành niên khi có QHTD” và tỷ lệ khá cao không 
nghĩ “biện pháp tránh thai chỉ dành cho người đã 
kết hôn” (68%), gần 80% HS cho biết nên cung cấp 
một số biện pháp tránh thai cho vị thành niên khi 
có QHTD.
Phần lớn số HS được khảo sát đồng ý với chương 
trình truyền trông, giáo dục về SKSS vị thành niên 
bắt đầu trước tuổi dậy thì (86,3%) và chưa đến 1/5 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 63 - 68, 2018
6564
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
and emergency contraceptive pills are safety ontraception accounted for 80.3%, 78% while the rate 
of coitus interruptus was low (10.7%). Among 400 students, only 50 of them (12.5%) had sex before 
marriage and just 11.3% of participants (who had sex before marriage) used contraception when having 
sex. Conclusion: This study confirms once again the shortcomings in the provision of information about 
pregnancy prevention for high school students that can help students more opportunities to arrive on 
time and choose effective contraceptive methods.
Keywords: Knowledge, attitudes, practices, contraception, high school students.
1. Đặt vấn đề
Quan hệ tình dục (QHTD) sớm và phá thai ở tuổi 
vị thành niên tại nhiều nước đang tăng lên ở mức 
báo động, đặc biệt là các nước đang phát triển. 
Hoạt động tình dục của vị thành niên đến sớm và 
nhiều hơn so với trước kia tùy thuộc vào từng Quốc 
gia và nền văn hóa khác nhau. Ở các nước phát 
triển như Newzealand có 49% đối tượng vị thành 
niên (15-19 tuổi) có QHTD trước hôn nhân, Ở Mỹ 
là 46% và Thụy Điển là 54,2% nam VTN đã có 
QHTD [1]. Tại Indonesia, theo cơ quan kế hoạch 
Quốc gia đã đưa ra thông báo hơn một nửa số 
thanh thiếu niên ở Jakarta đã tham gia QHTD trước 
hôn nhân [2].
Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra SAVY 2 
năm 2008 có 9,5% thanh niên đã từng có QHTD 
trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là 7,6%). Tỷ 
lệ nam thanh niên đã từng có QHTD khi chưa lập 
gia đình là 13,6%, cao hơn hai lần tỷ lệ này ở nữ 
là 5,2% (con số tương ứng ở SAVY 1 là 11,1% 
và 4%). Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới 
trong giai đoạn hiện đại hóa, tuổi QHTD lần đầu 
trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 
19,6 tuổi ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2. 
Trong khi đó, kiến thức về mang thai và tránh thai 
ở thanh thiếu niên Việt Nam còn rất hạn chế, thanh 
thiếu niên chủ yếu biết được thông tin về mang thai 
hay kế hoạch hóa gia đình qua các nguồn thông 
tin đại chúng. Mức độ biết các thông tin này từ nhà 
trường, gia đình, nhân viên y tế/dân số hay các cơ 
sở tư vấn sức khỏe sinh sản còn rất khiêm tốn [3], 
[4]. Đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh 
thai ở học sinh trung học” được tiến hành với mục 
đích mô tả kiến thức, thái độ và thực hành trong 
việc phòng tránh thai nhằm xác định các thiếu sót 
trong việc tiếp cận vấn đề này đối với học sinh (HS) 
trung học.
2. Đối tượng và phương 
pháp ngiên cứu
Đối tượng: HS trung học (khối lớp 10, 11, 12)
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt 
ngang có phân tích.
Cỡ mẫu nghiên cứu: 400 học sinh cả 3 khối 
được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu 
nhiên đơn.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: nghiên cứu 
được tiến hành tại trường Trung học phổ thông 
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thành phố Hải Dương từ 
tháng 3/2013 đến tháng 6/2013.
Thu thập - xử lý - phân tích số liệu: số liệu được 
thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền, khuyết danh. Sử 
dụng phần mềm SPSS để phân tích số liệu. Kết quả 
được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%), giá 
trị trung bình, giá trị OR.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Kiến thức của học sinh về các vấn 
đề dậy thì và tránh thai
Kiến thức của học sinh về dậy thì ở nam và 
nữ: Nhìn chung tỷ lệ HS nam và HS nữ có hiểu biết 
về các dấu hiệu dậy thì thuộc giới tính của mình 
hơn là giới tính khác. Có đến 68,9 % HS cho rằng 
“có kinh nguyệt” là biểu hiện quan trọng nhất ở 
dậy thì nữ và 65,2% nghĩ biểu hiện dậy thì ở nam 
là “vỡ giọng, giọng ồm”. Trong khi đó số HS biết 
đến biểu biện “có ham muốn về tình dục” trong 
tuổi dậy thì ở cả nam và nữ chiếm tỷ lệ không cao 
(tương ứng 17,5% , 36,5%). 
Tuổi hành kinh và mộng tinh lần đầu ở HS 
nam và nữ: HS nữ hành kinh lần đầu chủ yếu ở 
nhóm tuổi từ 13-15 tuổi (65,6%) và 14-16 tuổi là 
nhóm tuổi mà phần lớn HS nam mộng tinh lần đầu 
(25,6%). Đáng chú ý, có đến 67,6% HS nam không 
nhớ tuổi mộng tinh lần đầu trong khi chỉ có 19% 
số HS nữ không nhớ hành kinh lần đầu ở tuổi nào. 
Bố/mẹ là đối tượng mà HS lựa chon chia sẻ về 
mộng tinh và hành kinh nhiều nhất (41,5%), tiếp 
đến là bạn bè (6,5%) và anh/chị/em (4,7%). Tỷ 
lệ HS không nói với ai chiếm tỷ lệ khá cao 15,3%, 
đặc biệt là không có HS nào chia sẻ điều này với 
thầy cô giáo.
Kiến thức về mang thai
Kiến thức về tình dục và mang thai của học sinh 
khá tốt, có 78,7% nữ và 67,6% nam biết đúng “có 
thể mang thai hay không dù chỉ quan hệ tình dục 
một lần”. Tỷ lệ học sinh biết đúng “Thời điểm nào 
trong chu kỳ kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai 
nhất” là thấp nhất (nam 16,2% và nữ 28,5%).
Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Tỷ lệ khá cao học sinh được khảo sát đã nghe 
về biện pháp tránh thai chiếm 87% (nam 82,1% và 
nữ 91%). Trong đó sử dụng bao cao su và thuốc 
tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được 
biết đến nhiều nhất, lần lượt là 80,3% và 78%. Xuất 
tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà các 
đối tượng nghiên cứu biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. 
Nội dung
Nam Nữ
pSố lượng 
biết đúng
Tỷ lệ % 
biết đúng
Số lượng 
biết đúng
Tỷ lệ % 
biết đúng
Từ khi nào một bạn nam có thể 
làm bạn nữ có thai 112 62,6 128 57,9 > 0,05
Từ khi nào một bạn nữ có thể 
có thai 79 44,1 157 71 < 0,001
Thời điểm nào trong chu kỳ 
kinh nguyệt bạn gái dễ mang 
thai nhất
29 16,2 63 28,5 > 0,05
Có thể mang thai hay không dù 
chỉ QHTD một lần 121 67,6 174 78,7 < 0,05
Bảng 1. tỷ lệ HS hiểu biết về tình dục và mang thai
Biểu đồ 1. Tỷ lệ HS hiểu biết về các biện pháp tránh thai
 3 
Có thể mang thai hay 
không dù chỉ QHTD một 
lần 
121 67,6 174 78,7 < 0,05 
Kiến thức về tình dục và mang thai của học sinh khá tốt, có 78,7% nữ và 67,6% nam biết 
đúng “có thể mang thai hay không dù chỉ quan hệ tình dục một lần”. Tỷ lệ học sinh biết 
đúng “Thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai nhất” là thấp nhất 
(nam 16,2% và nữ 28,5%). 
Kiến thức về các biện pháp tránh thai 
Tỷ lệ khá cao học sinh được khảo sát đã nghe về biện pháp tránh thai chiếm 87% (nam 
82,1% và nữ 91%). Trong đó sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp 
tránh thai được biết đến nhiều nhất, lần lượt là 80,3% và 78%. Xuất tinh ngoài âm đạo là 
biện pháp tránh thai mà các đối tượng nghiên cứu biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. 
 74,3 
85,1
 70,4 
84,2
 43,1 
48,3
 21,8 
28,5
 19,4 
15,7
 9,6 11,2
 16,8 
8,6
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Bao cao su Thuốc tránh
thai khẩn cấp
Viên uống
tránh thai
hàng ngày
Dụng cụ t ... inh Anh Tuấn (ở nam là 15,67, ở nữ là 
14,49) [6] và sớm hơn nghiên cứu SAVY 2 (ở nam 
là 15,52, ở nữ là 14,21) [7]. Điều này cũng giống 
như nhiều tác giả khác nhận xét là tuổi dậy thì có 
xu hướng giảm đi, nữ thường dậy thì sớm hơn nam 
1 năm. Có đến 69,8% HS biết ít nhất một dấu hiệu 
dậy thì ở nữ trở lên và 65,2% HS biết ít nhất một 
dấu hiệu dậy thì ở nam trở lên. Tỷ lệ này cao hơn 
so với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng (68,3%) và 
Nguyễn Văn Nghị (57,8%) [8]. Như vậy khi được 
hỏi về các dấu hiệu dậy thì ở chính giới tính của 
học sinh thì các em trả lời đúng các dấu hiệu dậy 
thì của giới tính mình tốt hơn các em HS giới tính 
khác. Mặt khác, đây cũng là một câu hỏi tế nhị, 
rất nhiều bạn đã ngại ngùng khi nói đến các dấu 
hiệu dậy thì của người khác giới, nhất là các bạn 
gái, nên có thể đối tượng biết nhưng vẫn trả lời là 
“không biết”. Chia sẻ về vấn đề mộng tinh và hành 
kinh lần đầu tiên, bố/mẹ là đối tượng được học 
sinh lựa chọn đông nhất (41,5%). Kết quả này phù 
hợp với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng. 
Trong khi nghiên cứu của A.Ab Rahman & cộng 
sự tại Malaysia người đầu tiên HS chia sẻ về mộng 
tinh và hành kinh lần đầu lại là bạn bè, chiếm tỷ 
lệ rất cao 64,4% [9]. Theo kết quả một cuộc khảo 
sát trực tuyến tại Mỹ năm 2010 (có 829 ông bố và 
1113 bà mẹ đã tham gia) cho biết tỷ lệ chia sẻ về 
các vấn đề tình dục, giới tính giữa họ và con cái 
của họ rất thấp nên đã khuyến nghị hỗ trợ thông 
tin liên lạc giữa cha mẹ và con về chủ đề tình dục 
(cả con trai cũng như con gái) [9]. 
Đã có sự khác biệt giữa nghiên cứu ở Việt Nam 
và nước ngoài, có thể ở nước ta cha, mẹ thường 
gần gũi với con cái hơn. Như vậy, bố mẹ là người 
rất quan trọng và cần phải có nhận thức tốt về sức 
khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên, đặc biệt là 
các đặc điểm của giai đoạn dậy thì của các em. 
Kiến thức về tình dục và mang thai của HS tương 
đối tốt, có tới 62,6% HS nam biết đúng “Từ khi nào 
một bạn nam có thể làm bạn nữ có thai” và 71% HS 
nữ biết đúng “Từ khi nào một bạn nữ có thể có thai”. 
Tỷ lệ này cao hơn hẳn nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng 
(42,5%) [5] và Nguyễn Văn Nghị (33,5%) [8]. Có 
thể do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại 
trường trung học phổ thông nên kiến thức của các em 
về mang thai cao hơn của các tác giả trên. Để khảo 
sát sâu hơn kiến thức của đối tượng về sự thụ thai, một 
câu hỏi được đưa ra là “Theo bạn, QHTD vào thời 
điểm nào thì người phụ nữ dễ có thai nhất” với nhiều 
đáp án khác nhau, trong đó đáp án đúng là thời 
điểm giữa hai kỳ kinh: Có 22,4% đối tượng đã trả lời 
đúng câu này, tỷ lệ trả lời đúng khá cao so với SAVY 
2 (13%) [7] và thấp hơn nghiên cứu của Đinh Anh 
Tuấn (38,5%) [6]. Tỷ lệ trả lời đúng có sự khác biệt 
giữa nam và nữ (HS nam trả lời đúng là 16,2% và HS 
nữ trả lời đúng là 28,5%), tỷ lệ này tương đồng trong 
SAVY 2 (tỷ lệ nam trả lời đúng câu này chỉ bằng 
khoảng 40% nữ) [7] và trong nghiên cứu của A.Ab 
Rahman & cộng sự (điểm số kiến thức trung bình của 
nữ về mang thai cao hơn đáng kể so với nam giới) 
[10]. Sự khác biệt trong các nghiên cứu của chúng 
tôi so với tác giả Đinh Anh Tuấn có thể là do chúng 
tôi tiến hành trên vị thành niên chưa lập gia đình nên 
kiến thức của đối tượng nghiên cứu về mang thai thấp 
hơn (trong nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn ĐTNC đã 
kết hôn là 12,2%). Hiểu biết về thời điểm có thai của 
HS nữ cao hơn HS nam có thể do khi mang thai ngoài 
ý muốn thì nữ giới thường phải chịu hậu quả nặng nề 
hơn nam giới nên các em nữ dành nhiều thời gian tìm 
hiểu về vấn đề này. Với câu hỏi “Có thể mang thai 
hay không dù chỉ QHTD một lần” có sự tương đồng 
trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị (32%) [8], 
và nghiên cứu của A.Ab Rahman & cộng sự (30,4%) 
[10]. Tuy nhiên trong nghiên cứu này tỷ lệ lại khá cao 
73,1%. Có lẽ, nghiên cứu của chúng tôi được tiến 
hành tại một trường trung học phổ thông thuộc đô thị 
loại 2 nên các yếu tố kinh tế, xã hội cũng có thể tác 
động nhiều đến hiểu biết của các em về mang thai.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ HS đã nghe về 
biện pháp tránh thai khá cao (87%). Tỷ lệ này thấp 
so với nghiên cứu của D.S Correria và cộng sự (2009) 
tại Brazil là 95,5% [11] cao hơn nghiên cứu của Đỗ 
Thu Hồng là 81,7% [5] và của Nguyễn Văn Nghị là 
61,2% [8]. Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt 
về độ tuổi trong từng đối tượng nghiên cứu. Các biện 
pháp tránh thai mà HS biết nhiều nhất là Bao cao su 
(80,3%) và thuốc tránh thai khẩn cấp (78%). Trong 
điều tra SAVY1 tỷ lệ này lần lượt là 93% và 42%, 
trong điều tra SAVY 2 tỷ lệ này là 93,5% và 42%. Tỷ 
lệ này trong nghiên cứu của tác giả Đinh Anh Tuấn là 
93,4% và 65,4% còn trong nghiên cứu của Đỗ Thu 
Hồng là 63,1% và 58,3%. Còn trong nghiên cứu của 
D.S Correria và cộng sự cho thấy thuốc tránh thai 
khẩn cấp là biện pháp tránh thai mà HS biết đến 
nhiều nhất 72,4% [11], tương đồng với nghiên cứu 
của R. Ahern và cộng sự với tỷ lệ 69,6% [12]. Như 
vậy có thể thấy rằng kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi khá tương đồng với nghiên cứu D.S Correria & 
cộng sự và nghiên cứu của R. Ahern & cộng sự. Tuy 
nhiên lại thấp hơn so với nghiên cứu của Đinh Anh 
Tuấn, SAVY 1 và SAVY khi các nghiên cứu này cho 
tỷ lệ trên 90% đối tượng biết về bao cao su. Điều khác 
biệt này có thể lý giải là do trong điều tra SAVY 1 và 
SAVY 2 các điều tra viên đọc từng biện pháp tránh 
thai cho đối tượng nghe và chọn nên có thể kết quả 
cao hơn của chúng tôi. Các biện pháp tránh thai còn 
lại như viên thuốc tránh thai hàng ngày, dụng cụ tử 
cung, xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh đều 
cho thấy tỷ lệ đối tượng biết đến khá thấp. Kết quả 
này cũng tương đồng với nghiên cứu của một số tác 
giả như Nguyễn Văn Nghị, Đinh Anh Tuấn và Đỗ 
Thu Hồng. Có lẽ học sinh có xu hướng tìm hiểu nhiều 
hơn đến bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp vì 
đây là các biện pháp tránh thai phù hợp hơn với lứa 
tuổi và hoàn cảnh sống của các em [6].
Phần lớn HS cho rằng bao cao su là giải pháp 
tốt khi có quan hệ tình dục (78%). Kết quả cao 
hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng, khi tỷ lệ 
này chỉ đạt 47,4% [5]. Đó là do nghiên cứu của 
tác giả Đỗ Thu Hồng diễn ra tại trường trung học 
cở sở nên số HS đã có quan hệ tình dục rất thấp, 
thậm chí là chưa có. Để khảo sát thái độ đối với 
các biện pháp tránh thai chúng tôi đã đưa ra một 
quan điểm: “Bạn có đồng ý sử dụng biện pháp 
tránh thai chỉ dành cho người đã kết hôn” trong 
đó có tới 68% HS không đồng tình nhưng vẫn thấp 
hơn trong nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (90%) 
[6]. Như vậy đối tượng nghiên cứu cho thấy họ có 
thái độ tích cực đối với các biện pháp tránh thai, 
có thể là do các biện pháp tránh thai ngoài tác 
dụng tránh thai còn phòng tránh được các bệnh lây 
qua đường tình dục. Với câu hỏi “Bạn có đồng ý 
cần cung cấp một số biện pháp tránh thai cho đối 
tượng vị thành niên nếu họ không kiềm chế được, 
có quan hệ tình dục trước hôn nhân” có tới 79,3% 
HS đồng ý. Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Đỗ Thu 
Hồng là 52%. Điều này cho thấy nhu cầu quan hệ 
tình dục đã xuất hiện ở học sinh trung học cở sở và 
tăng lên ở học sinh trung học phổ thông.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 69 - 75, 2018
6968
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
Số HS đã có quan hệ tình dục trong nghiên 
cứu này chiếm 12,5% (trong đó nam 14,5% và 
nữ 9,5%). Tỷ lệ này theo kết quả điều tra SAVY 
2 ở nhóm tuổi 18 - 21 tuổi là 12,3% và ở nhóm 
tuổi 14 - 17 tuổi là 1,65% [4]. Nghiên cứu của M. 
Larson & cộng sự (2007) tại các trường trung học 
ở Thụy Điển (học sinh 18 tuổi đang học tại các 
trường trung học) cho thấy có đến 78% HS đã quan 
hệ tình dục [13]. Nghiên cứu của A.T. Owolabi & 
cộng sự (2005) tại 5 trường trung học ở Nigeria tỷ 
lệ này là 63% HS [14]. Nghiên cứu của A.M.Karim 
(2003) ở Ghana (đối tượng từ 12 - 24 tuổi chưa lập 
gia đình) cho thấy 38,5% có quan hệ tình dục trước 
hôn nhân [15]. Các nghiên cứu của chúng ta cho 
thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có quan hệ tình dục 
trước hôn nhân thấp hơn rất nhiều nghiên cứu của 
một số tác giả nước ngoài, điều này cho thấy quan 
niệm và thái độ về tình dục của trẻ vị thành niên ở 
các nước như Thụy Điển, Nigeria, Ghana cởi mở 
hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy “vô sinh” 
là hậu quả của phá thai không an toàn có số người 
biết đến cao nhất (82%). Đây cũng là hậu quả mà 
đối tượng nghiên cứu biết đến nhiều nhất trong 
nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (78,3%) [6] và Đỗ 
Thu Hồng (38,9%) [5]. Các hậu quả khác của phá 
thai không an toàn như: Nhiễm khuẩn, thủng tử 
cung, dính buồng tử cung, băng huyết được biết 
đến rất thấp dưới 50%. Kết quả của 3 nghiên cứu 
là khá tương đồng, có thể hiện nay vô sinh đang 
là một thực trạng đáng báo động vì thế chủ đề này 
xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện truyền 
thông nên đối tượng biết đến nhiều nhất.
5. Kết luận
Quan khảo sát trên trên 400 học sinh trường 
Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành 
phố Hải Dương, chúng tôi phát hiện: 
- Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng 
về nguy cơ “có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình 
dục một lần”, 82% trong tổng số học sinh cho rằng 
“vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá 
thai không an toàn. 
- Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn 
cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều 
nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3% và 78%) trong khi 
xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà 
học sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. 
- Có 50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục 
trước hôn nhân và cũng chỉ 11,3% trong số họ có 
sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục. 
Như vậy, nghiên cứu này khẳng định một lần 
nữa những thiếu sót trong việc cung cấp thông tin 
về phòng tránh thai cho học sinh trung học để giúp 
các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn 
đúng đắn trong vấn đề phòng tránh thai.
Tài liệu tham khảo
1. J.Anne và S.Smith (2007), Adolescent: Sexuality and sexual assault-why they 
think they know it all, and why we still have so much to learn, FAMSACA, Melbourne.
2. Hans David Tampubolon (2010), Indonesia sees pre-marital sex active among 
teenager. McClatychy - Tribune Business News, truy cập ngày 01/11/2011, tại trang.
3. Bộ Y tế và Tổng Cục Thống Kê (2003), Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY1.
4. Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), “Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY2”.
5. Đỗ Thu Hồng (2010), Kiến thức, thái độ về SKSS vị thành niên và một số yếu 
tố liên quan của học sinh trường THCS Tân Triều - Thanh Trì - Hà Nội, Luận văn 
thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
6. Đinh Anh Tuấn (2011), Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về sức 
khỏe sinh sản của người lao động trẻ di cư tại khu công nghiệp Đình Trám - Bắc 
Giang, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân Y.
7. Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY2.
8. Nguyễn Văn Nghị (2011), Nghiên cứu quan niệm, hành vi tình dục và sức 
khỏe sinh sản ở vị thành niên huyện Chí Linh - Hải Dương, Luận án tiến sỹ Y tế 
công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
9. E. K. & Koo Wilson, H. P, (2010), “Mothers, fathers, sons, and daughters: gender 
differences in factors associated with parent-child communication about sexual 
topics”, Reprod Health, 7, tr. p 31.
10. A. Ab Rahman, Ab Rahman, R., Ibrahim, M. I., Salleh, H., Ismail, S. B., Ali, S. H., 
Muda, W. M., Ishak, M. & Ahmad, A, (2011), “Knowledge of sexual and reproductive 
health among adolescents attending school in Kelantan, Malaysia”, Southeast Asian 
J Trop Med Public Health, 42(3), tr. p 717-25.
11. D. S. Correia, Pontes, A. C. và các cộng sự. (2009), “Adolescents: contraceptive 
knowledge and use, a Brazilian study”, ScientificWorldJournal, (9), tr. 37-45.
12. R. Ahern, Frattarelli, L. A., Delto, J. & Kaneshiro, B, (2010), “Knowledge and 
awareness of emergency contraception in adolescents”, J Pediatr Adolesc Gynecol, 
23(5), tr. p 273-8.
13. M. Larsson, Tyden, T. và các cộng sự. (2007), “Contraceptive use and 
associated factors among Swedish high school students”, Eur J Contracept Reprod 
Health Care, 12(2), tr. 119-124.
14. A. T. Owolabi, Onayade, A. A. và các cộng sự. (2005), “Sexual behaviour of 
secondary school adolescents in Ilesa, Nigeria: implications for the spread of STIs 
including HIV/AIDS”, J Obstet Gynaecol, 25(2), tr. 174-8.
15. A. M. Karim, Magnani, R. J. và các cộng sự. (2003), “Reproductive health risk 
and protective factors among unmarried youth in Ghana”, Int Fam Plan Perspect, 
29(1), tr. 14-24.
Lê Long Hồ(1), Phạm Dương Toàn(1), Vương Thị Ngọc Lan(2) 
(1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Đại học Y Dược TP.HCM
KẾT QUẢ THỤ TINH ỐNG NGHỆM
CỦA NHÓM BỆNH NHÂN “TIÊN LƯỢNG THẤP”
THEO PHÂN LOẠI POSEIDON
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Long Hồ, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 22/12/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
05/01/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 12/01/2018
Từ khóa: phân loại 
POSEIDON, đáp ứng kém, tiên 
lượng thấp, tỷ lệ thai diễn tiến, 
thụ tinh ống nghiệm.
Keyword: POSEIDON 
stratification, poor response, 
low prognosis, ongoing 
pregnancy rate, in-vitro fertility.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn khi điều trị thụ tinh ống 
nghiệm của các bệnh nhân tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu 
thực hiện trên các bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm được chẩn đoán 
là tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON (I, II, III, IV), từ tháng 
01/2014 đến tháng 12/2016 tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức. Các trường 
hợp không chọc hút noãn và xin noãn bị loại khỏi nghiên cứu. 
Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân 
loại theo POSEIDON về các đặc điểm cơ bản và đáp ứng buồng trứng. 
Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn sau khi sử dụng toàn bộ phôi từ một chu 
kỳ KTBT của nhóm I là 28,2%, nhóm II là 18,9%, nhóm III là 11,9% và 
nhóm IV là 16,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm 
phân loại với P < 0,001. 
Kết luận: Nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng phân loại của tiêu 
chuẩn POSEIDON khá tốt ở đặc điểm đáp ứng buồng trứng và kết quả 
thai của nhóm bệnh nhân có “tiên lượng thấp”. Kết quả nghiên cứu là 
cơ sở để thực hiện các nghiên cứu tiến cứu tiếp theo nhằm đưa ra các 
chiến lược điều trị cá thể hóa, cải thiện cơ hội thành công cho nhóm 
bệnh nhân tiên lượng thấp này.
Từ khóa: phân loại POSEIDON, đáp ứng kém, tiên lượng thấp, tỷ lệ 
thai diễn tiến, thụ tinh ống nghiệm. 
Abstract 
IVF OUTCOMES IN “LOW PROGNOSIS” PATIENTS 
CLASSIFIED FOLLOWEDTHE POSEIDON 
STRATIFICATION
Objectives: To identify the cumulative ongoing pregnancy rate in low 
prognosis IVF patients classified followed by POSEIDON stratification. 
Materials and methods: This was a retrospective cohort study 
conducted on low prognosis IVF patients classified by POSEIDON 

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_thai_do_thuc_hanh_ve_tranh_thai_o_hoc_sinh_trung_h.pdf