Kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy tại 2 xã/ phường thành phố Thái Bình
Tiến hành thực hiện đề tài với sự tham gia của 657 bà
mẹ tại xã Vũ Chính và phường Trần Lãm thành phố Thái
Bình về kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy chúng tôi
thu được: Kiến thức của các bà mẹ về dấu hiệu bệnh tiêu
chảy đúng chưa cao (41,8%); có 86,3% các bà mẹ cho là
bệnh tiêu chảy trẻ em là nguy hiểm. Kiến thức chung của
các bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy ở trẻ còn hạn
chế (điểm trung bình đạt 2,26/5); tỷ lệ trả trả lời cao nhất
là ăn uống không vệ sinh (90,0%); uống nước chưa sôi là
58,0%; vệ sinh cho trẻ không tốt là 49%; các nguyên nhân
khác chiếm tỷ lệ thấp. Kiến thức chung về phòng bệnh
tiêu chảy của các bà mẹ chỉ đạt điểm trung bình là 3,1/7;
tỷ lệ trả lời cao nhất biện pháp ăn uống và giữ vệ sinh là
86,5%; các biện pháp khác tỷ lệ trả lời dưới 50%
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy tại 2 xã/ phường thành phố Thái Bình
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 25 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỐM TẮT Tiến hành thực hiện đề tài với sự tham gia của 657 bà mẹ tại xã Vũ Chính và phường Trần Lãm thành phố Thái Bình về kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy chúng tôi thu được: Kiến thức của các bà mẹ về dấu hiệu bệnh tiêu chảy đúng chưa cao (41,8%); có 86,3% các bà mẹ cho là bệnh tiêu chảy trẻ em là nguy hiểm. Kiến thức chung của các bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy ở trẻ còn hạn chế (điểm trung bình đạt 2,26/5); tỷ lệ trả trả lời cao nhất là ăn uống không vệ sinh (90,0%); uống nước chưa sôi là 58,0%; vệ sinh cho trẻ không tốt là 49%; các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ thấp. Kiến thức chung về phòng bệnh tiêu chảy của các bà mẹ chỉ đạt điểm trung bình là 3,1/7; tỷ lệ trả lời cao nhất biện pháp ăn uống và giữ vệ sinh là 86,5%; các biện pháp khác tỷ lệ trả lời dưới 50%. Từ khóa: Bệnh tiêu chảy, kiến thức bà mẹ. ABSTRACT: KNOWLEDGE OF MOTHERS ON DIARRHOEA AT 2 COMMUNES/QUARTERS AT THAIBINH CITY This study was among 657 mothers at Vuchinh communes and Tranlam quarter in Thaibinh City on knowledge of diarrhoea. The results showed that: the rate of having right knowledge on diarrhoea signs among mothers was not high (41.8%). About 86.3% of mothers said that diarrhoea among chidlren was dangerous. The common knowledge of mothers on the cause of diarrhoea was low (average point of 2.26/5). The highest rate of answer was due to unhygiene food (90.0%); unboiled water drinking (58.0%); not-well hygiene for children (49.0%); the rate were low for other answer as the other causes. The common knowledge of mothers on disease prevention was at average point of 3.1/7;The highest rate of answers were eating and hygiene keeping (86.5%); other sollutions was at low rate (less than 50.0%). Key words: Diarrhoea, knowledge of mother. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam trong những năm gần đây, tình hình bệnh tiêu chảy có chiều hướng gia tăng và tiêu chảy cũng là một trong mười bệnh có tỉ suất mắc và chết cao trong nhiều thập niên qua. Tại Thái Bình, trong những năm qua tình hình mắc tiêu chảy còn diễn ra phức tạp, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi, nguy cơ tiêu chảy tái phát là rất cao do mầm bệnh vẫn tồn tại khá lâu trong môi trường và người lành mang bệnh [16]. Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng, chống tiêu chảy của người dân chưa thực sự đầy đủ do ít được bổ sung, cập nhật kiến thức, [8] [10]. Tình trạng ô nhiễm thực phẩm, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng, thói quen sử dụng các thực phẩm không an toàn, là yếu tố nguy cơ bệnh tiêu chảy và cũng là nguyên nhân gây phát tán dịch một cách nhanh chóng và nghiêm trọng. Để có thêm những thông tin về thực trạng này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu: Mô tả kiến thức của bà mẹ về bệnh và phòng bệnh tiêu chảy tại địa bàn nghiên cứu năm 2017 II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã/phường thuộc thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình 2.2. Đối tượng nghiên cứu Những bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sống tại 2 xã được lựa chọn * Thời gian nghiên cứu Nghiên cứu từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018. 2.3. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang Chọn mẫu và cỡ mẫu Ngày nhận bài: 05/04/2018 Ngày phản biện: 10/04/2018 Ngày duyệt đăng: 19/04/2018 KIẾN THỨC CỦA BÀ MẸ VỀ BỆNH TIÊU CHẢY TẠI 2 XÃ/ PHƯỜNG THÀNH PHỐ THÁI BÌNH Nguyễn Xuân Hải1, Phí Đức Long2, Ngô Thị Nhu2, Đặng Thị Vân Quý2, Đinh Thị Huyền Trang2 1. Trung tâm y tế thành phố Thái Bình 2. Trường Đại học Y Dược Thái Bình ( ) 2 2 2/ )( 1. p ppZn εα − = SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn26 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Từ công thức chúng tôi tính được cỡ mẫu là 325 bà mẹ và trên thực tế chúng tôi đã điều tra được 657 bà mẹ có con dưới 5 tuổi với xã Vũ Chính là 329 bà mẹ và phường Trần Lãm là 328 bà mẹ 2.4. Phương pháp xử lý số liệu - Các số liệu của đề tài nghiên cứu đã được nhập máy tính và phân tích dựa trên phần mềm Epi-info 6.04 và Epi - Data, sử dụng các thuật toán thống kê trong y học: tỷ lệ (%), test t, χ2,... - Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 3.1. Kiến thức của bà mẹ về dấu hiệu tiêu chảy ở trẻ Dấu hiệu tiêu chảy Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Phân lỏng ≥ 3 lần/ngày (đúng) 173 52,6 101 30,8 274 41,8 Phân nhiều nước, bất thường 120 36,5 172 52,4 292 44,4 Đi phân lỏng 1- 2 lần 8 2,4 17 5,2 25 3,8 Không biết 28 8,5 38 11,6 66 10,0 Bảng 3.1 cho thấy có 41,8 % số các bà mẹ được phỏng vấn trả lời đúng các dấu hiệu tiêu chuẩn; trong đó xã Vũ Chính tỷ lệ cao hơn (52,6%) phường Trần Lãm (30,8%); vẫn còn 10% các bà mẹ không có câu trả lời, không biết. Biểu đồ. 3.1. Kiến thức của bà mẹ về sự nguy hiểm của tiêu chảy ở trẻ (n=657) Khi điều tra các bà mẹ về sự nguy hiểm của bệnh tiêu chảy, có 86,3% các mẹ cho rằng bệnh có thể nguy hiểm; 10,5% cho ý kiến không biết. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 27 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Kết quả bảng 3.2 cho thấy kiến thức chung của các bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy đạt là 2,26/5; câu trả lời đạt tỷ lệ cao nhất đó là do ăn uống không vệ sinh (90,0%), sau đó đến do uống nước chưa sôi (58%); do vệ sinh cho trẻ không tốt là 49%, các lý do khác chiếm tỷ lệ thấp. Bảng 3.2. Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy ở trẻ Nguyên nhân Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Ăn thức ăn không vệ sinh 295 89,7 296 90,2 591 90,0 Uống nước chưa sôi 190 57,8 191 58,2 381 58,0 Trẻ bị bệnh kéo dài 62 18,8 39 11,9 101 15,4 Vệ sinh cho trẻ không tốt 181 55,0 141 43,0 322 49,0 Tiêm phòng chưa đầy đủ 48 14,6 38 11,6 86 13,1 Không biết 21 6,4 24 7,3 45 6,8 Khác 15 4,6 17 5,2 32 4,9 Điểm TBKT/Điểm TĐ 2,36/5 2,15/5 2,26/5 Bảng 3.3. Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ Cách phòng bệnh Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Giữ vệ sinh 278 84,5 256 78,0 534 81,3 Ăn uống sạch sẽ 294 89,4 274 83,5 568 86,5 Tiêm vắc xin 60 18,2 81 24,7 141 21,5 Sử dụng nước sạch 139 42,2 90 27,4 229 34,9 Sử dụng nhà tiêu hợp VS 96 29,2 70 21,3 166 25,3 Rửa tay trước ăn, sau VS 125 38,0 120 36,6 245 37,3 Giữ ấm cho trẻ 86 26,1 50 15,2 136 20,7 Không biết, khác 6 1,8 9 2,7 15 2,3 Điểm TBKT/Điểm TĐ 3,3/7 2,9/7 3,1/7 Qua bảng 3.3 cho thấy kiến thức chung của các bà mẹ được hỏi về phòng bệnh tiêu chảy là 3,1/7; điểm ở xã Vũ Chính cao hơn (3,3/7) phường Trần Lãm (2,9/7); trong đó đa số các bà mẹ trả lời là giữ vệ sinh (81,3%); ăn uống sạch sẽ (86,5%); rửa tay vệ sinh (37,3%); sử dụng nước sạch (34,9%); sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh (25,3%); giữ ấm cho trẻ là 20,7%. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn28 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3.4. Kiến thức của bà mẹ về cách xử trí khi trẻ tiêu chảy Cách xử trí tiêu chảy ở trẻ Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Uống nhiều nước 156 47,4 167 50,9 323 49,2 Ăn uống bình thường 71 21,6 79 24,1 150 22,8 Kiêng chất tanh 209 63,5 184 56,1 393 59,8 Sử dụng thuốc nam 23 7,0 51 15,5 74 11,3 Sử dụng Oresol 215 65,3 196 59,8 411 62,6 Cho ăn cháo muối 34 10,3 50 15,2 84 12,8 Đến cơ sở y tế 119 36,2 126 38,4 245 37,3 Không biết, khác 39 11,8 33 10,2 72 11,0 Bảng 3.5. Kiến thức đúng bà mẹ về cách pha và dùng gói Oresol Cách pha Oresol Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Pha theo hướng dẫn 212 64,4 191 58,2 403 61,3 Pha 1 gói/1 lít nước 34 10,3 63 19,2 97 14,8 Dùng nước sôi để nguội 258 78,4 250 76,2 508 77,3 Dùng trong 24 giờ 231 70,2 234 71,3 465 70,8 Khác, không biết 28 8,5 14 4,2 42 6,4 Điểm TBKT/ĐTĐ 2,2/4 2,3/4 2,2/4 Khi được hỏi về kiến thức xử trí tiêu chảy, kết quả bảng 3.4 cho thấy với rất nhiều ý kiến khác nhau trong các ý trả lời: cao nhất là ý kiến cho rằng sử dụng gói ORS (62,6%); sau đến cho rằng kiêng ăn thức ăn có mùi tanh (59,8%); 37,3% các bà mẹ cho rằng nên đến cơ sở y tế; có đến 49,2% cho rằng nên uống nhiều nước và chỉ có 22,8% cho rằng ăn uống bình thường. Bảng 3.5 cho thấy khi hỏi về cách sử dụng gói ORS thì các bà mẹ có câu trả lời nhiều nhất là pha với nước sôi để nguội chiếm tỷ lệ là 77,3%; 61,3% bà mẹ cho rằng pha theo hướng dẫn; 70,8% bà mẹ cho rằng nước oresol chỉ dùng trong 24 giờ. Điểm trung bình kiến thức là 2,2/4. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 29 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 3.6. Kiến thức của bà mẹ về nước có thể thay gói Oresol Nước thay thế ORS Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Gạo rang 127 38,6 78 23,8 205 31,2 Cháo muối 66 20,1 115 35,1 181 27,5 Nước đường 3 0,9 9 2,7 12 1,8 Khác, không biết 181 55,0 170 51,9 351 53,4 Bảng 3.7. Kiến thức của bà mẹ về các dấu hiệu tiêu chảy ở trẻ cần phải đến cơ sở y tế Các dấu hiệu Vũ Chính (n=329) Trần Lãm (n=328) Chung (n=657) SL % SL % SL % Tiêu chảy quá nhiều lần/ngày 309 93,9 290 88,4 599 91,2 Nôn 114 34,7 134 40,9 248 37,7 Khát nước 63 19,1 59 18,0 122 18,6 Phân có máu 67 20,4 59 18,0 126 19,2 Trẻ có dấu hiệu lờ đờ 82 24,9 70 21,3 152 23,1 Mắt trũng 22 6,7 42 12,8 64 9,7 Kết quả bảng 3.7 cho thấy các bà mẹ biết được nước có thể thay thế ORS là gạo rang chiếm 31,2%; nước cháo muối là 27,5%; tỷ lệ không biết là 53,4%. Kết quả bảng 3.8 cho thấy hầu hết các bà mẹ đều cho rằng khi trẻ bị tiêu chảy quá nhiều lần trong ngày thì phải đến ngay các cơ sở y tế (91,2%); IV. BÀN LUẬN Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy kiến thức của các bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ có tỷ lệ khá cao về các nội dung như giữ vệ sinh (81,3%); ăn uống sạch sẽ (86,5%); sử dụng nước sạch chỉ chiếm 34,9%; sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh mới đạt 25,3%; rửa tay trước khi ăn và sau khi vệ sinh đạt 37,3%; có 21,5% các bà mẹ cho rằng tiêm vắc xin cho trẻ có tác dụng phòng tiêu chảy. Qua kết quả này chúng tôi cũng thiết nghĩ các bà mẹ đã có một kiến thức nhất định về phòng bệnh tiêu chảy nhưng thực sự chưa đầy đủ, chủ yếu vẫn là những nội dung về ăn uống, các nội dung khác tỷ lệ trả lời còn thấp; với điểm trung bình là 3,1/7 như vậy mới đạt 50%. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Xuân và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chuẩn rất thấp với điểm trung bình là 8,1/30 và 1,7/6 như vậy thấp hơn nhiều so với kết quả của chúng tôi. Vấn đề này chúng tôi có thể giải thích là đối tượng nghiên cứu của tác giả là người dân còn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi [42]. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn30 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Thị Hà Giang, Nguyễn Vân Trang và CS (2017), “Phát hiện tác nhân vi khuẩn và vi rút gây tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Thái Bình”, Tạp chí Y học Dự phòng, tập XXIII, số 11, Tr 42. 2. Hoàng Thị Thu Hà, Lê Thị Thanh Xuân và CS (2015), “Kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của người dân tại 2 xã của tỉnh Yên Bái năm 2013”, Tạp chí Y học Dự phòng, tập XXV, số 6, Tr. 352. 3. Vũ Thị Bích Hậu, Nguyễn Vân Trang và CS (2013), “Tỷ lệ nhiễm và biến động kiểu gen của một số tác nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình, 2010-2012, Tạp chí Y học Dự phòng, tập XXIII, số 3, Tr.18. 4. Lê Thị Thanh Xuân, Trần Quỳnh Anh và CS (2016), “Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh tiêu chảy cấp của người dân tại 2 xã thuộc huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận năm 2013”, Tạp chí Y học Dự phòng 104(6), Tr. 77-84. V. KẾT LUẬN - Kiến thức của các bà mẹ về dấu hiệu bệnh tiêu chảy đúng chưa cao (41,8%); có 86,3% các bà mẹ cho là bệnh tiêu chảy trẻ em là nguy hiểm. - Kiến thức chung của các bà mẹ về nguyên nhân mắc tiêu chảy ở trẻ còn hạn chế (điểm trung bình đạt 2,26/5); tỷ lệ trả trả lời cao nhất là ăn uống không vệ sinh (90,0%); uống nước chưa sôi là 58,0%; vệ sinh cho trẻ không tốt là 49%; các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ thấp. - Kiến thức chung về phòng bệnh tiêu chảy của các bà mẹ chỉ đạt điểm trung bình là 3,1/7; tỷ lệ trả lời cao nhất biện pháp ăn uống và giữ vệ sinh là 86,5%; các biện pháp khác tỷ lệ trả lời dưới 50%.
File đính kèm:
kien_thuc_cua_ba_me_ve_benh_tieu_chay_tai_2_xa_phuong_thanh.pdf

