Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai: nguyên nhân của chảy máu bất thường tử cung và các biến chứng phụ khoa

Mổ lấy thai là một trong những phẫu thuật rất hay gặp ở phụ nữ. Trong

những thập niên gần đây, tỷ lệ mổ lấy thai tăng lên, kéo theo đó là hàng

loạt những biến chứng của mổ lấy thai đã được nói đến nhiều trên y văn

như dính vết mổ, nhau cài răng lược, nhau tiền đạo, thai làm tổ vết mổ

cũ có thể gặp với tần suất nhiều hơn. Một trong những biến chứng của

mổ lấy thai là hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai, một biến chứng mới được

nhắc đến và xác định trong những năm gần đây. Morris là tác giả đầu tiên

sử dụng thuật ngữ hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai vào năm 1995. Theo

Morris đây là nguyên nhân thường bị bỏ sót của nhiều biến chứng trong

phụ khoa như chảy máu bất thường tử cung, đau vùng chậu, vô sinh

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai: nguyên nhân của chảy máu bất thường tử cung và các biến chứng phụ khoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai: nguyên nhân của chảy máu bất thường tử cung và các biến chứng phụ khoa

Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai: nguyên nhân của chảy máu bất thường tử cung và các biến chứng phụ khoa
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
16
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Võ Văn Đức 
Trường Đại học Y Dược Huế
KHIẾM KHUYẾT SẸO MỔ LẤY THAI: NGUYÊN NHÂN 
CỦA CHẢY MÁU BẤT THƯỜNG TỬ CUNG
VÀ CÁC BIẾN CHỨNG PHỤ KHOA
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Mổ lấy thai là một trong những phẫu thuật rất hay gặp ở phụ nữ. Trong 
những thập niên gần đây, tỷ lệ mổ lấy thai tăng lên, kéo theo đó là hàng 
loạt những biến chứng của mổ lấy thai đã được nói đến nhiều trên y văn 
như dính vết mổ, nhau cài răng lược, nhau tiền đạo, thai làm tổ vết mổ 
cũ có thể gặp với tần suất nhiều hơn. Một trong những biến chứng của 
mổ lấy thai là hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai, một biến chứng mới được 
nhắc đến và xác định trong những năm gần đây. Morris là tác giả đầu tiên 
sử dụng thuật ngữ hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai vào năm 1995. Theo 
Morris đây là nguyên nhân thường bị bỏ sót của nhiều biến chứng trong 
phụ khoa như chảy máu bất thường tử cung, đau vùng chậu, vô sinh
Abstract 
CESAREAN SCAR DEFECTS: CAUSE OF 
ABNORMAL UTERINE BLEEDING AND OTHER 
GYNECOLOGICAL COMPLICATIONS
Cesarean section is one of the most common surgery of women. 
Especially, in recent decades, the number of cesarean section 
deliveries has increased in most countries. There are some well-known 
complications, such as uterine rupture and pathologically adherent 
placenta in future pregnancy. Only recently, the presence of a niche at 
the site of a cesarean scar in the uterus has been observed. Term of 
cesarean section scar defects was first mentioned by Morris in 1995, 
that is the cause of many gynecological complications: abnormal uterine 
bleeding, sub -infertility, choronic pelvic pain, dysmenorrhea
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
1. Định nghĩa
Hở khuyết sẹo mổ lấy thai là bệnh lý đặc trưng bởi sự mất liên tục một phần 
nội mạc tử cung kèm một phần hay toàn bộ cơ của thành trước tử cung, xảy ra 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 16 - 22, 2017
17
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
trong quá trình lành sẹo mổ lấy thai [11], [13]. Hiện 
nay chưa có định nghĩa thống nhất cho hở (khiếm 
khuyết ) sẹo mổ lấy thai. Trên y văn, hở khuyết sẹo 
mổ lấy thai còn có thể có những tên gọi khác như bất 
toàn sẹo mổ lấy thai, túi thừa đoạn eo tử cung, túi bịt 
hay thoát vị eo tử cung. Phần lớn các tác giả đồng ý 
với định nghĩa hở (khiếm khuyết) sẹo mổ lấy thai cũ 
là một vùng tam giác có echo giảm âm khi quan sát 
trên siêu âm, gây khiếm khuyết vùng cơ tại vị trí sẹo 
mổ lấy thai cũ ở thành trước đoạn dưới tử cung, eo tử 
cung hay đoạn trên của kênh cổ tử cung. Hở sẹo mổ 
lấy thai cũ thường phối hợp các triệu chứng trên lâm 
sàng như rong kinh, thống kinh, ra máu sau kinh ít 
một, đau vùng chậu mãn tính, giao hợp đau, ứ dịch 
sẹo mổ lấy thai cũ, thất bại chuyển phôi, thất bại làm 
tổ [2], [3], [15]. 
2. Yếu tố nguy cơ
Nhiều tác giả đồng thuận những yếu tố nguy 
cơ của khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai cũ bao gồm 
tư thế tử cung, thời gian chuyển dạ trước khi mổ, 
số lần mổ lấy thai, kỹ thuật mổ và khâu cơ tử cung. 
Theo nghiên cứu phân tích tổng quan hệ thống Bij 
de Vaate và cộng sự (2011), đánh giá yếu tố nguy 
cơ của hở sẹo mổ lấy thai dựa trên 9 nghiên cứu, 
những yếu tố nguy cơ được đề cập đến như kỹ 
thuật đóng cơ tử cung, sự thành lập đoạn dưới, vị 
trí xẻ cơ tử cung, các yếu tố liền sẹo [2].
Tử cung gập sau là yếu tố thuận lợi đưa đến hở 
sẹo mổ lấy thai cũ vì tử cung ở tư thế này làm căng 
mặt trước đoạn dưới tử cung, gây tưới máu kém 
dẫn đến lành sẹo không tốt. Yếu tố này được ghi 
nhận phân tích tổng quan hệ thống của tác giả Bij 
de Vaate và cộng sự (2011) [2]. Trong nghiên cứu 
của Osser và cộng sự (2009), tác giả thực hiện siêu 
âm đường âm đạo cho những sản phụ ở thời điểm 
tối thiểu 6 tháng sau sinh thường (n = 125), mổ lấy 
thai lần đầu tiên (n = 108) hoặc mổ lấy thai nhiều 
lần (n = 54) và người siêu âm hoàn toàn không 
biết về tiền sử mổ lấy thai của bệnh nhân. Kết quả 
ghi nhận được hầu hết những khiếm khuyết lớn đều 
thuộc nhóm sản phụ có mổ lấy thai nhiều lần và tử 
cung gập sau [11].
Nguyên nhân của hở khuyết sẹo mổ lấy thai 
cũ có thể do mổ lấy thai nhiều lần. Độ dày cơ 
tử cung ở ngang đoạn eo tỉ lệ nghịch với số lần 
mổ lấy thai và kích thước vết hở sẹo mổ lấy thai. 
Theo Ofili Yebovi và cộng sự (2008), số lần mổ 
lấy thai càng nhiều tỷ lệ thuận với độ rộng và độ 
lớn của khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai cũ. Thêm 
vào đó, mổ lấy thai nhiều lần dẫn đến tình trạng 
tưới máu kém tại chỗ và quá trình lành sẹo cũng 
giảm chất lượng [10]. Tuy nhiên, theo tác giả 
Gubbini và cộng sự, những triệu chứng nặng vẫn 
có thể xảy ra ở những bệnh nhân mổ lấy thai 
một lần. Điều này chứng tỏ mổ lấy thai nhiều lần 
không phải là điều kiện tiên quyết của hở sẹo mổ 
lấy thai cũ. Thật vậy, kỹ thuật khâu cơ tử cung 
cũng là yếu tố góp phần gây hở sẹo mổ lấy thai 
cũ. Nghiên cứu Yazicioglu và cộng sự (2006) ghi 
nhận những trường hợp khâu hết toàn bộ lớp cơ 
tử cung lấy cả niêm mạc làm giảm đáng kể tình 
trạng hở sẹo mổ lấy thai cũ khi so với kỹ thuật 
khâu toàn bộ bề dày chừa lớp niêm mạc (44,7% 
so với 68,8%). Tác giả cũng ghi nhận khâu cơ tử 
cung một lớp có thể không đảm bảo sự khép tốt 
hai mép vết rạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy 
những trường hợp hở sẹo mổ cũ lớn xảy ra phần 
lớn ở những thai phụ được khâu cơ tử cung một 
lớp (90,9%), khi so với nhóm được khâu cơ tử 
cung hai lớp (9,1%) . Ngoài ra, tác giả Osser 
cũng ghi nhận sẹo hở có xu hướng nằm thấp hơn 
so với sẹo không hở [8], [11], [19] . 
Bên cạnh đó, theo tác giả Vikhareva Osser 
và cộng sự (2010), tuổi mẹ ≤ 30 tuổi, thời điểm 
mổ lấy thai khi ngôi thai xuống sâu đoạn dưới tử 
cung, cổ tử cung ≥ 5 cm, pha hoạt động ≥ 5 giờ 
là những yếu tố đưa đến khiếm khuyết sẹo mổ 
lấy thai với độ dày cơ tử cung còn lại ≤ 2,2 mm 
trên siêu âm đường âm đạo hoặc ≤ 2,5 mm trên 
siêu âm bơm buồng tử cung [11]. Trong phân 
tích tổng quan hệ thống của tác giả Bij de Vaate 
và cộng sự (2011), có ba nghiên cứu tìm thấy 
mối liên quan giữa việc xuất hiện hở sẹo mổ lấy 
thai với sự thành lập đoạn dưới với những yếu tố 
như trên [3].
Hình 1. Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai [15].
Nghiên cứu phân tích tổng quan hệ thống của 
tác giả Roberge S. và cộng sự (2012) đánh giá 
những yếu tố nguy cơ của sẹo mổ lấy thai cũng ghi 
nhận kết quả mổ lấy thai nhiều lần làm tăng nguy 
cơ hở sẹo mổ lấy thai gấp 2,24 lần (OR = 2,24), 
tư thế tử cung gập sau làm tăng hở sẹo mổ lấy thai 
gấp 1,15 lần (OR = 1,15) [12].
3. Chẩn đoán khiếm khuyết 
sẹo mổ lấy thai
Chẩn đoán khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai hiện 
chưa có đồng thuận về tiêu chuẩn vàng và tiêu 
chuẩn đo kích thước hốc. Chủ yếu vẫn phải dựa 
vào những dấu hiệu trên siêu âm đường âm đạo, 
siêu âm bơm buồng và nội soi buồng tử cung. Thời 
điểm siêu âm để đánh giá hở sẹo mổ lấy thai là 
khoảng thời gian sau hành kinh, tốt nhất là vào 
gần cuối nửa đầu chu kỳ kinh [9], [13].
Siêu âm đường âm đạo là một trong những 
phương pháp được sử dụng nhất để chẩn đoán 
khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai. Chẩn đoán dựa vào 
siêu âm đường âm đạo đã được đề cập từ năm 
1990, với bốn dấu hiệu chính: có hốc echo trống 
dạng tam giác hay dạng vòm, đỉnh hướng về sẹo 
mổ lấy thai đoạn eo thành trước tử cung, phần đáy 
còn lại có thể thấy hiện tượng tụ dịch hoặc co kéo 
sẹo mổ lấy thai. Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai cũng 
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
18
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Các yếu tố nguy cơ của khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai
Nguy cơ hằng định
Tuổi mẹ ≤ 30 tuổia
Tử cung gập saua
Nguy cơ liên quan đến chuyển dạ
Thời gian chuyển dạ > 5 giờa
Cổ tử cung mở ≥ 5cm khi chuyển dạa
Đầu thai nhi xuống thấpa
Kỹ thuật phẫu thuật
Đường rạch cơ tử cung gần lỗ trong cổ tử cunga
Khâu cơ tử cung không lấy lớp nội mạca
Đóng cơ tử cung 1 lớpb
Chỉ vết mổ tiêu muộnb
a: có bằng chứng rõ 
b: không đầy đủ bằng chứng
Bảng 1. Bảng tóm tắt yếu tố nguy cơ của khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai [11]
Bảng 2. Yếu tố nguy cơ của hở sẹo mổ lấy thai [12]
có thể có dạng nang hoặc hình bán nguyệt nằm 
giữa bàng quang và đoạn dưới tử cung, bên trong 
có thể có dịch, tụ máu, nếu dùng catheter qua cổ tử 
cung có thể hút được máu tử hốc dịch [1], [13], [15].
 Phân độ mức độ khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai 
được xác định bằng tỷ lệ độ dày cơ tử cung ở mức 
sẹo mổ lấy thai với độ dày toàn bộ cơ tử cung hoặc 
dựa vào độ dày cơ tử cung còn lại. 
Nếu tỷ lệ độ dày cơ tử cung ở mức sẹo mổ lấy 
thai với độ dày toàn bộ cơ tử cung nhỏ hơn hoặc 
bằng 50% thì khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai được 
đánh giá là ở mức độ nặng. 
Nếu dựa vào độ dày cơ tử cung còn lại, theo 
Hình 2. Khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai trên siêu âm đường âm đạo [15].
Hình 3. Công thức tính độ dày và phần trăm cơ tử cung còn lại [11] 
Phân loại hở sẹo mổ lấy thai
Chiều dày còn lại của cơ tử cung (mm) 
SIS ≤ 2,2
SIS > 2,2
TVUS ≤ 2,2 
TVUS > 2,5 
3 điểm
1 điểm
3 điểm
1 điểm
Phần trăm cơ tử cung còn lại (%)
< 20 
20 – 50
> 50
3 điểm
2 điểm
1 điểm
Số lượng sẹo
1 
> 1 
0 điểm
1 điểm
Số lần tiền sử mổ lấy thai
1
> 1
0 điểm
1 điểm
Chu kỳ kinh nguyệt
Bình thường
Bất thường
0 điểm
1 điểm
Độ I – nhẹ: 2 – 3 điểm
Độ II - trung bình: 4 - 6 điểm
Độ III – nặng: 7 – 9 điểm
SIS: siêu âm bơm nước buồng tử cung
TVUS: siêu âm qua ngã âm đạo
Bảng 3. Phân loại hở sẹo mổ lấy thai [11].
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 16 - 22, 2017
19
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
phân loại của Vikhareva Osser và Valentin (2009), 
khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai rộng nếu kích thước bề 
dày cơ tử cung còn lại ≤ 2,2 mm trên siêu âm đường 
âm đạo hoặc ≤ 2,5 mm trên siêu âm bơm buồng và 
hở khuyết toàn bộ khi không còn thấy cơ tử cung. 
Độ dày cơ tử cung còn lại được đo từ đỉnh của khiếm 
khuyết đến mép ngoài cơ tử cung (A) và phần trăm 
cơ tử cung còn lại được tính bằng tỷ lệ bề dày cơ tử 
cung còn lại với toàn bộ bề dày cơ tử cung (B) 
Nghiên cứu của Amstrong và cộng sự đề nghị 
dấu hiệu tụ dịch bên trong khiếm khuyết sẹo mổ 
lấy thai là tiêu chuẩn hàng đầu chẩn đoán khiếm 
khuyết sẹo mổ lấy thai [1].
Siêu âm bơm buồng cho kết quả hình dạng 
khiếm khuyết thấy rõ hơn, khiếm khuyết không 
thay đổi hình dạng, thấy được nhiều hốc và giúp 
phân loại khiếm khuyết. Siêu âm bơm buồng giúp 
tăng độ nhạy và độ đặc hiệu phát hiện sẹo mổ lấy 
thai. Nghiên cứu của Osser và cộng sự (2009), so 
sánh hiệu quả chẩn đoán khiếm khuyết sẹo mổ lấy 
thai của siêu âm đường âm đạo và siêu bơm nước 
buồng tử cung, cả hai xét nghiệm đều cho hình ảnh 
tương tự nhau (đa phần là hình tam giác). Riêng 
siêu âm bơm nước buồng tử cung cho hình ảnh 
giới hạn thương tổn rõ hơn so với siêu âm đường 
âm đạo [11]
Trên cơ sở lí luận, siêu âm bơm buồng có độ 
nhạy, độ đặc hiệu chẩn đoán hở sẹo mổ lấy thai tốt 
hơn và đây là xét nghiệm được khuyến cáo thực hiện 
trước khi phẫu thuật cho bệnh nhân. Trường hợp 
nghi ngờ hở sẹo mổ lấy thai, siêu âm bơm buồng 
được được lựa chọn để đánh giá cho bệnh nhân 
trừ những trường hợp bệnh nhân không chấp nhận 
hoặc có chống chỉ định. Một số nghiên cứu ghi nhận 
có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân cảm thấy không thoải 
mái khi thực hiện xét nghiệm này và xét nghiệm 
có thể làm gia tăng một số biến chứng như nhiễm 
trùng. Bên cạnh chẩn đoán hở sẹo mổ lấy thai, siêu 
âm bơm buồng còn giúp phát hiện thêm một số bất 
thường như polyp buồng, u xơ tử cung. 
Hình 4: Hình ảnh siêu âm đường âm đạo và siêu âm bơm buồng trên cùng một bệnh nhân [15].
- Nội soi buồng tử cung: Nội soi buồng tử cung 
có thể chẩn đoán bằng cách quan sát trực tiếp 
thương tổn của hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai. 
Thông qua nội soi buồng tử cung, hở khiếm khuyết 
sẹo mổ lấy thai sẽ cho hình ảnh là túi bịt phồng lên 
hoặc phần gồ lên trên thành trước kênh cổ tử cung 
hoặc ở đoạn dưới của tử cung. Túi bịt có thể có 
chứa dịch máu hoặc thường có vòng xơ bao xung 
quanh [9], [19].
- Chụp cộng hưởng từ: Chụp cộng hưởng từ 
(MRI) cũng là một phương pháp hữu dụng giúp 
chẩn đoán và xác định bản chất hở khiếm khuyết 
sẹo mổ lấy thai. MRI giúp phác họa hình dáng và 
đánh gía kích thước hốc tốt hơn, giúp phân biệt 
được bướu hay tụ máu, dịch bên trong túi bịt. Điều 
này đặc biệt hữu ích khi lên kế hoạch điều trị phẫu 
thuật cho bệnh nhân [9], [19].
4. Biến chứng
Hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai là nguyên 
nhân đưa đến nhiều biến chứng trong sản phụ 
khoa đã được ghi nhận như chảy máu bất thường 
tử cung, thống kinh nhau tiền đạo, nhau cài răng 
lược hay nứt vết mổ, vô sinh thứ phát
- Chảy máu bất thường từ tử cung: Mối liên 
quan giữa tiền sử hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai 
và chảy máu bất thường tử cung đã được ghi nhận 
trong nhiều nghiên cứu. Hình thái điển hình của 
chảy máu bất thường tử cung do hở khiếm khuyết 
sẹo mổ lấy thai thường là dạng xuất huyết lượng 
ít kéo dài sau kinh. Nghiên cứu của Fabres C. và 
cộng sự (2005), ghi nhận 76% các trường hợp 
được chẩn đoán hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai 
trên siêu âm có triệu chứng ra máu sau kinh lượng 
ít kéo dài, 16% ra máu giữa chu kỳ và 8% trường 
hợp kết hợp cả hai. Nghiên cứu cắt ngang của 
Wang CB và cộng sự (2009), 63,8% trường hợp 
hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai có triệu chứng 
chảy máu lượng ít kéo dài sau kinh mà không có 
những bất thường khác kèm theo như polyp, u xơ, 
hoặc thương tổn ác tính [5], [18].
Cơ chế chảy máu bất thường tử cung ở bệnh nhân 
hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai được giải thích là do 
túi bịt hay túi hở thoát vị ở đoạn dưới tử cung dẫn đến 
biến chứng ra kinh muộn ít một. Máu kinh tích lũy bên 
trong túi bịt, sau kỳ kinh thì máu kinh vẫn còn giữ lại ở 
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
20
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
đây và ra máu máu kéo dài. Theo nhiều tác giả, kích 
thước hở khiếm khuyết có liên quan đến mức độ và 
thời gian kéo dài của chảy máu bất thường tử cung. 
Những trường hợp kích thước hở khiếm khuyết sẹo 
mổ lấy thai lớn mới có thể tích lũy máu kinh và gây ra 
máu kéo dài sau đó [18]. 
- Thống kinh và đau vùng chậu: Thống kinh 
và đau vùng chậu cũng là những biến chứng hay 
gặp. Nghiên cứu của Wang CB và cộng sự (2009), 
53,1% số trường hợp hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy 
thai có biến chứng thống kinh và 39,6% có triệu 
chứng đau vùng chậu mãn tính. Trên siêu âm, những 
phụ nữ có triệu chứng này có kích thước hở khiếm 
khuyết sẹo mổ lấy thai lớn hơn những bệnh nhân 
không có triệu chứng. Cơ chế dẫn đến thống kinh 
và đau vùng chậu mãn tính ở bệnh nhân hở khiếm 
khuyết sẹo mổ lấy thai do có sự thâm nhập lympho 
và co kéo cấu trúc đoạn dưới tử cung [13], [18].
- Vô sinh thứ phát: Với những bệnh nhân vô 
sinh hiếm muộn, nhiều chứng cứ ủng hộ quan điểm 
hở sẹo mổ lấy thai cũ là nguyên nhân gây vô sinh 
thứ phát. Thurmond và cộng sự (2004), Florio và 
cộng sự (2012) đều đưa ra nhận định những bệnh 
nhân có hở sẹo mổ lấy thai cũ sẽ dẫn đến cơ tử 
cung quanh sẹo co bóp kém, làm tích tụ máu kinh 
cũ ảnh hưởng đến chất nhầy cổ tử cung, ngăn cản 
tinh trùng không xâm nhập vào buồng tử cung, ảnh 
hưởng chất lượng tinh trùng, không chuyển phôi 
được và tình trạng viêm mạn tính tại chỗ tích tụ độc 
tố làm ảnh hưởng phôi và quá trình làm tổ. Chính 
những yếu tố này đưa đến vô sinh thứ phát [6], [15].
Gubbini và cộng sự (2008) nghiên cứu trên 
41 trường hợp vô sinh thứ phát có hở sẹo mổ lấy 
thai, sau khi nội soi buồng tử cung cắt bỏ những 
tổ chức mô sẹo xung quanh khiếm khuyết, 100 % 
bệnh nhân có thai trong vòng 24 tháng. Tuy nhiên, 
nghiên cứu này không có nhóm chứng nên cần có 
nhiều nghiên cứu hơn trong vấn đề điều trị hở sẹo 
Hình 5. Cơ chế gây vô sinh của hở sẹo mổ lấy thai [6]
mổ lấy thai trên bệnh nhân vô sinh. Một số nghiên 
cứu khác trên bệnh nhân vô sinh thứ phát do hở 
sẹo mổ lấy thai cũng có kết quả tương tự: 115 bệnh 
nhân vô sinh do hở sẹo mổ lấy thai được can thiệp 
phẫu thuật đều có thai trở lại với tỷ lệ cao [8].
- Ngoài ra, một số những biến chứng khác có 
thể liên quan đến hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai 
như thai làm tổ vết môt cũ, lạc nội mạc trong cơ tử 
cung, lạc nội mạc tử cung, abcess bên trong sẹo 
mổ lấy thai.
5. Điều trị
Hiện có nhiều phương pháp giúp sửa chữa hở 
khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai cũ: nội soi ổ bụng, 
nội soi buồng tử cung, phẫu tích dưới nội soi, 
đánh giá hở khiếm khuyết qua đường âm đạo 
Điều trị nên được chỉ định ở những bệnh nhân có 
triệu chứng [7]. 
Kết quả các tác giả cho thấy, nội soi ổ bụng 
đặc biệt có hiệu quả cho những bệnh nhân hở 
khuyết sẹo mổ lấy thai có triệu chứng kèm phần 
cơ tử cung còn lại nhỏ hơn 3 mm, nhất là những 
bệnh nhân có biến chứng vô sinh thứ phát có 
nguyện vọng có thai trở lại. Nội soi buồng tử 
cung lại là phương pháp điều trị mang lại hiệu 
quả cho những bệnh nhân hở khiếm khuyết sẹo 
mổ lấy thai có chủ yếu các triệu chứng đau 
bụng, ra máu bất thường tử cung và phần cơ 
tử cung còn lại lớn hơn 3 mm [4], [7]. Shih và 
cộng sự (2011) mô tả nội soi buồng tử cung điều 
trị hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai chủ yếu dựa 
vào bốn hình thái biến dạng giải phẫu tại vùng 
tổn thương: (1) sự hình thành mô hạt ở bên trên 
thương tổn; (2) sự hình thành các mô xơ kế cận 
với thương tổn; (3) cấu trúc hốc hoặc co kéo bên 
trong túi bịt; (4) những vùng hở khiếm khuyết 
Tác giả Nghiên cứu Số BN Thời gian theo dõi Nhóm chứng Có thai Kết quả
Gubbini và cs Tiến cứu 9 12 – 24 Không 7 7 ECS
Van Horenbeek và cs Trường hợp 1 - - 1 1 Sinh non
Fabres và cs Tiến cứu 11 12 – 24 - 9 5 ECS
Gubbini và cs Tiến cứu 41 12 – 24 - 41 37 ECS,4 sẩy thai
Donnez và cs Tiến cứu 3 - - 1 1 ECS
Fernandez và cs Tiến cứu 4 12 – 24 - 2 -
Kawakami và cs Hồi cứu 13 - - - -
Xu và cs Tiến cứu 1 12 - 0 -
Bảng 4. Kết quả điều trị vô sinh thứ phát do hở khiếm khuyết sẹo mổ lấy thai cũ [8]
về hiệu quả điều trị các phương pháp phẫu thuật 
hở sẹo mổ lấy thai, đa phần các bệnh nhân đã 
cải thiện triệu chứng sau điều trị [16].
Tương tự, trong bài phân tích tổng hợp của 
Van de Voet và cộng sự (2013), tác giả so sánh 
tình trạng bệnh nhân trước và sau điều trị dựa 
vào số ngày ra máu kéo dài sau thời gian hành 
kinh. Kết quả cho thấy sau điều trị số ngày chảy 
máu bất thường tử cung đều giảm [17].
Tuy nhiên, nguy cơ của phương pháp phẫu 
tích dưới nội soi buồng tử cung điều trị hở khiếm 
khuyết sẹo mổ lấy thai đó là gây thủng tử cung 
và tổn thương bàng quang. Để hạn chế biến 
chứng này, không nên thực hiện phẫu tích ở 
những vùng có bề dày cơ tử cung còn lại < 2 
mm và nên có siêu âm hướng dẫn khi làm phẫu 
thuật [7], [16].
6. Kết luận
Với sự gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai, những hậu 
quả và biến chứng của mổ lấy thai ngày càng 
tăng trong đó có hở khuyết sẹo mổ lấy thai. 
Siêu âm đường âm đạo đã có thể chẩn đoán 
hở khuyết sẹo mổ lấy thai, mặc dù siêu âm bơm 
nước buồng tử cung mới là phương pháp lí tưởng 
giúp chẩn đoán, đặc biệt với những bệnh nhân 
có kế hoạch phẫu thuật. Những triệu chứng chính 
của hở khuyết sẹo mổ lấy thai là chảy máu bất 
thường tử cung, đau vùng chậu mạn tính, vô sinh 
thứ phát Những trường hợp hở khuyết sẹo mổ 
lấy thai có triệu chứng có thể điều trị thành công 
nhờ vào các phương pháp phẫu thuật như nội 
soi ổ bụng, nội soi buồng tử cung hoặc những kỹ 
thuật tiếp cận thông qua đường âm đạo.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 16 - 22, 2017
21
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
xung quanh. Trong nghiên cứu của tác giả, tất 
cả những bệnh nhân hở khiếm khuyết sẹo mổ 
lấy thai sau điều trị nội soi buồng tử cung theo 
hướng như trên đều cải thiện triệu chứng chảy 
máu và chất lượng cuộc sống cải thiện trong 
vòng 6 tháng sau khi điều trị [14]. Trong một 
phân tích của tác giả Tulandi và cộng sự (2016) 
Tác giả, năm Kỹ thuật Số BN Kết quả
Nội soi buồng TC
Gubbini và cs, 
2011
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết 41
100% hết chảy máu bất thường 
TC và có thai. Lớp nội mạc TC được 
thay thế mới.
Chang và cs,
2009
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết 22
64% hết chảy máu bất thường TC. 
36% chảy máu sau kỳ kinh.
Lin và cs,
2010
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết và cắt bỏ hết lớp nội 
mạc thừa tại mô sẹo đã phẫu tích
1 Hết chảy máu bất thường TC, thời gian hành kinh rút ngắn 
Fabres và cs,
2005
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết và đốt mạch máu bề 
mặt bị kéo dãn
24
9/11 bệnh nhân đã điều trị vô sinh 
≥ 2 năm có thai; 20/24 bệnh nhân 
hết chảy máu bất thường TC.
Shih và cs,
2011
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết và các mô hạt bị đè 
ép hoặc biến dạng.
-
Giảm chảy máu bất thường TC, sau 
6 tháng theo dõi bệnh nhân hết 
triệu chứng.
Gubbinin và cs,
2008
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết và cắt bỏ hết lớp nội 
mạc thừa tại mô sẹo đã phẫu tích
26
100% BN hết chảy máu bất thường 
TC, mô sẹo được thay thế bằng lớp 
nội mạc. 
Wang và cs,
2011
Phẫu tích mô sẹo quanh vị trí 
khiếm khuyết và đông điện các 
mạch máu dãn
57
Thời gian hành kinh rút ngắn từ 
12,9 ngày xuống còn 9,4 ngày. 
BN có TC đổ trước giảm rõ (12,4 
ngày xuống 7,2 ngày). 40% không 
thay đổi triệu chứng chảy máu bất 
thường TC
Feng và cs,
2012
Phẫu tích nội soi lấy hết mô xơ, 
vùng xuất huyết, tổn thương kèm 
theo tại khiếm khuyết, polyp và 
đông điện.
62
38/62 BN hết triệu chứng chảy máu 
bất thường TC, 20/62 BN cải thiện 
triệu chứng
Nội soi ổ bụng
Donnez và cs,
2008
Cắt bỏ mô xơ quanh khiếm khuyết 
và khâu đóng mép bằng mũi 
khâu rời
3 Hết chứng đau vùng chậu và thống kinh
Yalcinkaya và cs,
2011
Phẫu thuật cắt sẹo bằng rô bốt và 
đóng vết mổ 2 lớp 2
Hết chảy máu bất thường TC và có 
thai sau 1 năm
Thủ thuật đường âm đạo
Khoshnow và cs,
2010
Cắt bỏ mô xơ quanh khiếm khuyết 
và khâu đóng mép bằng mũi 
khâu rời
1 Hết chảy máu bất thường TC
Luo và cs,
2012
Cắt bỏ mô xơ quanh khiếm khuyết 
và khâu đóng mép bằng mũi khâu 
rời 2 lớp
42 39 BN cải thiện triệu chứng
Nội soi ổ bụng kết hợp thủ thuật đường âm đạo
Klemm và cs,
2005
Nội soi ổ bụng cắt sẹo, sửa khiếm 
khuyết qua ngã âm đạo 5 -
*cs: cộng sự, TC: tử cung
Bảng 5: Tổng hợp các nghiên cứu về phương pháp và kết quả điều trị khiếm khuyết sẹo 
mổ lấy thai [16].
Bảng 6: Biểu đồ rừng cây so sánh tình trạng bệnh nhân trước và sau điều trị
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC
22
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Tài liệu tham khảo
1. Armstrong V. et al. (2003), “Detection of cesarean scars by transvaginal 
ultrasound”, Obstet Gynecol, 101(1), pp. 61-5. 
2. Bij de Vaate A. J. et al. (2011), “Ultrasound evaluation of the Cesarean 
scar: relation between a niche and postmenstrual spotting”, Ultrasound 
Obstet Gynecol, 37(1), pp. 93-9.
3. Bij de Vaate A. J. et al. (2014), “Prevalence, potential risk factors for 
development and symptoms related to the presence of uterine niches 
following Cesarean section: systematic review”, Ultrasound Obstet 
Gynecol, 43(4), pp. 372-82.
4. Donnez O. et al. (2008), “Laparoscopic repair of wide and deep uterine 
scar dehiscence after cesarean section”, Fertil Steril, 89(4), p.p 974-80.
5. Fabres C. et al. (2005), “Surgical treatment and follow-up of women 
with intermenstrual bleeding due to cesarean section scar defect”, J Minim 
Invasive Gynecol, 12(1), pp. 25-8.
6. Florio P. et al. (2012), “Hysteroscopic treatment of the cesarean-
induced isthmocele in restoring infertility”, Curr Opin Obstet Gynecol, 
24(3), pp. 180-6.
7. Futyma K. et al. (2016), “When and how should we treat cesarean scar 
defect - isthmocoele?”, Ginekol Pol, 87(9), pp. 664-668.
8. Gubbini G., P. Casadio, E. Marra (2008), “Resectoscopic correction of 
the “isthmocele” in women with postmenstrual abnormal uterine bleeding 
and secondary infertility”, J Minim Invasive Gynecol, 15(2), pp. 172-5.
9. Monteagudo A., C. Carreno, I. E. Timor-Tritsch (2001), “Saline infusion 
sonohysterography in nonpregnant women with previous cesarean 
delivery: the “niche” in the scar”, J Ultrasound Med, 20(10), pp. 1105-15.
10. Ofili-Yebovi D. et al. (2008), “Deficient lower-segment Cesarean 
section scars: prevalence and risk factors”, Ultrasound Obstet Gynecol, 
31(1), pp. 72-7.
11. Osser O. V., L. Jokubkiene, L. Valentin (2009), “High prevalence of 
defects in Cesarean section scars at transvaginal ultrasound examination”, 
Ultrasound Obstet Gynecol, 34(1), pp. 90-7.
12. Roberge S. et al. (2012), “Systematic review of cesarean scar 
assessment in the nonpregnant state: imaging techniques and uterine 
scar defect”, Am J Perinatol, 29(6), pp. 465-71.
13. Schepker N. et al. (2015), “Clinical diagnosis and therapy of uterine 
scar defects after caesarean section in non-pregnant women”, Arch 
Gynecol Obstet, 291(6), pp. 1417-23.
14. Shih C. L., Chang Y. Y., Ho M., Lin M. C., Wang A. M. 
(2011),“Hysteroscopic transcervical resection. A straightforward method 
corrects bleeding related to cesarean section scar defects”, Am J Obstet 
Gynecol, 204(3): 278.e1-2 
15. Thurmond A. S., W. J. Harvey, S. A. Smith (1999), “Cesarean 
section scar as a cause of abnormal vaginal bleeding: diagnosis by 
sonohysterography”, J Ultrasound Med, 18(1), pp. 13-6; quiz 17-8.
16. Tulandi Togas, , Aviad Cohen (2016), “Emerging manifestations 
of cesarean scar defect in reproductive aged women”, The Journal of 
Minimally Invasive Gynecology, 31(1), pp. 72-7.
17. Van der Voet, Vervoort A. J., Veersema S., BijdeVaate A. J.(2013), 
“Minimally invasive therapy for gynaecological symptoms related to a 
niche in the caesarean scar: a systematic review”, BJOG;121:145–156.
18. Wang C. B., Chiu W. W. C., Lee C. Y (2009), “Cesarean scar 
defect: correlation between Cesarean section number, defect size, 
clinical symptoms and uterine position”, Ultrasound Obstet Gynecol, 34, 
pp. 85 – 89.
19. Yazicioglu F. et al. (2006), “Incomplete healing of the uterine incision 
after caesarean section: Is it preventable?”, Eur J Obstet Gynecol Reprod 
Biol, 124(1), pp. 32-6.

File đính kèm:

  • pdfkhiem_khuyet_seo_mo_lay_thai_nguyen_nhan_cua_chay_mau_bat_th.pdf