Khảo sát tương tác thuốc tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện

Mục tiêu: Khảo sát tình hình tương tác thuốc tại các khoa hệ nội để làm giảm rủi ro

và các ảnh hưởng không mong muốn xảy ra do sử dụng thuốc.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 768 Hồ sơ bệnh án

(HSBA) tại các khoa hệ nội từ tháng 01 - 04 (giai đoạn 1) và từ tháng 7 - 9 (giai đoạn 2).

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu và phân tích các HSBA theo độ tuổi, giới tính, bệnh lý và

thuốc chỉ định. Sử dụng sách Tương tác thuốc của Bộ Y tế (2006), phần mềm Fact and

Comparisons 4.0 - 2009, trang web drugs.com để kiểm tra tương tác thuốc (TTT) và mối

tương quan giữa số lượng thuốc và nguy cơ TTT. Báo cáo kết quả giai đoạn 1 và đề xuất

các giải pháp kiểm soát TTT.

- Giai đoạn 2: Lặp lại nghiên cứu và so sánh với giai đoạn 1.

- Sử dụng Microsoft Excel 2007 để phân tích và trình bày dữ liệu thống kê.

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tương tác thuốc tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát tương tác thuốc tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện

Khảo sát tương tác thuốc tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
22
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát tình hình tương tác thuốc tại các khoa hệ nội để làm giảm rủi ro 
và các ảnh hưởng không mong muốn xảy ra do sử dụng thuốc.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 768 Hồ sơ bệnh án 
(HSBA) tại các khoa hệ nội từ tháng 01 - 04 (giai đoạn 1) và từ tháng 7 - 9 (giai đoạn 2).
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu và phân tích các HSBA theo độ tuổi, giới tính, bệnh lý và 
thuốc chỉ định. Sử dụng sách Tương tác thuốc của Bộ Y tế (2006), phần mềm Fact and 
Comparisons 4.0 - 2009, trang web drugs.com để kiểm tra tương tác thuốc (TTT) và mối 
tương quan giữa số lượng thuốc và nguy cơ TTT. Báo cáo kết quả giai đoạn 1 và đề xuất 
các giải pháp kiểm soát TTT.
- Giai đoạn 2: Lặp lại nghiên cứu và so sánh với giai đoạn 1.
- Sử dụng Microsoft Excel 2007 để phân tích và trình bày dữ liệu thống kê.
Kết quả: Phân tích các TTT trên 388 HSBA ở giai đoạn 1 và 380 HSBA ở giai đoạn 
2. Cho thấy, tỉ lệ bệnh lý cao nhất là tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa lipoprotein, 
thuốc được sử dụng thường xuyên nhất là thuốc tim mạch. Kiểm tra TTT bằng cách sử 
dụng 3 tài liệu tham chiếu cho thấy, tỉ lệ TTT cao nhất theo sách Tương tác thuốc của Bộ 
Y tế (2006) và thấp nhất theo Fact and Comparisons 2009. Thực hiện các giải pháp được 
đề xuất để kiểm soát các nguy cơ TTT có hại, kết quả ở giai đoạn 2 cho thấy đã cải thiện 
đáng kể. Số lượng thuốc trung bình trong đơn đã giảm từ 7 xuống 6 thuốc. Tỉ lệ TTT 
đã giảm có ý nghĩa từ 66,2 đến 44,9% theo sách Tương tác thuốc 2006 và từ 39,4 đến 
24,7% theo Fact and Comparisons 2009. Điều thú vị là, các cặp TTT nghiêm trọng như 
digoxin- furosemide, allopurinol- perindopril, irbesartan- perindopril không tìm thấy 
hoặc giảm đáng kể. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng số lượng thuốc được sử dụng càng 
nhiều, khả năng TTT sẽ xảy ra càng cao.
Kết luận: Cuộc khảo sát TTT kết luận cần phải cung cấp các giải pháp kiểm soát 
thông tin và chỉ định thuốc để giảm các nguy cơ trên bệnh nhân. Nghiên cứu này là tăng 
cường việc thực hành dược lâm sàng tại bệnh viện.
Từ khóa: Tương tác thuốc, dược lâm sàng , Fact and Comparisons.
KHẢO SÁT TƯƠNG TÁC THUỐC TẠI CÁC KHOA HỆ NỘI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA BƯU ĐIỆN
 Trần Quang Thịnh(1) 
(1)Bệnh viện đa khoa Bưu Điện
Người phản hồi (Corresponding): Trần Quang Thịnh ([email protected])
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
23
 AN INVESTIGATION OF THE DRUG PRESCRIPTION AND DRUG 
INTERACTIONS AT THE INTERNAL DEPARTMENT-GENERAL HOSPITAL 
OF POST AND TELECOMS
 ABSTRACT
Background: Most patients at Internal Department at Hospital of Post and 
Telecoms are elders and often simultaneously treated with multiple drugs. Therefore, the 
investigation of the drug interactions on patients at the Internal Department is required 
to find effective solutions. Objective of this study is to research into the drug and drug 
interactions in the Internal Department to reduce the risks and accidental side effects 
caused by misuse of medicines.
Methods: The descriptive cross-sectional study of 768 medical records of patients 
in the Internal Department from January to April (phase 1) and from July to September 
(phase 2).
- Phase 1: To Study and analyze patients based on age, gender, diseases and 
prescribed medications. Check for drug prescription and drug interactions using 
referenced materials such as a book about Drug Interactions of Ministry of Health 
(2006), Fact and Comparisons (2009), and drugs.com website to check carefully the 
drug interactions and correlations between the number of used drugs and related 
risks. To report results of the phase 1 and propose solutions to control the risks of drug 
interactions. 
- Phase 2: Repeat study and compare with phase 1
- Use Excel 2007 to present data statistically
Results: The investigation and the analysis of drug interactions were conducted on 
388 prescriptions from phase one (1) and 380 from phase two (2). The results showed that 
highest rate of diseases were hypertension and hyperlipidemia; the drugs most frequently 
used were cardiovascular drugs. Check for drug prescription-drug interactions using 
three referenced materials showed that the rate of interaction was highest according 
to Drug interactions of Ministry of Health (2006) and lowest according to Fact and 
Comparisons (2009). The implementation of proposed solutions to control the risk of 
harmful drug interactions using the results of phase 2 showed significant improvements. 
The average number of drugs prescription decreased from 7 to 6. The total drug 
interactions rate decreased from 66.2 to 44.9% according to Drug interaction(2006), 
and from 39.4 to 24.7% according to Fact and Comparisons(2009). Interestingly, severe 
drug interaction pairs such as digoxin-furosemide, allopurinol-perindopril, irbesartan- 
perindopril were not found or significantly reduced. The study also showed that the 
more drugs were used, the more interactions would occur.
Conclusion: The investigation of drug prescriptions and drug interactions concluded 
that the need of information about prescription to find solutions to reduce the risks on patients 
at the hospital. This study is to enhance the clinical pharmacy practice at the hospital.
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
24
Key words: Drug interactions, Clinical pharmacy, Fact and Comparisons
ĐẶT VẤN ĐỀ
TTT là khả năng của một thuốc có thể 
làm thay đổi cường độ tác dụng dược lý 
của một thuốc khác khi sử dụng đồng thời. 
Kết quả cuối cùng có thể là một hoặc cả 
hai thuốc tăng hoặc giảm tác dụng hoặc 
xuất hiện một tác dụng mới không thấy có 
khi dùng riêng từng thuốc.
Ước tính tần suất TTT trong lâm sàng 
khoảng 3 - 5% ở số người bệnh dùng vài 
thuốc và tới 20% ở người bệnh đang dùng 
10- 20 thuốc [1].
Tỉ lệ các phản ứng có hại (ADR) khi 
kết hợp nhiều loại thuốc sẽ tăng theo cấp 
số nhân. Tỉ lệ ADR là 7% ở bệnh nhân 
dùng phối hợp 6-10 loại thuốc, nhưng tỉ 
lệ này sẽ là 40% khi dùng phối hợp 16-20 
loại [2].
Khảo sát thực tế một số HSBA tại 
các khoa Nội Tim Mạch, Nội Thần kinh, 
với nhiều người bệnh lớn tuổi, mắc nhiều 
bệnh mãn tính sử dụng nhiều thuốc điều 
trị, chúng tôi đã ghi nhận có các TTT xảy 
ra. Ví dụ, tương tác giữa omeprazol và 
clopidogrel; irbesartan và spironolacton ... 
Với mong muốn giúp cho các nhà 
điều trị có những thông tin về TTT, nhằm 
đảm bảo sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn 
và hợp lý, chúng tôi tiến hành thực hiện 
đề tài: “Khảo sát tương tác thuốc tại các 
khoa hệ Nội Bệnh viện đa khoa Bưu 
điện” với mục tiêu: Khảo sát tình hình 
tương tác thuốc tại các khoa hệ Nội và 
đánh giá hiệu quả của thông tin thuốc tại 
bệnh viện. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu 
mô tả cắt ngang
2. Đối tượng nghiên cứu: Hồ sơ bệnh 
án (HSBA)
- Giai đoạn 1: Tất cả HSBA từ tháng 
01 đến 4 (388 HSBA).
- Giai đoạn 2: Tất cả HSBA từ tháng 7 
đến 9 (380 HSBA). Thông tin thuốc và can 
thiệp kiểm soát TTT. 
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp mô tả cắt ngang, chia 
làm 2 giai đoạn có so sánh. 
* Giai đoạn 1: Khảo sát TTT trong các 
HSBA: Chọn ngày điều trị có dùng nhiều 
loại thuốc để xét TTT. Thống kê toàn bộ 
các cặp TTT, đánh giá tỉ lệ TTT tổng thể, 
mức độ TTT, mối tương quan giữa số lượng 
thuốc và tần suất, tỉ lệ TTT. Báo cáo cho 
Bệnh viện về các TTT đã khảo sát. Nêu ra 
các nguyên nhân gây TTT và đề xuất các 
biện pháp để kiểm soát TTT. 
* Giai đoạn 2: Lặp lại nghiên cứu và 
so sánh với giai đoạn 1. So sánh tỉ lệ TTT 
tổng thể, theo từng mức độ TTT, tương 
quan giữa số lượng thuốc và tần suất, tỉ lệ 
TTT giữa trước và sau khi có tư vấn và can 
thiệp thông tin thuốc.
- Xử lý số liệu thống kê bằng phần 
mềm Microsoft Excel.
- Tương tác thuốc được phân tích dựa 
vào 3 tài liệu: 
+ Sách Tương tác thuốc và chú ý khi 
chỉ định, 2006; Bộ Y tế (Tài liệu Bộ Y tế)
+ Trang web Drugs.com 
+ Phần mềm Facts and Comparisons 
4.0- 2009 (F&C 4.0- 2009).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Giai đoạn 1
1.1 Đặc tính của mẫu: Khảo sát các 
HSBA của bệnh nhân nội trú tại các Khoa 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
25
Hệ Nội từ tháng 01 đến 4, thu thập được 
388 HSBA. Các đặc tính về tuổi, giới tính, 
bệnh lý và thuốc sử dụng như sau:
- Tuổi: Bệnh nhân > 60 tuổi có 147 
người chiếm 37,9%. 
- Giới tính: Bệnh nhân Nam: 217 
chiếm 55,9%; Nữ: 171 chiếm 44,1%,
- Bệnh lý: Các nhóm bệnh gặp nhiều 
nhất là các bệnh hệ tuần hoàn với 276 lượt 
chiếm 33,29%; bệnh nội tiết; bệnh của hệ 
cơ xương khớp 92 lượt chiếm 11,1%...
- Thuốc sử dụng: Các thuốc được chỉ 
định nhiều là thuốc Tim mạch (31,7%) và 
là nhóm thuốc có nhiều TTT nhất, chiếm tỉ 
lệ tới 49,5% trên tổng số TTT. 
1.2 Tương tác thuốc: Sử dụng từng cơ 
sở dữ liệu trên để kiểm tra TTT
- Theo tài liệu Bộ Y tế: TTT được 
phân thành 04 mức độ [2]: Mức độ 4: Phối 
hợp nguy hiểm; Mức độ 3: Cân nhắc nguy 
cơ / lợi ích; Mức độ 2: Tương tác cần thận 
trọng; Mức độ 1: Tương tác cần theo dõi.
Qua khảo sát 388 HSBA thu được 
có 257 HSBA có xảy ra TTT, chiếm tỉ lệ 
66,2%. Phát hiện được 833 cặp TTT (một 
HSBA có thể có nhiều hơn 1 cặp TTT). 
Trong đó, TTT mức độ 4 có 42 cặp chiếm 
5 % (10.8% trên tổng số HSBA); TTT mức 
độ 3 có 73 cặp chiếm 8.8% và nhiều nhất 
là TTT mức độ 2 có 618 cặp chiếm 74.2%
- Theo trang web Drugs.com
TTT được chia làm 03 mức độ: Major: 
Nghiêm trọng; Moderate: Trung bình; 
Minor: Nhẹ.
Qua khảo sát 388 HSBA thu được 
có 247 HSBA có TTT chiếm tỉ lệ 63,7%. 
Phát hiện được 1.059 cặp TTT. Trong đó, 
TTT mức độ nghiêm trọng (Major) có 
89 cặp chiếm 8,4%; mức độ trung bình 
(Moderate) có 750 cặp chiếm 70.8%. 
- Theo phần mềm Facts and 
Comparisons 4. 0 - 2009
TTT được phân thành 05 mức độ [8]. 
Mức độ 1: Nặng/ đe dọa tính mạng; có 
kiểm chứng tốt. Mức độ TTT giảm dần từ 
1 đến 5.
Qua khảo sát 388 HSBA thu được có 
153 HSBA có TTT chiếm 39,4%. Phát 
hiện hiện 341 TTT. Trong đó TTT mức độ 
1 là 38 cặp chiếm 11,1%; TTT mức độ 2 có 
104 cặp 30.5%; TTT mức độ 3 có 48 cặp 
14.1%; TTT mức độ 4 có 114 cặp 33.4%;
- Tổng hợp 3 tài liệu
Bảng 1. Tỉ lệ HSBA có TTT và số lượng các TTT được phát hiện:
Bộ Y tế Drugs.com F&C 4.0
SL Tỉ lệ % SL
Tỉ lệ 
%
SL
Tỉ lệ 
%
Tổng số HSBA 388 100,0 388 100,0 388 100,0
HSBA có TTT 257 66,2 247 63,7 153 39,4
Tổng số TTT 833 1059 341
Nhận xét: Tài liệu của Bộ Y tế phát 
hiện HSBA có TTT cao nhất với 257 chiếm 
tỉ lệ 66,2%, kế đến là Drugs.com phát hiện 
được 247 HSBA có TTT chiếm tỉ lệ 63,7% 
và thấp nhất là F&C 4.0 – 2009 phát hiện 
153 HSBA có TTT chiếm tỉ lệ 39,4%. Tuy 
nhiên Drugs.com phát hiện được số lượng 
TTT nhiều nhất với 1.059 cặp trong số 247 
HSBA có TTT và F&C 4.0 – 2009 là phát 
hiện ít nhất được 341 TTT trong số 153 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
26
HSBA có TTT. Có nhiều nguyên nhân các 
tài liệu phát hiện TTT không giống nhau, 
như nhiều thuốc không có trong dữ liệu 
của Drugs.com hay F&C 4.0, ngược lại có 
những thuốc tài liệu Bộ Y tế chưa cập nhật.
* Khảo sát mối tương quan giữa số 
lượng thuốc trong HSBA và tỉ lệ TTT xảy 
ra: Cả 3 tài liệu đều có sự giống nhau: 
HSBA có từ 3- 4 thuốc thì xảy ra 10- 30% 
TTT, từ 5- 6 thuốc thì xảy ra 40- 70% TTT, 
từ 7- 8 thuốc thì xảy ra 50-80% TTT; còn 
từ 9- 12 thuốc thì xảy ra từ 60- 100% TTT 
và trên 12 thuốc thì 100% HSBA có TTT 
xảy ra.
Phân tích thống kê kết luận có sự liên 
quan từ chặt chẽ đến rất chặt chẽ giữa số 
lượng thuốc phối hợp càng nhiều thì tỉ lệ 
TTT xảy ra càng cao ( R = 0,87 - 0,97). 
Hình 1. Mối tương quan giữa số lượng thuốc và tỉ lệ TTT
* Can thiệp thông tin thuốc 
Báo cáo kết quả đã khảo sát, kiểm tra 
TTT, phổ biến các TTT thường gặp (50 
cặp tương tác thuốc nặng thường gặp 
cần nhớ). Thực hành dược lâm sàng tại 
các khoa lâm sàng.
2. Giai đoạn 2 : Sau khi can thiệp 
thông tin thuốc. Khảo sát được 380 HSBA 
đang điều trị tại các khoa hệ nội từ tháng 
7 đến 9. Lặp lại nghiên cứu và so sánh với 
giai đoạn 1. 
2.1 Về số loại thuốc sử dụng trong 
HSBA:
- Số thuốc trung bình trong HSBA ở 
giai đoạn 1: 7 thuốc (6.98)
- Số thuốc trung bình trong HSBA ở 
giai đoạn 2: 6 thuốc (5.93)
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
27
Hình 2. So sánh số lượng thuốc trong HSBA giữa 2 giai đoạn
Nhận xét: Ở giai đoạn 2 số HSBA trên 
8 loại thuốc đã giảm đi có ý nghĩa thống 
kê (F = 9,31 > F
0,05
 = 5,11; p= 0,05), đưa 
số lượng thuốc trung bình/ HSBA giảm từ 
7 xuống còn 6 thuốc. Như vậy, việc thông 
tin thuốc đã đóng góp vào sự làm giảm bớt 
các thuốc sử dụng không cần thiết, hạn chế 
được các TTT có thể xảy ra. 
2.2 Tương tác thuốc
- Theo tài liệu Bộ Y tế
Bảng 2. So sánh tỉ lệ TTT theo từng mức độ giữa 2 giai đoạn
Mức độ
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
4 42 10,8 15 3,9
3 73 18,8 45 11,9
2 618 159,3 250 66,0
1 100 25,8 70 18,5
Tổng số HSBA 388 380
Nhận xét: Tất cả các mức độ TTT ở 
giai đoạn 2 đã giảm có ý nghĩa thống kê 
(p = (5,3 – 156,0) > p
α
 = 3,84 ; α = 0,05). 
Trong đó, số TTT mức độ 4 (nguy hiểm) 
giảm từ 10,8% xuống còn 3,9%. 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
28
Hình 3. So sánh tương quan giữa số lượng thuốc và tỉ lệ TTT giữa hai giai đoạn
Nhận xét: Ở giai đoạn 2, HSBA có 
cùng số lượng thuốc thì tỉ lệ TTT đều 
giảm. Tương quan này ở giai đoạn 2 đã 
giảm hơn có ý nghĩa thống kê (F= 15,17 > 
F
α
 = 4,47; p= 0,05). 
- Theo trang web Drugs.com 
Bảng 3. So sánh tỉ lệ TTT theo từng mức độ giữa 2 giai đoạn
Mức độ
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
Nghiêm trọng 89 22,9 47 12,4
Trung bình 750 193,3 431 113,4
Nhẹ 220 56,7 127 33,4
Tổng số 
HSBA
388 380
Nhận xét: Ở giai đoạn 2, Tất cả các 
mức độ TTT đã giảm có ý nghĩa thống kê 
(P = (12,97 – 86,16) > P
α
 = 3,84; α = 0,05). 
Trong đó, TTT nghiêm trọng giảm còn 
12,4% (so với 22,9%). 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
29
Hình 4. So sánh tương quan giữa số lượng thuốc và tỉ lệ TTT giữa hai giai đoạn
Nhận xét: Ở giai đoạn 2, HSBA có 
cùng số lượng thuốc thì tỉ lệ TTT đã giảm. 
Tương quan này có giảm, nhưng không có 
ý nghĩa thống kê (F= 1,58 < F
α
 = 4,66; p= 
0,05).
- Theo phần mềm Facts and Comparisons 4.0 – 2009.
Bảng 4. So sánh tỉ lệ TTT theo từng mức độ giữa 2 giai đoạn
Mức độ
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2
Số lượng Tỉ lệ /HSBA(%) Số lượng Tỉ lệ /HSBA(%)
1 38 9,8 21 5,5
2 104 26,8 62 16,3
3 48 12,4 18 4,7
4 114 29,4 50 13,2
5 37 9,5 13 3,4
Tổng số HSBA 388 380
Nhận xét: Ở giai đoạn 2, tất cả các 
mức độ TTT đều giảm có ý nghĩa thống kê 
(F= 18,61 > F
α
 = 7,70; p= 0,05). Trong đó, 
TTT mức độ 1 (nặng) giảm còn 5,5% (so 
với 9,8%).
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
30
Hình 5. So sánh tương quan giữa số lượng thuốc và tỉ lệ TTT giữa hai giai đoạn.
Nhận xét: Ở giai đoạn 2, HSBA có 
cùng số lượng thuốc thì tỉ lệ TTT đã giảm. 
Tương quan nầy đã giảm có ý nghĩa thống 
kê (F= 6,93 > F
α
 = 4,66; p= 0,05).
* Tổng hợp 3 tài liệu
Theo cả 3 tài liệu, tỉ lệ HSBA có TTT 
đều đã giảm có ý nghĩa thống kê (F= 45,33 
> F
α
 = 18,51; p= 0,05). Trong đó, theo tài 
liệu BYT tỉ lệ này đã giảm từ 66,2% xuống 
44,9%; theo Drugs.com đã giảm từ 63,7% 
xuống 50,3% và theo F&C 4.0 đã giảm từ 
39,4% xuống 24,7%.
BÀN LUẬN
- Các nhóm bệnh lý thường gặp là 
các bệnh Tim mạch với 276 lượt, chiếm 
33,29%, là nhóm bệnh thường phải điều 
trị phối hợp nhiều thuốc, đây là yếu tố ảnh 
hưởng đến TTT rất rõ.
- Các thuốc được chỉ định nhiều nhất 
là nhóm thuốc Tim mạch (31,7%) đây 
cũng là nhóm thuốc gây ra TTT nhiều 
nhất, chiếm tới 49,5% tổng số TTT. 
- Cả 3 tài liệu đều cho thấy có sự liên 
quan từ chặt chẽ đến rất chặt chẽ giữa số 
lượng thuốc sử dụng càng nhiều thì tần 
suất, tỉ lệ TTT xảy ra càng cao (|R| = 0,87- 
0,97). 
- Tỉ lệ HSBA có TTT khoảng từ 40% 
- 60%, trong đó các các TTT nặng, nguy 
hiểm chiếm khoảng 5- 10% tùy theo từng 
tài liệu tra cứu. Có nhiều nguyên nhân các 
tài liệu phát hiện TTT không giống nhau, 
như nhiều thuốc không có trong dữ liệu 
của Drugs.com hay F&C 4.0, ngược lại có 
những thuốc tài liệu Bộ Y tế chưa cập nhật.
Hiệu quả sau khi can thiệp thông tin 
thuốc
- Số thuốc trung bình trong HSBA 
giảm bớt từ 7 xuống còn 6 thuốc, trong đó 
HSBA có trên 8 loại thuốc đã giảm có ý 
nghĩa thống kê từ 32,5% xuống còn 16,8% 
(F = 9,31 > F 
0,05
 = 5,11; p= 0,05).
- Tỉ lệ HSBA có TTT đã giảm từ 
khoảng 39,4 - 66,2% xuống còn 24,7 - 
50,3% (F= 45,33 > F
α
 = 18,51; p= 0,05). 
Đặc biệt các TTT nặng đã giảm có ý nghĩa 
thống kê.
- Tương quan giữa số lượng thuốc và 
tỉ lệ TTT đã giảm có ý nghĩa thống kê (F= 
15,17 > F
α
 = 4,47; p= 0,05).
(Xem tiếp trang 38)

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tuong_tac_thuoc_tai_cac_khoa_he_noi_benh_vien_da_kh.pdf