Khảo sát tình hình phá thai to ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 6 tháng đầu năm 2012

mục tiêu: Khảo sát thái độ và kiến thức của các

trường hợp phá thai to vị thành niên trong 6 tháng đầu

năm 2012 và kết quả đình chỉ thai nghén các trường

hợp này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu

hồi cứu dựa trên các hồ sơ của vị thành niên đến khám

và bỏ thai ở tuổi thai 13 – 22 tuần tại khoa ĐTTYC, số

liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê đơn thuần.

Kết quả: Tỷ lệ phá thai to ở vị thành niên trong 6 tháng

đầu năm 2012 chiếm tỷ lệ 10,4%. Lứa tuổi 16 – 19 chiếm

90,7%, học sinh, sinh viên chiếm 70,9%. Có 83,3% không

xử dụng biện pháp tránh thai, 90,3 % có biết nguy cơ

mang thai khi quan hệ tình dục, 32,3% có tiền sử nạo

hút thai trước đó, 86,7% khi đi phá thai không có bạn

trai đi cùng. Phá thai nội khoa chiếm 77,4 % và nong

gắp thai chiếm 22,6%. Trong đó chỉ có 2 trường hợp

chảy máu. Kết luận: Phần lớn VTN hiểu biết về nguy

cơ có thai khi quan hệ tình dục nhưng có tới 83,3% các

em không xử dụng biện pháp tránh thai. Với tâm lý lo

sợ và che dấu nên VTN thường quyết định bỏ thai muộn

khi tuổi thai đã trên 18 tuần, gây sảy thai bằng phương

pháp nội khoa cho kết quả thành công cao

pdf 4 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình hình phá thai to ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 6 tháng đầu năm 2012", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát tình hình phá thai to ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 6 tháng đầu năm 2012

Khảo sát tình hình phá thai to ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 6 tháng đầu năm 2012
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
125
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 125 - 128, 2013
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH PHÁ THAI TO 
Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2012
nguyễn Thị Bích Vân(1), Vũ Văn Du(2), phan Thị anh(2), nguyễn Thanh huyền(2), Cn. phạm Thị Dừng(2)
 (1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
tóm tắt
mục tiêu: Khảo sát thái độ và kiến thức của các 
trường hợp phá thai to vị thành niên trong 6 tháng đầu 
năm 2012 và kết quả đình chỉ thai nghén các trường 
hợp này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu 
hồi cứu dựa trên các hồ sơ của vị thành niên đến khám 
và bỏ thai ở tuổi thai 13 – 22 tuần tại khoa ĐTTYC, số 
liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê đơn thuần. 
Kết quả: Tỷ lệ phá thai to ở vị thành niên trong 6 tháng 
đầu năm 2012 chiếm tỷ lệ 10,4%. Lứa tuổi 16 – 19 chiếm 
90,7%, học sinh, sinh viên chiếm 70,9%. Có 83,3% không 
xử dụng biện pháp tránh thai, 90,3 % có biết nguy cơ 
mang thai khi quan hệ tình dục, 32,3% có tiền sử nạo 
hút thai trước đó, 86,7% khi đi phá thai không có bạn 
trai đi cùng. Phá thai nội khoa chiếm 77,4 % và nong 
gắp thai chiếm 22,6%. Trong đó chỉ có 2 trường hợp 
chảy máu. Kết luận: Phần lớn VTN hiểu biết về nguy 
cơ có thai khi quan hệ tình dục nhưng có tới 83,3% các 
em không xử dụng biện pháp tránh thai. Với tâm lý lo 
sợ và che dấu nên VTN thường quyết định bỏ thai muộn 
khi tuổi thai đã trên 18 tuần, gây sảy thai bằng phương 
pháp nội khoa cho kết quả thành công cao. từ khóa: Vị 
thành niên, phá thai to
ABStRACt
evaluaTion oF laTe aborTion siTuaTion among 
Teenager s aT nhog in The FisT halF oF 2012
Objectives: To evaluate the attitude and knowledge 
when dealing with late abortion cases at teenagers 
and the results of pregnancy termination. materials & 
methods: retrospective study on the basis of the medical 
file of those late abortion (13 – 22 w) cases at teenagers 
hospitalized and treated at the NHOG in the first half 
of 2012. Result: the ratio of late abortion in NHOG 
accounted for 10,4%. Age range of 16- 19 accounted 
for 90,7%. Pupils, students accounted for 70,9%, 83,3% 
did not applied pregnancy prevention methods, 90,3% 
aware of pregnancy risks when having sexual relations, 
32,3% had experienced abortions, 86,7% were not 
accompanied by boyfriends. Medical abortion account 
for77,4%, curettages of uterine 87,5%. There were only 
2 bleeding cases. Conclusion: Most of teenagers aware 
of pregnancy risks when having sexual relation but 
up to 82,3% did not apply any pregnancy prevention 
methods. With the felling of being worried and hiding, 
they tended to do late abortion at the 18th week or above 
of pregnancy. Medical abortion brought high rate of 
success. Keyword: teenagers, late abortion
i. Đặt vấn Đề
Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống 
nhất.Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 
tuổi là độ tuổi vị thành niên.Thanh niên trẻ là lứa tuổi 
19 - 24 tuổi.Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe 
tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh 
châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) 
lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi.
Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 
tuổi.Thanh niên là từ 19 - 24 tuổi.Trẻ em được luật 
pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi.Về mặt 
luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi (1).
Thanh thiếu niên là một lực lượng đông đảo 
trong cơ cấu dân số nước ta. Hiện có khoảng 28 
triệu người ở độ tuổi 10 – 24 và chiếm 31,6% dân 
số. Riêng độ tuổi vị thành niên có khoảng 16 – 17 
triệu người chiếm 20 – 22 %. Một số nghiên cứu 
trong những năm gần đây cho thấy số thanh niên 
có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang gia tăng 
và có khoảng 15 – 20% số ca nạo phá thai là của 
thanh niên chưa lập gia đình. Đặc biệt vị thành 
niên là nhóm dân cư rất thiếu kiến thức về sức 
khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cũng như thiếu 
thông tin về phương pháp tránh thai và bệnh lây 
qua đường tình dục.Thống kê mới nhất của Hội Kế 
hoạch hóa gia đình, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo 
phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á 
và đứng thứ 5 trên thế giới. Điều đó phản ánh thực 
Các biến số nghiên cứu được thu thập theo mẫu 
với các thông số về tuổi, tình trạng học vấn, kinh tế, 
đặc điểm và tiền sử sản phụ khoa, bệnh lý kèm theo, 
lý do mang thai, lý do phá thai các biến số được xử 
lý bẳng phần mềm Epi info 
3. Tiêu chuẩn lựa chọn: 
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định tuổi từ 13 – 19, 
có chứng minh nhân dân hoặc giấy khai sinh hợp lệ
- Tuổi thai khi nhập viện trên 13 tuần
4. Tiêu chuẩn loại Trừ:
-Hồ sơ không đầy đủ thông tin.
iii. Kết quả và Bàn luận
Trong 6 tháng đầu năm 2012 chúng tôi thu nhận 
được 31 hồ sơ phá thai to ở trẻ vị thành niên trong 
tổng số 298 hồ sơ phá thai to tại khoa điều trị theo 
yêu cầu, chiếm tỷ lệ 10,4 %
Bảng 1. Thông tin chung của vị thành niên
Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là từ 16 – 19 tuổi chiếm 
tới 90,4% trong đó các đối tượng học sinh, sinh viên 
là 70,9%. Phần lớn trong số này đều chưa có gia đình 
(83,9% ). Các em thường quyết định phá thai rất 
muộn , khi thai đã trên 18 tuần ( 83,9%)
Bảng 2. Tiền sử sản khoa của vị thành niên
nguyễn Thị BíCh VÂn, Vũ Văn Du, phan Thị anh, nguyễn Thanh huyền, Cn. phạM Thị DừngPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
126
tế là hiện nay nhiều bạn gái trẻ thiếu kiến thức 
cơ bản về tình dục, sức khỏe sinh sản... dẫn đến 
những hệ lụy khôn lường về tâm lý, thể chất. Nguy 
hiểm hơn nữa, nạo phá thai là một trong những 
nguyên nhân dẫn đến nguy cơ vô sinh( 2 ).
Theo kết luận được đưa ra tại Hội thảo phổ biến 
kết quả nghiên cứu về giới và sức khỏe sinh sản 
cho thanh niên, học sinh, sinh viên do Bộ GD-ĐT và 
UNESCO tổ chức, thông thường đối tượng vị thành 
niên bắt đầu mối quan hệ tình cảm vào khoảng 
16 tuổi. Tuy nhiên, các em có thể bắt đầu từ lúc 
10 tuổi, hoặc thậm chí sớm hơn.Gần 50% vị thành 
niên từng quan hệ tình dục không áp dụng biện 
pháp bảo vệ trong lần quan hệ đầu tiên.Con số vị 
thành niên mang thai, nạo phá thai hiện nay thực 
sự rất đáng báo động. 
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình 
Việt Nam, mỗi năm cả nước có 1,2 - 1,6 triệu ca nạo 
phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi vị thành niên. Có 
những sản phụ chỉ mới 12 tuổi.Còn điều tra quốc gia 
về vị thành niên và thanh niên Việt Nam cho thấy 
7,6% trong độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn 
nhân. Đó là chưa kể tới rất nhiều ca nạo phá thai tại 
những cơ sở y tế tư nhân mà chúng ta không có con 
số thống kê chính xác.Việc có thai và phá thai ở vị 
thành niên không những gây ra cho bản thân bạn trẻ 
những tổn thương về tâm lý tình cảm, thể xác mà còn 
để lại những ảnh hưởng không nhỏ cho gia đình, nhà 
trường và xã hội (3).
mục Tiêu nghiên cứu
Khảo sát thái độ và kiến thức của các trường hợp 
phá thai to vị thành niên trong 6 tháng đầu năm 2012 
và kết quả đình chỉ thai nghén các trường hợp này
ii. Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu 
1. Đối Tượng nghiên cứu:
 Hồ sơ của các trẻ vị thành niên có tuổi thai từ 13 
– 22 tuần đến phá tại khoa ĐTTYC Bệnh viện Phụ sản 
trung ương trong 6 tháng đầu năm 2012
2. Phương PháP nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án 
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê 
thông thường.
Cỡ mẫu: mẫu tổng thể không xác xuất, toàn bộ hồ 
sơ đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn đều được lấy vào 
nghiên cứu. Từ01/01/2012 đến 30/06/2012 chúng tôi 
thu nhận được 31bệnh án đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
TT Thông tin chung n %
1 nhóm tuổi
13 – 15
16 – 19
3
28
9,6%
90.4%
2 nơi ở
hà nội
nông thôn
13
18
41,9%
58,1%
3 Trình độ văn hóa
Thất học
học sinh
Sinh viên
9
17
5
29,1%
54,8%
16,1%
4 Tình trạng hôn nhân
Có chồng
Chưa chồng
5
26
16,1%
83,9%
5 Tuổi thai
13 – 17 tuần
18 – 22 tuần
5
26
16,1%
83,9%
Tiền sử n %
TS nạo hút
0
1 lần
≥ 2lần
21
7
3
67,7%
22,6%
9,7 %
TS phá thai to
Có
Không
3
28
9,7%
90,3%
Sử dụng BpTT
Có 
Không 
5
26
16,7%
83,3%
hiểu biết về việc có thai
Có 
Không 
28
3
90,3%
9,7%
Có bạn trai đi cùng
Có 
Không 
4
27
13,3%
86,7%
Gần 1/3 trong số VTN trong nghiên cứu đã từng 
có tiền sử nạo hút thai trước đó.Chỉ có 5 trường hợp 
có sử dụng biện pháp tránh thai ( 16,7%), mặc dù 90,3 
% có hiểu biết về nguy cơ có thai của lần này.
Bảng 3. phương pháp phá thai
Phá thai nội khoa là phương pháp được sử dụng 
rộng rãi, chiếm 77,4%. Trong đó chủ yếu là ở thai to 
với tuổi thai trên 18 tuần, nong gắp thai chỉ chiếm 
22,6% và phần lớn xử dụng với thai đưới 18 tuần.
Bảng 4. Kết quả phá thai
Trong số 31 hồ sơ theo dõi phá thai trong 
nghiên cứu chỉ có 2 trường hợp có biến chứng 
chảy máu chiếm 8,3%, 67,7% các trường hợp phá 
thai nội khoa phải nạo buồng tử cung do sót rau, 
rau không bong.
bàn luận: 
Thống kê trong những năm gần đây cho thấy 
tỷ lệ nạo phá thai ở vị thành niên không ngừng 
gia tăng, theo khảo sát của tác giả Ngô Thị Nhâm 
Tuyết tại Thái Bình cho tỷ lệ phá thai to ở vị thành 
niên chiếm 1/3 trong tổng số, theo tác giả Việt 
Phương ở Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là 17,3% 
và theo báo cáo thống kê của Bệnh viện Phụ Sản 
Từ Dũ thì tỷ lệ này tăng lên qua từng năm (4). Tỷ lệ 
phá thai to của vị thành niên trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 10,4 % thấp hơn các tác giả trên, tuy 
nhiên vì thời gian nghiên cứu ngắn và trên một số 
lượng chưa nhiều nên tỷ lệ này chắc sẽ cao hơn 
nếu theo dõi trong khoảng thời gian dài hơn. Lứa 
tuổi gặp nhiều nhất trong nghiên cứu, chiếm tới 
90,4 % nằm trong nhóm từ 16- 19 tuổi, chủ yếu 
là học sinh, sinh viên, đây là một tầng lớp trí thức 
có văn hóa và được trang bị những kiến thức nhất 
định về giới tính và sức khỏe sinh sản trong các 
nhà trường. Tuy nhiên thực tế trong nghiên cứu 
cho thấy có tới 32,3% các em đã từng nạo hút thai 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
127
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 125 - 128, 2013
phương pháp phá thai n %
nội khoa
13 – 17 tuần
18 – 24 tuần
4
20
12,9%%
64,5%
nong gắp
13 – 17 tuần
18 – 24 tuần
5
2
16,1%
6,5%
Tổng 31 100%
phương pháp Kết quả Chảy máu Chuyển phương pháp
nội khoa
Sảy cả bọc
nạo lại BTC
3( 9,7%)
21(67,7%)
2( 8,3%) 0
nong gắp
Thành công
Sót rau
6( 19,4%)
1( 3,2%)
0 0
trước lần này và mặc dù có tới 90,3% các em nhận 
thức được nguy cơ có thai khi quan hệ tình dục 
nhưng chỉ có 16,7% xử dụng biện pháp tránh thai. 
Điều này cho thấy các em rất thiếu kiến thức về 
sức khỏe sinh sản đặc biệt về tránh thai và tình 
dục an toàn nhất là trong những năm gần đây 
việc bùng nổ các kỹ thuật công nghệ thông tin 
khiến giới trẻ có thêm nhiều cơ hội tiếp xúc với 
phim ảnh và sách báo khiêu dâm, chỉ với một máy 
điện thoại cầm tay hay một máy tính cá nhân các 
em có thể truy cập vào bất cứ một trang web đen 
nào mà không hề bị ai kiểm soát. Với tâm lý của 
vị thành niên luôn muốn tìm hiểu và học hỏi, bắt 
chước nên việc quan hệ tình dục sớm , trong học 
sinh, sinh viên đã dẫn đến hậu quả tất yếu là có 
thai ngoài ý muốn (5).
Điều tra của Ủy ban quốc gia Dân số - KHHGĐ 
năm 1994 tại Hà Nội và Tp.HCM cho thấy 15% 
nam sinh viên và 2,5% nữ sinh viên đã từng quan 
hệ tình dục.Viện xã hội học và hội đồng dân số 
khảo sát tại 6 tỉnh Việt Nam (Lai Châu, Quảng 
Ninh, Hà Tây, Quảng Nam – Đà Nẵng, Tp.HCM và 
Kiên Giang) năm 2003 ghi nhận có 6% nam và 4% 
nữ có quan hệ tình dục lần đầu trước 18 tuổi, tỷ lệ 
có quan hệ tình dục chung trong toàn nghiên cứu 
là 10% đối với nam và 5% đối với nữ (6) .
Một vấn đề đáng lưu tâm là tỷ lệ phá thai trên 
18 tuần trong nghiên cứu này khá cao chiếm tới 
83,9 %, trong đó chỉ có 9,7% các em không biết 
mình có thai, phần lớn vị thành niên khi biết mình 
mang thai đều có tâm lý lo sợ và muốn che dấu, 
một phần vì các em không đủ kiến thức để đánh 
giá chính xác thời kỳ thụ thai, tuổi thai, một phần 
vì các em lúng túng trong cách giải quyết và có 
xu hướng trông chờ vào sự trợ giúp của bạn tình 
nên khi quyết định bỏ thì thai đã to và một thực 
tế đáng buồn là phần lớn các bạn trai sau khi gây 
hậu quả thì thường cao chạy xa bay, theo khảo sát 
trong nghiên cứu này thì có tới 83,7% các em khi 
đến phá thai đều không có bạn tình đi cùng, điều 
này cũng tạo nên một sang chấn tinh thần lớn cho 
các em. Tại Tp.HCM sang chấn tâm lý sau bỏ thai 
ở nữ VTN thường biểu hiện dưới dạng suy nhược 
tinh thần chiếm tỷ lệ 27,5% trong các trường hợp 
phá thai. Trong đó mức độ nhẹ chiếm 63,64%, 
trung bình 27,27% và nặng 9,09%. Các trường hợp 
nặng thường do có liên quan đến biến chứng và 
không được sự hỗ trợ tinh thần bởi gia đình( 7 ).
Phương pháp phá thai được xử dụng chủ yếu 
trong nghiên cứu là phá thai nội khoa , xử dụng 
nguyễn Thị BíCh VÂn, Vũ Văn Du, phan Thị anh, nguyễn Thanh huyền, Cn. phạM Thị DừngPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
128
thuốc gây sảy thai (77,4%) với tỷ lệ thành công rất 
cao 91,7%, tuy nhiên phần lớn (21/24 trường hợp) 
phải nạo buồng tử cung sau khi thai ra do rau 
không bong, sót rau, sót màng .. Việc can thiệp 
nạo buồng tử cung có nguy cơ gây sang chấn 
đường sinh dục, gây đau, và nguy cơ viêm nhiễm, 
có thể dẫn tới vô sinh thứ phát. Phần lớn vị thành 
niên không biết được các nguy cơ này, các em chỉ 
nghĩ đơn giản khi không muốn mang thai thì nạo 
bỏ là xong.
iv. Kết luận
Thực trạng phá thai to ở VTNchiếm tỷ lệ khá 
cao 10,4% trên tổng số phá thai, gặp nhiều nhất 
ở đối tượng học sinh, sinh viên. Phần lớn VTN 
hiểu biết về nguy cơ có thai khi quan hệ tình 
dục nhưng có tới 83,3% các em không xử dụng 
biện pháp tránh thai. Với tâm lý lo sợ và che dấu 
nên VTN thường quyết định bỏ thai muộn khi 
tuổi thai đã trên 18 tuần, việc gây sảy thai bằng 
phương pháp nội khoa cho kết quả thành công là 
91,7%, nhưng trong đó có tới 87,5% trường hợp 
phải nạo lại buồng tử cung 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các thay đổi tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành 
niên. Tài liệu hường dẫn chuẩn quốc gia về chăm sóc 
sức khỏe sinh sản (2005), tr 495 – 498.
2. Tài liệu truyền thông tại các mô hình chăm sóc 
sức khỏe sinh sản vị thành niên. Trung ương Đoàn 
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh , trung tâm giáo dục 
dân số- sức khỏe – môi trường, NXB Thanh niên ( 2008 )
3 .Nạo phá thai tuổi vị thành niên hiểm họa khó 
lường Vinafpa.org.vn/kiến thức/sức khỏe sinh sản- 
tình dục
4. Huỳnh Thanh Hương. (2005). Các yếu tố nguy cơ 
của phá thai to ở tuổi vị thành niên. Đại Học Y Dược 
Tp.HCM, Hồ Chí Minh.
5. Báo động thực trạng mang thai, nạo phá thai ở 
tuổi vị thành niên Xã hội, thứ tư ngày 27 / 3/ 2013 
6. Bộ Y tế & SIDA. (2006). Điều tra quốc gia về vị 
thành niên, thanh niên Việt Nam. Báo cáo chuyên đề: 
Một số vấn đề sức khỏe tình dục và sinh sản của vị 
thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY).
7. Bệnh viện Từ Dũ. (2008). Báo cáo tổng kết hoạt 
động bệnh viện.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_hinh_pha_thai_to_o_tre_vi_thanh_nien_tai_benh.pdf