Khảo sát tình hình đái tháo đường trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2016

Mục tiêu: xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan

tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên

230 thai phụ từ 24 – 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện Phụ sản- Nhi

Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 3/2016- 9/2016. Tiến hành nghiệm

pháp dung nạp glucose và lấy máu xét nghiệm đường huyết thai phụ ở

các thời điểm: lúc đói, 1 giờ và 2 giờ sau uống 75 g glucose. Chẩn đoán

đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2014.

Kết quả: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ của các thai phụ mang thai từ

24 – 28 tuần tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng là 15,2 %. Các yếu

tố được ghi nhận có liên quan đến tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ: tuổi;

thừa cân, béo phì; tăng cân > 10 kg, tiền sử gia đình có người bị đái tháo

đường; tiền sử sẩy thai, thai lưu, tiền sử đái tháo đường thai kỳ và tiền

sử sinh con > 3500gram.

Kết luận: Tầm soát và chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ cho tất cả

thai phụ có tuổi thai từ 24 – 28 tuần là cần thiết. Trong quá trình khám

thai và theo dõi thai kỳ cần hỏi và phát hiện những yếu tố nguy cơ đái

tháo đường thai kỳ để có chỉ định xét nghiệm đường huyết khi đói ở

những lần khám đầu tiên của thai phụ. Đối với thai phụ nguy cơ cao cần

chẩn đoán và điều trị đái tháo đường càng sớm càng tốt.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình hình đái tháo đường trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát tình hình đái tháo đường trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2016

Khảo sát tình hình đái tháo đường trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng năm 2016
TRẦN ĐÌNH VINH, TRẦN THỊ QUỲNH MAI, TRƯƠNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
88
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trần Đình Vinh, Trần Thị Quỳnh Mai, Trương Thị Bích Phượng 
Bệnh viện Phụ Sản nhi Đà nẵng
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG THAI KỲ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN - NHI ĐÀ NẴNG NĂM 2016
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Đình Vinh, 
email: trdivinh70@ gmail.com 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Mục tiêu: xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan 
tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 
230 thai phụ từ 24 – 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện Phụ sản- Nhi 
Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 3/2016- 9/2016. Tiến hành nghiệm 
pháp dung nạp glucose và lấy máu xét nghiệm đường huyết thai phụ ở 
các thời điểm: lúc đói, 1 giờ và 2 giờ sau uống 75 g glucose. Chẩn đoán 
đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2014. 
Kết quả: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ của các thai phụ mang thai từ 
24 – 28 tuần tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng là 15,2 %. Các yếu 
tố được ghi nhận có liên quan đến tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ: tuổi; 
thừa cân, béo phì; tăng cân > 10 kg, tiền sử gia đình có người bị đái tháo 
đường; tiền sử sẩy thai, thai lưu, tiền sử đái tháo đường thai kỳ và tiền 
sử sinh con > 3500gram.
Kết luận: Tầm soát và chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ cho tất cả 
thai phụ có tuổi thai từ 24 – 28 tuần là cần thiết. Trong quá trình khám 
thai và theo dõi thai kỳ cần hỏi và phát hiện những yếu tố nguy cơ đái 
tháo đường thai kỳ để có chỉ định xét nghiệm đường huyết khi đói ở 
những lần khám đầu tiên của thai phụ. Đối với thai phụ nguy cơ cao cần 
chẩn đoán và điều trị đái tháo đường càng sớm càng tốt.
1. Đặt vấn đề
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá đang có tốc độ phát triển 
nhanh. Đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc 
thứ năm ở các nước phát triển [5], [7]. Đái tháo đường thai kỳ là một thể 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 88 - 93, 2017
89
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
đặc biệt của đái tháo đường. Sự gia tăng của đái 
tháo đường type 2 trong dân số chung bao gồm 
cả những người trẻ tuổi đã kéo theo sự gia tăng 
số lượng thai phụ đái tháo đường. Tỷ lệ đái tháo 
đường trong thai kỳ chiếm 1% - 14% thai phụ, tùy 
thuộc vào dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn 
đoán được sử dụng. Bệnh có xu hướng tăng nhất 
là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó 
có Việt Nam [3]. Đái tháo đường là một biến cố y 
khoa lớn xảy ra trong thời gian có thai. Nếu không 
được chẩn đoán và điều trị thích hợp có thể ảnh 
hưởng đến tử suất và bệnh suất của mẹ và thai nhi 
[10]. Những biến chứng này đã được chứng minh 
có thể giảm thiểu đáng kể nếu thai phụ được phát 
hiện và điều trị sớm [6]. Hầu hết đái tháo đường 
trong thai kỳ không có triệu chứng, chỉ chẩn đoán 
bằng nghiệm pháp dung nạp glucose, nhóm thai 
phụ này chiếm tỷ lệ rất cao so với nhóm thai phụ 
có đái tháo đường biết trước khi có thai, chiếm 90% 
đái tháo đường thai kỳ [2]. Do đó, cần phải tầm 
soát đái tháo đường ở thai phụ để có phương pháp 
chăm sóc, theo dõi và điều trị thích hợp.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
1.Đối tượng nghiên cứu là 230 thai phụ tuổi 
thai từ 24- 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện Phụ 
sản – Nhi Đà Nẵng trong thời gian nghiên cứu từ 
tháng 3/2016- 9/2016.
2. Tiêu chuẩn chọn mẫu: đối tượng được nhận 
vào nghiên cứu hội đủ các điều kiện: 
- Nhớ ngày kinh cuối hoặc có kết quả siêu âm 
ba tháng đầu, 
- Tuổi thai 24 -28 tuần theo kinh cuối hoặc siêu 
âm thai ba tháng đầu.
 - Đồng ý tham gia nghiên cứu: đồng ý phỏng vấn, 
uống 75gram glucose và lấy máu làm xét nghiệm.
- Tình trạng sức khỏe bình thường: xác định qua 
hỏi tiền sử, khám lâm sàng xác định không có bệnh 
tâm thần, nội khoa, ngoại khoa, rối loạn chuyển hóa.
3. Tiêu chuẩn loại trừ: những thai phụ có các 
đặc điểm sau sẽ được loại khỏi nghiên cứu: 
- Không có khả năng thực hiện nghiệm pháp 
dung nạp glucose,
 - Được chẩn đoán đái tháo đường trước khi 
có thai.
 4. Cỡ mẫu: Tất cả các thai phụ tuổi thai từ 24 
– 28 tuần khám thai tại phòng khám sản bệnh viện 
Phụ sản – Nhi Đà Nẵng và được sàng lọc nghiệm 
pháp dung nạp glucose 75 g uống trong thời gian 
nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương 
pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
6. Xử lý số liệu: Số liệu nghiên cứu được xử lý 
theo phương pháp thống kê y học, sử dụng chương 
trình phần mềm SPSS 20.
3. Kết quả
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2016 
đến tháng 9/2016 có 230 thai phụ mang thai từ 
24 – 28 tuần được khám thai tại bệnh viện Phụ 
sản – Nhi Đà Nẵng, chúng tôi thu được những kết 
quả như sau:
3.1 Tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ
Nhận xét: Trong số 230 phụ nữ mang thai từ 24 
- 28 tuần được chọn vào nghiên cứu đã được làm 
nghiệm pháp dung nạp glucose với 75gr uống, kết 
quả là có 35 thai phụ được chẩn đoán đái tháo 
đường thai kỳ, chiếm tỷ lệ 15,2% . 
3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy 
cơ và tỷ lệ mắc ĐTĐ thai kỳ
Nhận xét:Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo nhóm 
tuổi. Trong đó tỷ lệ mắc bệnh gặp nhiều ở nhóm 
tuổi 30 - 34 là 37,1 %.
Trong nhóm thai phụ mang thai có tuổi ≥ 30 
tuổi có 20 thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ chiếm 
tỷ lệ 57,1 % cao hơn 32,8 % ở nhóm không bị đái 
tháo đường. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 
< 0,05, OR = 2,73, KTC 95% = 1,31 – 5,68
n Tỷ lệ (%)
ĐTĐ thai kỳ 35 15,2
Không ĐTĐ thai kỳ 195 84,8
Tổng 230 100
Bảng 1. Tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ
Nhóm tuổi
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
< 25 4 11,4 38 18,5
p < 0,05
25 - 29 11 31,4 93 47,7
30 - 34 13 37,1 48 24,6
≥ 35 7 20 16 8,2
Tổng 35 100 195 100
Bảng 2. Mối liên quan giữa ĐTĐ thai kỳ và tuổi mang thai
TRẦN ĐÌNH VINH, TRẦN THỊ QUỲNH MAI, TRƯƠNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
90
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nhận xét: Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm thai phụ thừa 
cân và béo phì có 2 thai phụ chiếm 5,7% cao hơn 
0 % ở nhóm không bị bệnh. So sánh tỷ lệ mắc bệnh 
giữa nhóm thai phụ thừa cân và béo phì với nhóm 
không thừa cân, béo phì thấy có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05, OR= 0,15 KTC 95%= 
0,106 – 0,198.
Nhận xét: Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm thai phụ tăng 
> 10 kg trong khi mang thai có 6 thai phụ chiếm 
17,2 % cao hơn 3,1% ở nhóm không bị bệnh. So 
sánh tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm thai phụ tăng > 
10 kg trong khi mang thai với nhóm tăng ≤ 10 
kg trong khi mang thai thấy có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05 , OR= 6,52 KTC 95% 
= 1,97 – 21,56.
Nhận xét: Tiền sử gia đình có người bị đái tháo 
đường làm tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thai 
kỳ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, 
OR = 0,14 KTC 95% = 0,06 – 0,33.
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê về tiền sử gia đình tăng huyết áp thế hệ 
BMI
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
< 18,5 0 0 8 4,1
p < 0,05
18,5 - 22,9 33 94,3 1870 95,9
≥ 23 2 5,7 0 0
Tổng 35 100 195 100
Bảng 3. Mối liên quan giữa ĐTĐTK và BMI trước khi mang thai
Số kg
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
< 5 4 11,4 100 51,3
p < 0,05
5 – 10 25 71,4 89 45,6
> 10 6 17,2 6 3,1
Tổng 35 100 195 100
Bảng 4. Mối liên quan giữa ĐTĐ thai kỳ với số kg tăng cân trong thai kỳ
Tiền sử gia đình ĐTĐ thế hệ 
thứ nhất
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
Có 15 42,9 19 9,7
p < 0,05Không 20 57,1 176 90,3
Tổng 35 100,0 195 100,0
Bảng 5. Mối liên quan giữa ĐTĐTK và tiền sử gia đình ĐTĐ thế hệ thứ nhất
Tiền sử gia đình THA thế hệ 
thứ nhất
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
Có 7 20 18 8,2
p > 0,05Không 28 80 177 91,8
Tổng 35 100 195 100
Bảng 6. Mối liên quan giữa ĐTĐTK và tiền sử gia đình tăng huyết áp thế hệ thứ nhất
thứ nhất với tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thai 
kỳ (p > 0,05).
Nhận xét: Tiền sử sinh con > 3500gr làm tăng 
tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ, sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, OR = 0,14 
KTC 95% = 0,06 – 0,33.
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
cho thấy tỷ lệ có tiền sử sẩy thai, thai lưu và tiền 
sử ĐTĐ thai kỳ ở thai phụ mang thai làm tăng tỷ lệ 
mắc đái tháo đường với p < 0,05 với OR lần lượt là 
: OR = 0,47 KTC 95% = 0,22 – 1, OR = 6,74 KTC 
95% = 4,9 – 9,2.
4. Bàn luận
4.1 Tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ
Tỷ lệ ĐTĐTK thay đổi tuỳ theo vùng, quốc gia 
và chủng tộc, điều kiện sống, tỷ lệ bệnh có thể 
đạt tới 14% và tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn 
đoán sử dụng [2]. Theo kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi trong số 230 phụ nữ mang thai được 
làm nghiệm pháp dung nạp glucose, phát hiện 
tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ là 15,2 % (theo 
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường trong thai 
kỳ theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 
2014) [8].Như vậy tỷ lệ ĐTĐTK trong nghiên cứu 
của chúng tôi cao hơn so với hầu hết các tác giả 
trong nước nghiên cứu các năm trước đó và thấp 
Cân nặng con
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
< 3500g 14 77,8 94 98,9
p < 0,05≥ 3500g 4 22,2 1 1,1
Tổng 18 100 95 100
 Bảng 7. Mối liên quan giữa ĐTĐTK với tiền sử cân nặng con trong những lần đẻ trước
Yếu tố
ĐTĐ thai kỳ Không ĐTĐ thai kỳ
p
n % n %
Tiền sử sẩy 
thai, thai lưu
Có 13 37,1 42 21,5
p < 0,05
Không 22 62,9 153 78,5
Tiền sử sinh 
non
Có 1 2,9 4 2,1
p > 0,05
Không 34 97,1 191 97,9
Tiền sử tiền 
sản giật
Có 2 5,7 4 2,1
p > 0,05
Không 33 94,3 191 97,9
Tiền sử ĐTĐ 
thai kỳ
Có 1 2,9 0 0
p < 0,05
Không 34 97,1 195 100
Tiền sử sinh 
mổ
Có 9 25,7 27 13,8
p > 0,05
Không 26 74,3 168 86,2
Tiền sử thai 
dị tật
Có 0 0 5 2,6
p > 0,05
Không 35 100 190 97,4
Bảng 8. Mối liên quan giữa ĐTĐTK với tiền sử sản khoa bất thường
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 88 - 93, 2017
91
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
hơn một nghiên cứu ở Nghệ An cách đây 4 năm. 
Cùng địa bàn thành phố Đà Nẵng, tỷ lệ chúng 
tôi cao gấp 3 lần nghiên cứu cách đây 2 năm. 
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này có thể do 
sự khác biệt về tuổi mang thai, chỉ số khối cơ thể, 
địa dư cũng như phương pháp sàng lọc, tuần 
thai sàng lọc và tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng. 
Điều này cho thấy cùng với sự phát triển của nền 
kinh tế, tỷ lệ ĐTĐ typ 2 nói chung và tỷ lệ ĐTĐTK 
nói riêng có chiều hướng gia tăng nhanh chóng 
ở Việt Nam. Vì vậy nghiên cứu xác định ngưỡng 
glucose máu lúc đói để sàng lọc ĐTĐTK áp dụng 
rộng rãi tại các phòng khám sản là việc làm hết 
sức cần thiết.
So với các nghiên cứu ở nước ngoài thì tỷ lệ 
ĐTĐTK trong nghiên cứu của chúng tôi là tương 
đương với một số nghiên cứu đã được công 
bố trước đây. Nghiên cứu HAPO năm 2008 ở 
9 quốc gia, chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ 
bằng nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gram 
thì tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ là 17,8 % [12]. 
Như vậy có thể nhận thấy là cùng với sự phát 
triển của xã hội thì tỷ lệ ĐTĐTK trong nước của 
chúng ta tương lai chắc chắn sẽ tăng cao hơn 
nữa chứ không dừng ở con số 15,2 % mà chúng 
tôi rút ra từ nghiên cứu này.
4.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy 
cơ với tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ
4.2.1 Mối liên quan giữa đái tháo đường thai 
kỳ và tuổi mang thai
Khảo sát các yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK, về 
tuổi chúng tôi thấy phụ nữ càng lớn tuổi mang 
thai càng dễ bị ĐTĐTK. Tỷ lệ mắc ĐTĐTK theo 
các nhóm tuổi < 25; 25 - 29; 30 - 34 và trên 35 
là: 11,4%; 31,4%; 37,1% và 7%. Tỷ lệ ĐTĐTK ở 
các nhóm tuổi tương ứng của Đoàn Hữu Hậu: 
0%; 2%; 3,2%; 4,5% (4), Ngô Thị Kim Phụng: 
2%; 3%; 5%; 8% [5]. Như vậy, kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi và của các tác giả đều đi tới 
kết luận chung là tỷ lệ ĐTĐTK có xu hướng tăng 
dần theo tuổi. Điều này cũng phù hợp với nhận 
định của tác giả Coustan [9] khi nghiên cứu 
6214 sản phụ thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK là 0,5% ở sản 
phụ dưới 20 tuổi, 4% ở nhóm dưới 35 tuổi và tác 
giả ghi nhận rằng tuổi mẹ càng cao dường như 
có liên quan đến tăng tỷ lệ mới mắc của ĐTĐTK. 
Kết quả của chúng tôi thấy tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm 
tuổi 30 - 34 là cao nhất (37,1%). So sánh sự 
khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm tuổi mang 
thai trên 30 tuổi và nhóm dưới 30 tuổi thấy có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,05, OR = 2,73, KTC 
95% = 1,31 – 5,68.
4.2.2 Mối liên quan giữa đái tháo đường thai 
kỳ và BMI
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn 
đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI) theo khuyến 
cáo của tổ chức Y tế thế giới đề nghị cho khu vực 
Châu Á- Thái Bình Dương tháng 2/2000. Trong 
đó BMI ≥ 23 được coi là thừa cân, béo phì [13].
Trong 35 thai phụ bị ĐTĐTK có 2 thai phụ có 
thừa cân và béo phì trước khi mang thai lần này 
chiếm tỷ lệ 5,7%. Kết quả này thấp hơn kết quả 
của tác giả Đỗ Trung Quân (28,6%) [2] nhưng 
các tác giả cũng thấy tỷ lệ mắc bệnh giữa hai 
nhóm thừa cân, béo phì và nhóm không thừa 
cân, béo phì có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với p < 0,05 [2]. Tác giả Magee cũng nhận thấy 
có sự khác biệt BMI giữa nhóm đái tháo đường 
thai kỳ với nhóm không đái tháo đường thai kỳ 
với p < 0,05 [11]. Thừa cân và béo phì được coi 
là yếu tố nguy cơ cao của đái tháo đường, bệnh 
lý mạch vành nói chung và đái tháo đường thai 
kỳ nói riêng, là yếu tố được các tác giả trong 
nước quan tâm nhiều mặc dù tỷ lệ béo phì ở Việt 
Nam không cao như các nước phát triển vì có sự 
liên quan chặt chẽ giữa béo phì, đái tháo đường 
thai kỳ và đái tháo đường typ 2. Điều này khẳng 
định thừa cân và béo phì trước khi có thai là một 
yếu tố nguy cơ của ĐTĐTK.
Tăng cân quá nhiều trong thai kỳ cũng là yếu 
tố nguy cơ đáng chú ý. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm thai phụ tăng 
> 10 kg trong khi mang thai có 6 thai phụ chiếm 
17,2 % cao hơn 3,1% ở nhóm không bị bệnh. So 
sánh tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm thai phụ tăng > 
10 kg trong khi mang thai với nhóm tăng ≤ 10 
kg trong khi mang thai thấy có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05, OR= 6,52 KTC 95% 
= 1,97 – 21,56.
4.2.3 Mối liên quan giữa đái tháo đường thai 
kỳ và tiền sử gia đình ĐTĐ, tăng huyết áp thế hệ 
thứ nhất
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy 
tỷ lệ ĐTĐTK ở những thai phụ có tiền sử gia đình 
TRẦN ĐÌNH VINH, TRẦN THỊ QUỲNH MAI, TRƯƠNG THỊ BÍCH PHƯỢNG
92
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
bị ĐTĐ là 42,9%, sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê giữa nhóm có tiền sử gia đình có người bị 
ĐTĐ thế hệ thứ nhất và không có tiền sử với p < 
0,05, OR = 0,14 KTC 95% = 0,06 – 0,33. Từ kết 
quả nghiên cứu cho thấy nếu sàng lọc ĐTĐTK ở 
những thai phụ có tiền sử gia đình ĐTĐ thế hệ 
thứ nhất thì cơ hội phát hiện bệnh cao hơn ở 
những thai phụ không có tiền sử. Vấn đề này đã 
được rất nhiều tác giả chú ý đến, cụ thể nghiên 
cứu của Magee cũng nhận thấy nhóm thai phụ 
ĐTĐTK tỷ lệ có tiền sử gia đình ĐTĐ cao hơn 
nhóm không bị với p < 0,05 [11]. Nhận định 
của tác giả Tô Thị Minh Nguyệt thấy có sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có tiền sử 
gia đình ĐTĐ và nhóm không có tiền sử với p < 
0,05 [5]. Tác giả Đoàn Hữu Hậu [4], Tô Thị Minh 
Nguyệt [5] cũng nhận định tương tự. Như vậy, 
tiền sử gia đình có người ĐTĐ thế hệ thứ nhất có 
thể coi là một yếu tố nguy cơ cao đối với các thai 
phụ khi mang thai. 
4.2.4 Mối liên quan giữa đái tháo đường thai 
kỳ và tiền sử sản khoa bất thường
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ 
lệ tiền sử sản khoa bất thường (sẩy thai,thai lưu 
) ở đối tượng nghiên cứu làm tăng tỷ lệ mắc đái 
tháo đường với p < 0,05, OR = 0,47 KTC 95% 
= 0,22 – 1.Trong đó sẩy thai, thai lưu là bệnh 
lý sản khoa do nhiều nguyên nhân trong đó đái 
tháo đường cũng góp phần vào. Đây cũng là yếu 
tố nguy cơ được các tác giả chú ý và được Hiệp 
hội ĐTĐ Hoa Kỳ đề cập đến. 
Kết quả của chúng tôi cao hơn so với các tác 
giả trong nước: Tô Thị Minh Nguyệt [5] (6,3%); 
Tạ Văn Bình (8,6%) [1]. Tuy nhiên các tác giả 
cũng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê ở nhóm thai phụ bị ĐTĐTK có tiền sử thai lưu 
với p < 0,05. Đối với các tiền sử sản khoa bất 
thường khác : tiền sử sinh non, tiền sử tiền sản 
giật, tiền sử thai dị tật hay tiền sử sinh mổ chúng 
tôi có nghiên cứu nhưng không thấy sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐTK.
Cân nặng trẻ lúc đẻ vừa là hậu quả của đái 
tháo đường thai kỳ vừa là yếu tố nguy cơ cho mẹ 
mang thai lần sau. Khái niệm thai to > 4000g là 
tiêu chuẩn của Châu Âu trước kia, ở Việt Nam có 
thể coi trẻ sơ sinh ≥ 3500g là thai to.Trong nghiên 
cứu của chúng tôi, tiền sử sinh con > 3500gr làm 
tăng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ, sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, OR 
= 0,14 KTC 95% = 0,06 – 0,33. Nghiên cứu của 
Tô Thị Minh Nguyệt và cộng sự cho thấy không 
có sự khác biệt giữa tiền sử sinh con ≥ 4000g và 
tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐTK [5]. Tuy nhiên, trong một 
nghiên cứu của mình cùng các cộng sự, tác giả 
Tạ Văn Bình [1] thấy tỷ lệ mắc ĐTĐTK ở những 
thai phụ đã từng sinh con trong những lần mang 
thai trước là 7,4% vì số người đã từng sinh con 
nặng trên 4000g chỉ chiếm 2,7% và tác giả cho 
rằng ngưỡng giá trị nguy cơ tiền sử đẻ con trên 
4000g là không phù hợp với người Việt Nam, 
tác giả lấy ngưỡng so sánh là tiền sử sinh con 
nặng 3500g để phân nhóm và so sánh thấy tỷ 
lệ mắc bệnh ở hai nhóm khác nhau có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,05 [1]. Vì vậy, để có thể đánh 
giá được một cách chính xác hơn sự liên quan 
giữa ĐTĐTK và tiền sử đẻ con với cân nặng bao 
nhiêu là to đối với người Việt Nam cần có những 
nghiên cứu sâu hơn với cỡ mẫu lớn hơn
5. Kết luận
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ của các thai phụ 
mang thai từ 24 – 28 tuần tại bệnh viện Phụ sản – 
Nhi Đà Nẵng là 15,2 %. Các yếu tố được ghi nhận 
có liên quan đến tỷ lệ mắc đái tháo đường thai 
kỳ: tuổi với p < 0,05, OR=2,73, KTC 95%=1,31-
5,68; thừa cân, béo phì với p < 0,05, OR=0,15, 
KTC 95%=0,106-0,198; tăng cân > 10 kg với p < 
0,05, OR= 6,52 KTC 95% = 1,97 – 21,56; tiền sử 
gia đình có người bị đái tháo đường với p < 0,05, 
OR = 0,14 KTC 95% = 0,06 - 0,33.; tiền sử sẩy 
thai, thai lưu với p < 0,05, OR = 0,47 KTC 95% = 
0,22 - 1 , đái tháo đường thai kỳ với p < 0,05, OR 
= 6,74 KTC 95% = 4,9 – 9,2 và tiền sử sinh con > 
3500 gram với p < 0,05, OR = 0,14 KTC 95% = 
0,06 – 0,33.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 88 - 93, 2017
93
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tài liệu tham khảo
1. Tạ Văn Bình, Nguyễn Đức Vy, Phạm Thị Lan (2004), “Tìm hiểu tỷ lệ 
đái tháo đường thai kỳ và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ quản lý 
thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Phụ sản Hà 
Nội”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC. 10. 15.
2. Nguyễn Thị Kim Chi, Trần Đức Thọ, Đỗ Trung Quân,(2000),“ Phát 
hiện tỉ lệ đái tháo đường thai nghén và tìm hiểu các yếu tố liên quan”, 
Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, chuyên ngành nội khoa, 
mã số 3.01.31
3. Dương Mộng Thu Hà, (2007), “Khảo sát tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ 
trên thai phụ 24 – 28 tuần tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương”, Luận văn 
tốt nghiệp Thạc sỹ y học chuyên ngành sản phụ khoa
4. Đoàn Hữu Hậu (1997), “Tầm soát đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh 
viện Nhân dân Gia Định”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, phụ 
bản chuyên đề nội tiết, Tập 5, số 4, Tr. 59 – 63
5. Tô Thị Minh Nguyệt, Ngô Thị Kim Phụng, (2008), “Tỷ lệ đái tháo 
đường trong thai kỳ và các yếu tố liên quan ở những thai phụ nguy cơ 
cao tại bệnh viện Từ Dũ”, Tạp chí tim mạch học.
6. Lê Thị Minh Phú, (2013), “Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu 
tố liên quan tại khoa sản bệnh viện Nguyễn Tri Phương”.
7. American Diabetes Association, (2004), Report of the Expert 
Committee on the diagnosis and classsification of diabetes mellitus, 
Diabetes Care, 27(suppl):5.
8. American Diabetes Association, (2014), “Standard of medical care in 
diabetes”, Diabetes Care, 37 suppl 1, s14-80
9. Coustan DR (1996), “Diabetes in pregnancy: screening and testing for 
gestational diabetes mellitus”, Obstetric and Gynecology Clinics, vol 23, 
N 1, March 1996
10. International Diabetes Federation, (2011), Gestational diabetes: An 
invisible and serious maternal health issue.
11. Magge MS, Walden CE., Benedetti Tj, Knopp RH. Influence of 
Diagnostic Criteria on the Incidence of Gestational Diabetes and Perinatal 
Morbidity. JAMA. February 3, 1993, Vol.269, No.5, 609-615
12. Sacks D.A., Hadden D.R., .Maresh M., Deerochanawong C., Dyer 
A.R., Metzger B.E., et al. (2012), “ Frequency of gestational diabetes 
mellitus at collaborating centers based on IADPSG consensus panel 
recommended criteria : the Hyperglycemia and Adverse Pregnancy 
Outcome ( HAPO) study”, Diabetes Care, 35(3), 526-528.
13. WHO (2000), Redefining Obesity and its treatment, 3: 24.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_hinh_dai_thao_duong_trong_thai_ky_tai_benh_vie.pdf