Khảo sát suất liều chiếu và ước tính độ suy giảm hoạt độ phóng xạ cho bệnh nhân ung thư điều trị diệt giáp bằng thuốc phóng xạ

Mục tiêu: Khảo sát sự suy giảm suất liều chiếu ngoài và hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh nhân

theo thời gian của bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau phẫu thuật điều trị liều cao bằng thuốc

phóng xạ 131I.

Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu trên 376 bệnh nhân được điều trị 131I với các hoạt độ phóng xạ:

3700MBq, 5550MBq, 7400MBq. Đo suất liều chiếu ngoài tại khoảng cách 01 mét trước bề mặt cơ thể người

bệnh, lấy giá trị suất liều cao nhất. Dữ liệu được phân tích bởi công cụ Excel và OriginPro 8.0.

pdf 6 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát suất liều chiếu và ước tính độ suy giảm hoạt độ phóng xạ cho bệnh nhân ung thư điều trị diệt giáp bằng thuốc phóng xạ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát suất liều chiếu và ước tính độ suy giảm hoạt độ phóng xạ cho bệnh nhân ung thư điều trị diệt giáp bằng thuốc phóng xạ

Khảo sát suất liều chiếu và ước tính độ suy giảm hoạt độ phóng xạ cho bệnh nhân ung thư điều trị diệt giáp bằng thuốc phóng xạ
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
135 
KHẢO SÁT SUẤT LIỀU CHIẾU VÀ ƯỚC TÍNH ĐỘ SUY GIẢM 
HOẠT ĐỘ PHÓNG XẠ CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ 
DIỆT GIÁP BẰNG THUỐC PHÓNG XẠ 131I 
TRẦN VĔN HOÀNG1, VÕ KHẮC NAM2, ĐỖ THANH LIÊM3, ĐẶNG HUY QUỐC THỊNH4 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát sự suy giảm suất liều chiếu ngoài và hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh nhân 
theo thời gian của bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau phẫu thuật điều trị liều cao bằng thuốc 
phóng xạ 131I. 
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu trên 376 bệnh nhân được điều trị 131I với các hoạt độ phóng xạ: 
3700MBq, 5550MBq, 7400MBq. Đo suất liều chiếu ngoài tại khoảng cách 01 mét trước bề mặt cơ thể người 
bệnh, lấy giá trị suất liều cao nhất. Dữ liệu được phân tích bởi công cụ Excel và OriginPro 8.0. 
Kết quả: 257 bệnh nhân nữ và 119 bệnh nhân nam, tỉ lệ 2,16 nữ/1 nam. Liều điều trị 3700MBq (47,9%), 
5550MBq (46,0%) và 7400MBq (6,1%). Hàm số suy giảm hoạt độ phóng xạ trong người bệnh nhân theo thời 
gian: 
Kết luận: Hệ số suy giảm hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh sau khi uống 131I là λ = - 0,08. 
Đo suất liều xuất viện cho bệnh nhân uống liều từ 3700 đến 5550MBq sau 01 ngày điều trị và 02 ngày điều trị 
đối với bệnh nhân uống liều từ 5550 đến 7400 MBq. 
Từ khóa: Suất liều chiếu ngoài, hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh nhân, ung thư tuyến giáp thể 
biệt hóa, điều trị bằng 131I. 
ABSTRACT 
Survey on external dose rate and evaluation of retained body activity of patients receiving 131i 
therapy for differentiated thyroid carcinoma 
Objective: To survey on attenuation of external dose rate and retained body activity as a function of time in 
differentiated thyroid carcinoma patients receiving 131I therapy. 
Objects and methods: This retrospective study is conducted in 376 patients who were receiving the 131I 
administrated dose of 3700, 5550 and 7400MBq. In addition to the external dose rate was measured in 
consecutive patients at 01 m, and archive the highest value of the external dose rate. For the data analysis, the 
Microsoft Excel 2010 and OriginPro 8.0 software were used. 
Results: 257 patients were females and 119 patients were males, the proportion of female/male is 2.16/1. 
For the activity, 47.9% patients were receiving the 131I administrated dose of 3700 MBq, 46.0% patients were 
receiving the 131I administrated dose of 5550MBq and the number of 7400 MBq were 6.1%. Additionally, 
the function of remainted body activity of time was shown: 
Conclusions: The attenuation coefficient of remainted body activity post administration was λ = -0.08. 
1
 KS. Khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
2
 ThS.BS. Trưởng Khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
3
 CNĐD. Điều dưỡng Trưởng Khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
4
 TS.BS. Phó Giám đốc - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
136 
Additionally, for releasing patients, the external dose rate was measured after 1 day for an activity range from 
3700 to 5550MBq and 2 days for an activity range more than 5550MBq to 7400 MBq. 
Keywords: External dose rate, remainted body activity, differentiated thyroid carcinoma, 131 Therapy. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ngày nay, chẩn đoán và điều trị bệnh bằng 
thuốc phóng xạ được ứng dụng khá phổ biến và 
đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Trong đó, phương 
pháp điều trị bằng 131I là một lựa chọn khá phổ biến 
cho bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp, đặc biệt đối 
với các trường hợp ung thư tuyến giáp nguy cơ cao 
phẫu thuật không thể lấy hết bướu, hạch hay có di 
cĕn xa; điều trị 131I giúp giảm tái phát, tiến triển và 
tĕng thời gian sống còn cho bệnh nhân[1]. Tùy thuộc 
vào lượng mô giáp còn lại sau phẫu thuật, bệnh 
nhân sẽ được chỉ định uống 131I với liều thích hợp. 
Bên cạnh những lợi ích đạt được, bệnh nhân được 
điều trị bằng phương pháp này cũng chịu tác hại do 
bức xạ ion hóa gây ra cho chính bản thân và những 
người xung quanh[2]. 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đo 
đạc suất liều chiếu trên bệnh nhân uống liều cao 
điều trị ung thư tuyến giáp biệt hóa sau phẫu thuật, 
sau đó đánh giá sự suy giảm suất liều chiếu ngoài 
theo thời gian. Thông qua công thức tìm được, có 
thể ước tính được thời gian tối thiểu bệnh nhân cần 
phải nội trú tại bệnh viện đối với từng liều điều trị 
khác nhau. Điều này không chỉ làm giảm áp lực cho 
các bệnh viện trong việc lưu trú bệnh nhân mà còn 
mang lại lợi ích tối ưu cho người bệnh nhưng vẫn 
đảm bảo An toàn Bức xạ theo quy định của Bộ Y 
tế[3]. 
Đối tượng nghiên cứu 
Tổng cộng có 376 bệnh nhân ung thư tuyến 
giáp biệt hóa được điều trị 131I sau mổ với các liều có 
các hoạt độ phóng xạ tương ứng lần lượt là 
3700MBq (100mCi), 5550MBq (150mCi), 7400MBq 
(200mCi) tại Khoa Y học hạt nhân – Bệnh viện Ung 
Bướu thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 
01/12/2018 đến 31/05/2019. 
Phương pháp nghiên cứu 
Mô tả cắt ngang. 
Cách thức thực hiện 
Dụng cụ đo đạc: Máy kiểm tra phóng xạ 
Radiation Alert - Inspector (Viện Khoa học và Kỹ 
thuật hạt nhân kiểm chuẩn có thời hạn đến hết tháng 
05/2019). 
Tiến hành đo suất liều chiếu ngoài ở phía trước 
cách tư thế đứng thẳng của người bệnh 01 mét và 
lấy giá trị cao nhất[4] tại các thời điểm 0 giờ (lúc bệnh 
nhân vừa uống 131I), 2 giờ, 6 giờ, 16 giờ, 22 giờ, 46 
giờ sau uống. 
Xử lý và phân tích số liệu: Số liệu được xử lý 
bằng phần mềm EXCEL 2010 và được phân tích bởi 
OriginPro phiên bản thứ 8. 
KẾT QUẢ 
Đối tượng nghiên cứu 
Bảng 1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm Số lượt điều trị Tỉ lệ (%) 
Nữ 257 68,4 
Nam 119 31,6 
Liều 3700 MBq (100 mCi) 180 47,9 
Liều 5550 MBq (150 mCi) 173 46,0 
Liều 7400 MBq (200 mCi) 23 6,1 
Tổng cộng 376 bệnh nhân được điều trị liều cao 
trong giai đoạn từ 01/12/2018 đến 31/05/2019; trong 
đó có 257 nữ (68,4%), 119 nam (31,6%); với các liều 
lượng có hoạt độ phóng xạ tương ứng 3700MBq 
(47,9%); 5550MBq (46,0%) và 7400MBq (6,1%). 
Kết quả 
Bảng 2. Giá trị suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) tại các khung giờ đo khác nhau 
của bệnh nhân uống liều 3700MBq 
Liều (MBq) Suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) (µSv/h) 
0 giờ 2 giờ 6 giờ 16 giờ 22 giờ 46 giờ 
3700 182 ± 9 145 ± 12 113 ± 16 47 ± 11 31 ± 14 13 ± 8 
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
137 
Biểu đồ 1. Suy giảm suất liều chiếu ngoài theo thời gian sau điều trị 131I. Bệnh nhân uống liều 3700MBq, 
đường cong hồi quy giá trị suất liều đo đạc tại các thời điểm: 0; 2; 6; 16; 22 và 46 giờ. Đường thẳng nằm ngang 
là giá trị suất liều giới hạn ra ngoại trú (50 (µSv/h)). 
Vào thời điểm vừa uống 131I liều 3700MBq, suất liều trung bình đo được có giá trị 182 (µSv/h); sau 2 giờ, 
suất liều giảm còn khoảng 80% và sau lần lượt 6, 16, 22 và 46 giờ suất liều giảm còn 62%, 26%, 17%, 7% so 
với lúc vừa uống. 
Bảng 3. Giá trị suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) tại các khung giờ đo khác nhau 
của bệnh nhân uống liều 5550MBq 
Liều (MBq) Suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) (µSv/h) 
0 giờ 2 giờ 6 giờ 16 giờ 22 giờ 46 giờ 
5550 261 ± 34 229 ± 21 149 ± 14 65 ± 8 52 ± 17 16 ± 17 
Biểu đồ 2. Suy giảm suất liều chiếu ngoài theo thời gian sau điều trị 131I. Bệnh nhân uống liều 5550 MBq, 
đường cong hồi quy giá trị suất liều đo đạc tại các thời điểm: 0; 2; 6; 16; 22 và 46 giờ. 
Đường thẳng nằm ngang là giá trị suất liều giới hạn ra ngoại trú (50(µSv/h)). 
Su
ất l
iều
 ch
iếu
 ng
oài
 (µ
Sv
/h)
Thời gian sau uống (h) 
 Liều 7400MBq 
 Đường cong hồi quy 
 Giới hạn ra ngoại trú 50 (µSv/h) 
Su
ất l
iều
 ch
iếu
 ng
oài
 (µ
Sv
/h)
Thời gian sau uống (h) 
 Liều 5550MBq 
 Đường cong hồi quy 
 Giới hạn ra ngoại trú 50 ((µSv/h) 
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
138 
Vào thời điểm vừa uống 131I liều 5550 MBq, suất liều trung bình đo được có giá trị 261 (µSv/h); sau 2 giờ, 
suất liều giảm còn khoảng 88% và sau lần lượt 6, 16, 22 và 46 giờ suất liều giảm còn 57%, 25%, 20%, 6% so 
với lúc vừa uống. 
Bảng 4. Giá trị suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) tại các khung giờ đo khác nhau 
của bệnh nhân uống liều 7400MBq 
Liều (MBq) Suất liều chiếu ngoài trung bình (có độ lệch chuẩn) (µSv/h) 
0 giờ 2 giờ 6 giờ 16 giờ 22 giờ 46 giờ 
7400 351 ± 12 299 ± 15 212 ± 9 90 ± 11 66 ± 16 28 ± 14 
Biểu đồ 3. Suy giảm suất liều chiếu ngoài theo thời gian sau điều trị 131I. Bệnh nhân uống liều 7400 MBq, 
đường cong hồi quy giá trị suất liều đo đạc tại các thời điểm: 0; 2; 6; 16; 22 và 46 giờ. 
Đường nằm ngang là giá trị giới hạn ra ngoại trú (50 (µSv/h). 
Vào thời điểm vừa uống 131I liều 7400 MBq, 
suất liều trung bình đo được có giá trị 351 (µSv/h); 
sau 2 giờ, suất liều giảm còn khoảng 85% và sau lần 
lượt 6, 16, 22 và 46 giờ suất liều giảm còn 60%, 
26%, 19%, 8% so với lúc vừa uống. 
Các biểu đồ trên cho thấy, suất liều chiếu ngoài 
đo đạc trên bệnh nhân suy giảm theo quy luật hàm 
số mũ. Từ kết quả đo được, có thể xây dựng đường 
cong hồi quy suy giảm hàm số mũ và biểu diễn dưới 
dạng công thức như sau: 
 (1) 
Trong đó: D(t): suất liều chiếu tại thời điểm đo 
(µSv/h). 
 D(0): suất liều chiếu ngay sau khi 
uống (µSv/h). 
 t: thời gian sau uống (h). 
e: hằng số (≈ 2,71828). 
Qua công thức (1), có thể tính toán được thời 
gian để suất liều chiếu ngoài dưới ngưỡng cho phép 
ra ngoại trú của bệnh nhân điều trị liều cao. 
Bảng 5. So sánh giữa khoảng thời gian tối thiểu 
nằm viện của bệnh nhân để suất liều giảm còn 
50 (µSv/h) theo công thức (1) và giá trị suất liều đo 
đạc thực tế tương ứng với các thời điểm đó. 
Liều 
(MBq) 
Khoảng thời gian cần 
lưu bệnh tính theo 
công thức (1) (giờ) 
Giá trị suất liều trung 
bình khi đo đạc thực 
tế (µSv/h) 
3700 16 47 
5550 21 52 
7400 24 65 
Bảng 5 cho thấy, vào thời điểm 16 giờ sau uống 
liều 3700MBq, công thức (1) cho giá trị 50 (µSv/h), 
Su
ất l
iều
 ch
iếu
 ng
oài
 (µ
Sv
/h)
Thời gian sau uống (h) 
 Liều 7400 MBq 
Đường cong hồi quy 
Giới hạn ra ngoại trú 50 (µSv/h) 
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
139 
khi đo đạc thực tế thì cho giá trị trung bình là 47 
(µSv/h). Vào thời điểm 21 giờ sau uống liều 
5550MBq, công thức (1) cho giá trị 50 (µSv/h), 
đo đạc thực tế cho giá trị trung bình là 52 (µSv/h). 
Với liều 7400 MBq, tính theo công thức (1) là sau 
24 giờ thì suất liều đạt 50 (µSv/h) và giá trị đo đạc 
trung bình thực tế là 65 (µSv/h). 
Ngoài ra, theo khuyến cáo của Cơ quan 
Nguyên tử Nĕng Quốc tế - IAEA, hoạt độ phóng xạ 
còn lại trong cơ thể người bệnh được đánh giá theo 
công thức: 
 (2) 
Trong đó: 
D1: suất liều chiếu ngay sau khi uống (µSv/h). 
D2: suất liều chiếu tại thời điểm đo (µSv/h). 
A1: hoạt độ phóng xạ bệnh nhân uống (MBq). 
A2: hoạt độ phóng xạ còn lại tại thời điểm đo 
(MBq). 
Thấy rằng, hoạt độ phóng xạ còn lại trong cơ 
thể người bệnh tỉ lệ thuận với suất liều chiếu ngoài. 
Do đó, có thể suy ra công thức mô tả suy giảm hoạt 
độ phóng xạ còn lại trong người bệnh nhân dựa vào 
công thức (1) như sau: 
 (3) 
Trong đó: 
A(t): Hoạt độ phóng xạ còn lại tại thời điểm 
đo sau uống (MBq). 
A(0): Hoạt độ phóng xạ bệnh nhân uống 
(MBq). 
t: Thời gian sau uống (h). 
e: Hằng số (≈ 2,71828). 
BÀN LUẬN 
Qua nghiên cứu thấy được, số bệnh nhân nữ 
điều trị ung thư tuyến giáp bằng 131I nhiều hơn hai 
lần so với số bệnh nhân nam (68,4% so với 31,6%). 
Liều điều trị 3700 và 5550MBq chiếm phần lớn liều 
lượng được chỉ định (47,9% và 46,0%), liều 
7400MBq chỉ chiếm 6,1%. 
Từ kết quả đo đạc, có thể thấy được sự suy 
giảm suất liều chiếu ngoài và hoạt độ phóng xạ trong 
cơ thể người bệnh suy giảm theo quy luật hàm số 
mũ qua thời gian được mô tả như công thức (1) và 
(3) với hệ số suy giảm λ = - 0,08. Theo tính toán, đối 
với bệnh nhân uống liều 3700MBq thì cần tối thiểu 
16 giờ cách ly tại bệnh viện để giá trị suất liều giảm 
còn 50 (µSv/h). Trên thực tế, tại thời điểm 16 giờ, 
suất liều đo được trên bệnh nhân có giá trị trung 
bình là 47 (µSv/h). Như vậy, sau 01 ngày (24 giờ) 
uống 131I liều 3700MBq, nên tiến hành đo đạc suất 
liều và đánh giá hoạt độ phóng xạ còn lại trong 
cơ thể người bệnh, nếu hoạt độ phóng xạ dưới 
ngưỡng 1100MBq (hay ≤ 50 (µSv/h)) nên tiến hành 
làm thủ tục cho bệnh nhân xuất viện. Đối với bệnh 
nhân uống liều 5550MBq, thời gian tính toán để 
giá trị suất liều ≤ 50 (µSv/h) là sau 21 giờ nội trú. 
Vào thời điểm 21 giờ sau uống, chúng tôi tiến hành 
đo đạc và thu được giá trị suất liều trung bình là 
52 (µSv/h) lớn hơn ngưỡng giới hạn mà Bộ Y tế quy 
định 2 (µSv/h). Do đó, khi đo đạc suất liều của bệnh 
nhân uống liều 5550MBq sau 24 giờ nội trú, sẽ có 
những bệnh nhân có giá trị suất liều ≤ 50 (µSv/h) 
và cũng sẽ có những bệnh nhân có giá trị suất liều 
lớn hơn ngưỡng 50 (µSv/h). Đối với bệnh nhân uống 
liều 7400MBq, thời gian tính toán để suất liều 
≤ 50 (µSv/h) là 24 giờ, nhưng trên thực tế, suất liều 
chúng tôi đo đạc trên người bệnh sau 24 giờ có giá 
trị trung bình là 65 (µSv/h), độ chênh lệch so với 
ngưỡng là 15 (µSv/h). Sự chênh lệch lớn này có thể 
do cỡ mẫu bệnh nhân điều trị liều 7400MBq không 
đủ lớn (chỉ có 23 lượt). Với những bệnh nhân cho 
giá trị suất liều thấp phụ thuộc vào các yếu tố như: 
mô giáp còn lại ít, bệnh nhân uống nhiều nước sau 
khi uống 131I, hay thận đào thải tốt. Những bệnh 
nhân cho giá trị suất liều cao là do mô giáp còn 
nhiều, TSH lớn nên mô giáp háo và bắt giữ I ốt lâu. 
Dựa vào kết quả tính toán thời gian cách ly tối 
thiểu của bệnh nhân điều trị 131I, chúng tôi có thể 
ứng dụng vào theo dõi đo suất liều chiếu ngoài trên 
bệnh nhân điều trị liều cao nội trú. Cụ thể, tiến hành 
đo suất liều sau 01 ngày điều trị đối với bệnh nhân 
uống liều 3700MBq và 5550MBq, sau 02 ngày điều 
trị đối với bệnh nhân uống liều 7400MBq; nếu kết 
quả đo đạc dưới ngưỡng cho phép của Bộ Y tế thì 
tiến hành làm thủ tục cho bệnh nhân xuất viện. 
Cách đo đạc suất liều như trên mang lại lợi ích 
đáng kể cho bệnh viện và người bệnh, nhưng vẫn 
còn tiềm ẩn rủi ro phơi nhiễm phóng xạ đối với dân 
chúng. Cụ thể: 
Lợi ích 
Bệnh nhân ra ngoại trú sớm sẽ giải quyết bớt 
tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế điều trị Ung thư 
tuyến giáp thể biệt hóa bằng 131I liều cao, nơi có 
nhiều người bệnh đang chờ để được điều trị. 
Giảm chi phí điều trị nội trú cho bệnh nhân. 
Bệnh nhân ra ngoại trú sẽ thỏa mái hơn về mặt 
tinh thần. 
ĐẦU VÀ CỔ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
140 
Nguy cơ 
Phải đo đạc nhiều lần nếu suất liều của bệnh 
nhân không dưới ngưỡng cho phép, dẫn đến phơi 
nhiễm phóng xạ cho nhân viên. 
Bệnh nhân suất viện sớm hơn thì lượng phóng 
xạ còn lại trong người cũng cao hơn dẫn đến nguy 
cơ phơi nhiễm cho mọi người tiếp xúc với bệnh nhân 
nhiều hơn. Từ đó, phải tư vấn cho người bệnh thật 
tốt trước khi chuyển bệnh nhân ra ngoại trú. 
KẾT LUẬN 
Qua đo đạc suất liều chiếu ngoài và đánh giá 
hệ số suy giảm hoạt độ phóng xạ còn lại trong người 
bệnh nhân uống 131I liều cao để điều trị ung thư 
tuyến giáp thể biệt hóa chúng tôi nhận thấy: 
- Hoạt độ phóng xạ còn lại trong người bệnh 
nhân sau khi uống 131I suy giảm theo quy luật hàm 
số mũ qua thời gian với hệ số suy giảm λ = - 0,08. 
- Tiến hành đo đạc suất liều sau 01 ngày đối với 
bệnh nhân uống liều từ 3700 đến 5550MBq và 02 
ngày đối với bệnh nhân uống liều lớn hơn 5550 đến 
7400MBq. 
- Tùy vào điều kiện khác nhau của các cơ sở 
điều trị, có thể cân nhắc thời điểm đo đạc cho bệnh 
nhân xuất viện theo đúng quy định của Bộ Y tế. 
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 
1. Zhang H, Jiao L, Cui S et al (2014). The study of 
external dose rate and retained body activity of 
patients receiving I - 31 therapy for differentiated 
thyroid carcinoma. International Journal of 
Environmental Research and Public Health, 
11(10), 10991 - 11003. 
2. Sisson JC, Freitas J, McDougall IR et al (2011). 
Radiation safety in the treatment of patients with 
thyroid disease by radioiodine I-131: Practice 
recommendations of the American thyroid 
association. Mary Ann Liebert, 21 (4), 335 - 46. 
3. Bộ Y Tế (2014). Hướng dẫn Chẩn đoán và Điều 
trị bệnh bằng Y học hạt nhân, Nhà xuất bản Y 
học, Hà Nội. 
4. IAEA (2009). Release of patients after 
radionuclide therapy with contributions from the 
ICRP - Safety report series no. 63, p. 48, IAEA, 
Vienna. 

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_suat_lieu_chieu_va_uoc_tinh_do_suy_giam_hoat_do_pho.pdf