Khảo sát nồng độ dioxin trong nhau thai và sữa mẹ ở một số địa phương từ 2007-2010

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Dioxin là tên thường gọi của các hợp chất polyclodibenzo-p-dioxin (PCDD) và

polyclodibenzofuran (PCDF). Chất độc nhất trong số các dioxin là 2,3,7,8-

tetraclodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD). Dioxin có thể di chuyển từ cơ thể người

mẹ sang bào thai và trẻ sơ sinh qua nhau thai và sữa mẹ. Những tác hại của dioxin

thường quan sát thấy ở trẻ em là các dị tật bẩm sinh, giảm trọng lượng trẻ sơ sinh,

rối loạn miễn dịch, rối loạn chức năng tuyến giáp, phát triển răng. Ở miền Nam Việt

Nam, nồng độ dioxin trong môi trường và sinh vật thường cao hơn miền Bắc do sự

tồn lưu của dioxin có trong các chất độc da cam (CĐDC) do Mỹ sử dụng trong chiến

tranh. Sự tích lũy của dioxin tăng dần trong chuỗi thức ăn có thể gây ra phơi nhiễm

mạn tính đối với con người. Bằng chứng của phơi nhiễm này có thể được phát hiện

bằng cách định lượng nồng độ chất độc trong các mô của cơ thể.

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát nồng độ dioxin trong nhau thai và sữa mẹ ở một số địa phương từ 2007-2010", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát nồng độ dioxin trong nhau thai và sữa mẹ ở một số địa phương từ 2007-2010

Khảo sát nồng độ dioxin trong nhau thai và sữa mẹ ở một số địa phương từ 2007-2010
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 94 
KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ DIOXIN TRONG NHAU THAI VÀ SỮA MẸ 
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TỪ 2007 - 2010 
NGÔ THANH NAM, PHẠM KHẮC LINH, NGUYỄN QUỐC ÂN, 
RUMAC V.S., POZNIAKOV S.P. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Dioxin là tên thường gọi của các hợp chất polyclodibenzo-p-dioxin (PCDD) và 
polyclodibenzofuran (PCDF). Chất độc nhất trong số các dioxin là 2,3,7,8-
tetraclodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD). Dioxin có thể di chuyển từ cơ thể người 
mẹ sang bào thai và trẻ sơ sinh qua nhau thai và sữa mẹ. Những tác hại của dioxin 
thường quan sát thấy ở trẻ em là các dị tật bẩm sinh, giảm trọng lượng trẻ sơ sinh, 
rối loạn miễn dịch, rối loạn chức năng tuyến giáp, phát triển răng. Ở miền Nam Việt 
Nam, nồng độ dioxin trong môi trường và sinh vật thường cao hơn miền Bắc do sự 
tồn lưu của dioxin có trong các chất độc da cam (CĐDC) do Mỹ sử dụng trong chiến 
tranh. Sự tích lũy của dioxin tăng dần trong chuỗi thức ăn có thể gây ra phơi nhiễm 
mạn tính đối với con người. Bằng chứng của phơi nhiễm này có thể được phát hiện 
bằng cách định lượng nồng độ chất độc trong các mô của cơ thể. 
Trong các năm 2007 - 2010, chúng tôi đã tiến hành xác định nồng độ 17 đồng 
loại độc của các PCDD/PCDF trong nhau thai và sữa mẹ tại một số địa phương 
nhằm cung cấp thêm các số liệu khách quan về mức độ phơi nhiễm dioxin hiện nay 
tại các địa phương nói trên. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu là 20 mẫu nhau thai và 27 mẫu sữa mẹ được lấy từ các 
phụ nữ sau khi sinh con từ tháng thứ nhất đến tháng thứ ba. Đối tượng đươc lấy mẫu 
là người địa phương chưa từng sống ở nơi khác từ 1 năm trở lên. 
Địa điểm lấy mẫu là 4 xã ở các vùng chịu ảnh hưởng CĐDC/dioxin bao gồm 
tỉnh Bình Dương, Quảng Trị, Khánh Hòa và một xã ở một tỉnh không bị rải chất độc 
này là Quảng Bình. Địa điểm và số lượng mẫu được đưa ra ở bảng 1. 
Bảng 1. Địa điểm và số lượng mẫu nghiên cứu 
Số lượng mẫu 
T. Bình Dương Loại mẫu 
Xã B Xã C 
T. Quảng Trị 
Xã G 
T. Khánh Hòa 
Xã V 
T. Quảng Bình 
Xã S 
Nhau thai 4 6 3 3 4 
Sữa mẹ 5 7 3 6 6 
Trong số các địa phương nghiên cứu có các xã B và xã G thuộc vùng bị phun 
rải trực tiếp chất da cam trong chiến tranh. Các xã C và và V không bị rải trực tiếp 
nhưng có thể bị ảnh hưởng gián tiếp do sự lan tỏa của dioxin trong môi trường. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 95 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Các mẫu sau khi lấy được giữ ở 0oC trong quá trình vận chuyển và ở -84oC khi 
lưu mẫu. Nồng độ của 17 đồng loại độc của dioxin được xác định trên máy sắc ký 
khí/khối phổ phân giải cao Thermo Finigan MAT 95XP (HR-GC/MS) tại Phòng thí 
nghiệm Phân tích độc học sinh thái, thuộc Viện Các vấn đề Sinh thái và Tiến hóa 
A.H. Severtsov, Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Độ độc tương đương của các dioxin 
được tính theo WHO2005-TEQ. 
Các mẫu phân tích có nồng độ dioxin dưới mức giới hạn định lượng cho phép của 
thiết bị phân tích (LOQ) được tính bằng ½ giá trị giới hạn của chính mẫu đó (LOQ/2). 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 
Tuổi của các người mẹ cho nhau thai và sữa mẹ được trình bày ở bảng 2. 
Bảng 2. Tuổi của các người mẹ được lấy mẫu 
Nhau thai Sữa mẹ 
Nơi lấy mẫu 
Tuổi ( X ± SD) Min - max Tuổi ( X ± SD) Min - max 
Các xã thuộc vùng 
bị rải CĐDC/dioxin: 25,86 ± 4,19 20 - 34 24,90 ± 4,48 19 - 34 
Xã S, Quảng Bình 24,50 ± 3,70 21 - 29 25,50 ± 1,98 22 - 27 
Như vậy tuổi đời trung bình của các đối tượng lấy mẫu nằm trong khoảng từ 24-26, 
thấp nhất là 19 tuổi và cao nhất là 34 tuổi. Đây là những người sinh ra sau chiến tranh 
chống Mỹ, do đó chỉ bị phơi nhiễm với CĐDC/dioxin chủ yếu qua đường tiêu hóa. 
Bảng 3. Nồng độ PCDD/PCDF trong nhau thai ở 4 xã thuộc vùng bị rải 
CĐDC/dioxin (n= 16, WHO2005-TEQ) 
Nồng độ (pg/g lipid) Tên đồng loại độc 
X SD Trung vị Thấp nhất Cao nhất 
2,3,7,8-TCDD 5,17 4,92 3,33 0.01 17,19 
1,2,3,7,8-PeCDD 14,25 8,75 12,65 6,13 41,25 
1,2,3,4,7,8-HxCDD 0,73 0,46 0,64 0,29 1,93 
1,2,3,6,7,8-HxCDD 0,77 0,64 0,50 0,27 2,32 
1,2,3,7,8,9-HxCDD 0,35 0,39 0,23 0,08 1,48 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD 0,25 0,18 0,18 0,06 0,74 
OCDD 0,06 0,06 0,04 0,01 0,21 
2,3,7,8-TCDF 0,10 0,10 0,08 0,01 0,44 
1,2,3,7,8-PeCDF 0,05 0,04 0,05 NS 0,17 
2,3,4,7,8-PeCDF 7,13 5,80 5,01 3,04 25,14 
1,2,3,4,7,8-HxCDF 4,32 4,21 2,52 1,35 17,07 
1,2,3,6,7,8-HxCDF 1,39 1,45 0,91 0,40 6,34 
1,2,3,7,8,9-HxCDF 0,08 0,12 0,48 0,02 0,48 
2,3,4,6,7,8-HxCDF 0,17 0,24 0,11 0,06 1,02 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF 0,25 0,47 1,10 0,03 1,90 
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF 0,06 0,09 0,04 NS 0,37 
OCDF NS NS NS NS 0,17 
Tổng TEQPCDD/PCDF 35,14 21,76 28,33 14,42 106,82 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 96 
Ghi chú: NS: Không có ý nghĩa, các giá trị tính theo TEQ xấp xỉ 0 
Kết quả trong bảng 3 cho thấy trung vị và trung bình nồng độ 2,3,7,8-TCDD 
dưới 10 pg/g lipid. Mẫu nhau thai có nồng độ 2,3,7,8-TCDD cao nhất là 17,19 pg/g 
lipid. Nồng độ 1,2,3,7,8-PeCDD và 2,3,4,7,8-PeCDF cao hơn 2,3,7,8-TCDD. 
Kết quả các nghiên cứu trên thế giới cho thấy những người bị phơi nhiễm 
2,3,7,8-TCDD ở mức phông (back ground) thường có nồng độ dưới 10 pg/g lipid 
[2]. Số liệu trong bảng 3 cho thấy có phụ nữ đã chịu phơi nhiễm khá cao với chất 
độc này, dẫn đến nồng độ trong nhau thai tới 17,19 pg/g lipid. 
Bảng 4. Nồng độ các PCDD/PCDF trong nhau thai tại xã S tỉnh Quảng Bình 
(WHO2005-TEQ) 
Nồng độ (pg/g lipid) Tên đồng loại độc 
Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 
2,3,7,8-TCDD 0,25 0,57 0,40 0,30 
1,2,3,7,8-PeCDD 5,37 15,8 15,04 1,20 
1,2,3,4,7,8-HxCDD 0,86 0,55 1,36 0,44 
1,2,3,6,7,8-HxCDD 0,41 1,56 0,81 0,23 
1,2,3,7,8,9-HxCDD 0,05 0,49 0,13 0,07 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD 0,23 0,15 0,32 0,14 
OCDD 0,04 0,04 0,10 0,02 
2,3,7,8-TCDF 0,08 0,03 0,24 0,13 
1,2,3,7,8-PeCDF 0,01 0,05 0,08 0,03 
2,3,4,7,8-PeCDF 5,52 13,70 6,22 3,48 
1,2,3,4,7,8-HxCDF 5,37 5,15 8,10 4,34 
1,2,3,6,7,8-HxCDF 1,15 0,98 2,55 2,14 
1,2,3,7,8,9-HxCDF 0,04 0,03 0,10 0,26 
2,3,4,6,7,8-HxCDF 0,03 0,29 0,08 0,22 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF 0,15 0,05 0,14 0,09 
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF 0,01 NS 0,02 0,01 
OCDF NS NS NS NS 
Tổng TEQPCDD/PCDF 19,55 39,40 35,68 13,09 
Ghi chú: NS: Không có ý nghĩa, các giá trị tính theo TEQ xấp xỉ 0. 
Kết quả trong bảng 4 cho thấy cả 4 mẫu có nồng độ 2,3,7,8-TCDD đều dưới 1 
pg/g lipid. Nồng độ 1,2,3,7,8-PeCDD; 2,3,4,7,8-PeCDF, 1,2,3,4,7,8-HxCDF trong 
các mẫu đều cao trên 1pg/g lipid. 
Các số liệu thống kê trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ 2,3,7,8-
TCDD trong các mẫu nhau thai ở vùng bị rải CĐDC/dioxin trong chiến tranh có các giá 
trị trung bình, trung vị và cao nhất tương ứng là 5,17; 3,33 và 17,19 pg/g lipid (bảng 3). 
Bốn mẫu lấy tại xã S, tỉnh Quảng Bình đều có giá trị dưới 1 pg/g lipid (bảng 4). 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 97 
Trong số 17 đồng loại độc thì 1,2,3,7,8-PeCDD có độ độc tương đương với 
2,3,7,8-TCDD. Các số liệu thống kê cho thấy ở cả hai khu vực loại chất độc này đều 
cao hơn 2,3,7,8-TCDD. Điều này có lẽ phản ánh các dioxin có các nguồn gốc khác 
nhau đã gia tăng vai trò đáng kể so với các dioxin chiến tranh ở nước ta hiện nay. 
Về tổng độ độc TEQ: Các mẫu nhau thai ở khu vực bị rải CĐDC/dioxin có giá 
trị trung bình là 35,14 và trung vị là 28,33 pg/g lipid (dao động từ 14,42-106,82 pg/g 
lipid). Các mẫu lấy ở Quảng Bình có giá trị từ 13,09 - 39,40 pg/g lipid. 
Leino et al (2011) báo cáo kết quả phân tích 130 mẫu nhau thai ở Phần Lan 
cho thấy: Trung vị và phân vị thứ 95 của nồng độ 2,3,7,8-TCDD là 1,22 pg/g lipid 
và 3,16 pg/g lipid; TEQ PCDD/PCDF tương ứng là 16,9 pg/g lipid và 44,2 pg/g lipid [4]. 
Như vậy, cả 2,3,7,8-TCDD và các tổng TEQ trong các mẫu nhau thai lấy ở các xã 
nằm trong vùng bị rải CĐDC/dioxin đều cao hơn các mẫu lấy ở Phần Lan trong 
cùng thời gian. 
Bảng 5. Nồng độ PCDD/PCDF trong sữa mẹ tại 4 xã thuộc vùng bị rải 
CĐDC/dioxin (n=21, WHO2005-TEQ) 
Nồng độ (pg/g lipid) 
Tên đồng loại độc 
X SD Trung vị Thấp nhất Cao nhất 
2,3,7,8-TCDD 2,37 1,94 1,65 0,66 8,13 
1,2,3,7,8-PeCDD 4,36 2,90 3,25 1,57 13,21 
1,2,3,4,7,8-HxCDD 0,25 0,21 0,20 0,26 1,05 
1,2,3,6,7,8-HxCDD 1,04 0,85 0,71 0,29 4,03 
1,2,3,7,8,9-HxCDD 0,35 0,29 0,25 0,11 1,29 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD 0,14 0,08 0,11 0,05 0,38 
OCDD 0,03 0,02 0,02 0,01 0,09 
2,3,7,8-TCDF 0,06 0,03 0,05 0,01 0,17 
1,2,3,7,8-PeCDF 0,03 0,01 0,03 0,01 0,05 
2,3,4,7,8-PeCDF 2,34 1,76 2,34 0,59 8,99 
1,2,3,4,7,8-HxCDF 1,30 1,01 1,03 0,29 5,04 
1,2,3,6,7,8-HxCDF 0,92 0,70 0,67 0,21 3,44 
1,2,3,7,8,9-HxCDF 0,06 0,04 0,05 0,01 0,21 
2,3,4,6,7,8-HxCDF 0,15 0,13 0,12 0,02 0,64 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF 0,12 0,10 0,12 0,03 0,50 
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF 0,02 0,02 0,02 NS 0,10 
OCDF NS NS NS NS NS 
Tổng TEQPCDD/PCDF 13,54 8,38 10,81 5,47 42,44 
 Ghi chú: NS: Không có ý nghĩa, các giá trị tính theo TEQ xấp xỉ 0. 
Kết quả trong bảng 5 cho thấy nồng độ 2,3,7,8-TCDD của các đối tượng dưới 10 
pg/g lipid. Nồng độ 1,2,3,7,8-PeCDD có các giá trị thống kê cao nhất trong các dioxin. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 98 
Bảng 6. Nồng độ PCDD/PCDF trong sữa mẹ tại xã S thuộc tỉnh Quảng Bình 
(WHO2005-TEQ) 
Nồng độ (pg/g lipid) Tên đồng Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Mẫu 5 Mẫu 6 
2,3,7,8-TCDD 0.09 0,54 0,08 0,10 0,05 0,64 
1,2,3,7,8-PeCDD 1,56 2,74 1,47 1,44 0,60 1,74 
1,2,3,4,7,8-HxCDD 0,15 0,22 0,18 0,12 0,14 0,21 
1,2,3,6,7,8-HxCDD 0,28 0,93 0,40 0,56 0,56 0,45 
1,2,3,7,8,9-HxCDD 0,15 0,39 0,16 0,18 0,09 0,23 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD 0,04 0,06 0,07 0,09 0,05 0,04 
OCDD 0,01 0,01 0,01 0,01 0,01 0,01 
2,3,7,8-TCDF 0,01 NS 0,04 0,05 NS 0,13 
1,2,3,7,8-PeCDF NS 0,02 0,01 0,01 0,02 0,02 
2,3,4,7,8-PeCDF 1,41 2,81 1,42 0,90 1,40 1,40 
1,2,3,4,7,8-HxCDF 0,76 2,52 1,61 1,17 0,90 1,26 
1,2,3,6,7,8-HxCDF 0,43 1,26 0,59 0,57 0,49 0,74 
1,2,3,7,8,9-HxCDF 0,09 0,09 0,06 0,06 0,03 0,10 
2,3,4,6,7,8-HxCDF 0,13 0,12 0,07 0,12 0,11 0,11 
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF 0,05 0,10 0,09 0,10 0,04 0,07 
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF NS 0,01 0,02 0,01 0,01 0,01 
OCDF NS NS NS NS NS NS 
Tổng TEQPCDD/PCDF 5,15 11,81 6,29 5,49 4,21 7,14 
Ghi chú: NS: Không có ý nghĩa, các giá trị tính theo TEQ xấp xỉ 0. 
Kết quả trong bảng 6 cho thấy các mẫu sữa mẹ lấy ở Quảng Bình có nồng độ 
2,3,7,8-TCDD dưới 1pg/g lipid. Nồng độ 1,2,3,7,8-PeCDD và 2,3,4,7,8-PeCDF cao 
hơn 2,3,7,8-TCDD ở tất cả các mẫu. 
Như vậy tương tự như đối với các mẫu nhau thai, so với các xã thuộc vùng bị 
rải CĐDC/dioxin (bảng 5) thì 6 mẫu sữa mẹ ở Quảng Bình có nồng độ 2,3,7,8-
TCDD thấp hơn nhiều, khi không có mẫu nào tới 1 pg/g lipid. 
Nồng độ 2,3,7,8-TCDD trong 97 mẫu sữa mẹ ở Sapporo (Nhật Bản) trung bình 
và trung vị đều là 0,5 pg/g lipid, cao nhất là 1,5 pg/g lipid (Takashi Tokada et al, 
2011) [7]; 157 mẫu sữa mẹ ở Australia có nồng độ TEQ PCDD/PCDF từ 6,0 - 15,2 pg/g 
lipid (Harden et al, 2011) [5]. Như vậy, nồng độ dioxin trong sữa mẹ của cư dân xã 
S thuộc tỉnh Quảng Bình là tương đương, còn ở các xã nằm trong vùng bị rải 
CĐDC/dioxin là cao hơn các số liệu của các tác giả Takashi và Harden. 
Vào những năm 70 đã phát hiện thấy những mẫu sữa mẹ ở miền Nam có nồng 
độ 2,3,7,8-TCDD tới 1450 pg/g lipid, năm 1985 nồng độ này vào khoảng 10-13 pg/g 
lipid [1], [6]. Với những kết quả nghiên cứu trên, chúng ta nhận thấy nồng độ 
2,3,7,8-TCDD trong sữa mẹ ở các vùng bị rải CĐDC/dioxin đã giảm dần sau chiến 
tranh, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao hơn so với một xã của Quảng Bình và một số 
nước phát triển. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 99 
IV. KẾT LUẬN 
Qua phân tích nồng độ 17 đồng loại độc của PCDD/PCDF của 20 mẫu nhau 
thai và 27 mẫu sữa mẹ chúng tôi nhận thấy kết quả như sau: 
- Nồng độ 2,3,7,8-TCDD và tổng TEQPCDD/PCDF trong các mẫu nhau thai và sữa 
mẹ ở các địa phương thuộc vùng bị rải CĐDC/dioxin trong chiến tranh đều cao hơn 
các mẫu lấy tại vùng không bị rải lấy tại xã S, tỉnh Quảng Bình. 
- Một số đồng loại độc của dioxin, điển hình là 1,2,3,7,8-PeCDD có nồng độ 
cao hơn 2,3,7,8-TCDD ở tât cá các mẫu nhau thai và sữa mẹ được nghiên cứu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hoàng Trọng Quỳnh và ĐTG., Hiện trạng 2,3,7,8-TCDD của chất da cam trong 
thiên nhiên và con người Việt Nam, Báo cáo toàn văn các công trình khoa học tại 
Hội nghị khoa học Việt - Mỹ về dioxin, Hà Nội 2002, tr. 279-284. 
2. Institute of Medicine, Veterants and Agent Orange, updated 2010 
3. Martin van den Berg et al, The 2005 World Health Organization Re-evaluation 
of Human and Mammalian, Toxic Equivalency Factors for Dioxins and Dioxin-
like Compounds, WHO, 2006. 
4. O. Leino, H. Kiviranta, A.K. Karjalainen, C. Kronberg-Kippilä, H. Sinkko, Erik 
H. Larsen, S. Virtanen, J.T. Tuomisto, Pollutant concentrations in placenta, Food 
and Chemical Toxicology, In Press, Corrected Proof, Available online 28.10.2011. 
5. F.A. Harden et al, Evaluation of dioxin - like chemicals in pooled human milk 
samples collected in Australia, Chemosphere, V. 67, Issue 9, 2007, P. 325-S333. 
6. A. Schecter, J.J. Ryan and John D. Constable, Polychlorinated dibenzo-p-dioxin 
and polychlorinated dibenzofuran levels in human breast milk from vietnam 
compared with cow's milk and human breast milk from the north american 
continent, Chemosphere, Vol.16, Nos.8/9, pp 2003-2016, 1987. 
7. Takashi Tokada et el, Polychlorinated dibenzo-p-dioxin and polychlorinated 
dibenzofuran and polychlorineted biphenyl in blood and breast milk collected from 
pregnant women in Sapporo city, Japan, Chemosphere, Vol. 85, 2011, pp 1694-70. 
SUMMARY 
SURVEY OF DIOXIN LEVELS IN HURMAN PLACENTA AND MILK IN 
SEVERAL REGIONS OVER YEARS OF 2007 - 2010 
17 congeners of PCDD/PCDF of 20 placenta and 27 breast milk samples were 
measured during 2007 - 2010. Highest level of 2,3,7,8-TCDD in 16 placenta and 21 
breast milk samples that had been collected from the regions sprayed with agent 
orange is 17.19 pg/g lipid. In 4 placenta and 6 breast milk samples collected from 
Quang Binh province the levels of 2,3,7,8-TCDD are below 1 pg/g lipid. The levels 
of 1,2,3,7,8-PeCDD are higher than that of 2,3,7,8-TCDD in all the samples. 
Từ khóa: PCDD, PCDF, placenta, milk 
Nhận bài ngày 04 tháng 10 năm 2012 
Hoàn thiện ngày 10 tháng 11 năm 2012 
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_nong_do_dioxin_trong_nhau_thai_va_sua_me_o_mot_so_d.pdf