Khảo sát mức độ phù gai thị trên OCT ở bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ

Mục tiêu: Khảo sát vai trò của OCT trong chẩn đoán và phân độ phù gai thị trên bệnh nhân có khối choán

chỗ nội sọ.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang, khảo sát trên 30 bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ từ 6/2018 – 4/2019.

Bệnh nhân được phân độ phù gai theo MFS trên hình đáy mắt và khảo sát độ dày RNFL trên OCT. Xác định mối tương quan bằng phép kiểm Spearman.

Kết quả: Tỉ lệ nữ:nam là 1,72:1. Độ tuổi trung bình 60,3 ± 15,5 tuổi. BCVA trung bình 0,14 ± 0,19 (70% từ 8/10 trở lên). Thể tích khối u trung bình 29,71±33,60 cm3. Vị trí thường gặp là thuỳ trán, thuỳ thái dương. U lành thường gặp là u tế bào thần kinh đệm (63,4%), u ác thường gặp u di căn (10%) (3/4 ca. Độ nhạy và độ đặc hiệu của OCT trong chẩn đoán phù gai lần lượt 94,4%và 90,0%. RNFL và MFS tương quan thuận chặt (R=0,952). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kết quả OCT với thể tích, vị trí và bản chất u.

Kết luận: OCT là một công cụ cận lâm sàng hiệu quả trong chẩn đoán phù gai ở bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát mức độ phù gai thị trên OCT ở bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát mức độ phù gai thị trên OCT ở bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ

Khảo sát mức độ phù gai thị trên OCT ở bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 252 
KHẢO SÁT MỨC ĐỘ PHÙ GAI THỊ TRÊN OCT 
Ở BỆNH NHÂN CÓ KHỐI CHOÁN CHỖ NỘI SỌ 
Trương Nguyễn Bảo Châu1,2, Lê Minh Tuấn1, Ngô Văn Hồng2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Khảo sát vai trò của OCT trong chẩn đoán và phân độ phù gai thị trên bệnh nhân có khối choán 
chỗ nội sọ. 
Phương pháp: Mô tả cắt ngang, khảo sát trên 30 bệnh nhân có khối choán chỗ nội sọ từ 6/2018 – 4/2019. 
Bệnh nhân được phân độ phù gai theo MFS trên hình đáy mắt và khảo sát độ dày RNFL trên OCT. Xác định mối 
tương quan bằng phép kiểm Spearman. 
Kết quả: Tỉ lệ nữ:nam là 1,72:1. Độ tuổi trung bình 60,3 ± 15,5 tuổi. BCVA trung bình 0,14 ± 0,19 (70% 
từ 8/10 trở lên). Thể tích khối u trung bình 29,71±33,60 cm3. Vị trí thường gặp là thuỳ trán, thuỳ thái dương. U 
lành thường gặp là u tế bào thần kinh đệm (63,4%), u ác thường gặp u di căn (10%) (3/4 ca. Độ nhạy và độ đặc 
hiệu của OCT trong chẩn đoán phù gai lần lượt 94,4%và 90,0%. RNFL và MFS tương quan thuận chặt 
(R=0,952). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kết quả OCT với thể tích, vị trí và bản chất u. 
Kết luận: OCT là một công cụ cận lâm sàng hiệu quả trong chẩn đoán phù gai ở bệnh nhân có khối choán 
chỗ nội sọ. 
Từ khoá: phù gai, khối choán chỗ nội sọ 
ABSTRACT 
DIAGNOSIS OF PAPILLEDEMA IN PATIENTS WITH INTRACRANIAL SPACE-OCCUPYING 
LESION USING OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY 
Truong Nguyen Bao Chau, Le Minh Tuan, Ngo Van Hong 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 252 - 257 
Objective: To determine the ability of OCT in quantitating papilledema in patients with intracranial space-
occupying lesion. 
Methods: A cross-sectional, observational study was done from June 2018 – April 2019. Thirty patients 
with intracranial space-occupying lesion were obtained imaging diagnosis by OCT and color optic disc 
photograph. Based on the results of imaging diagnosis, papilledema level were graded according to MFS. 
Correlation of RNFL thickness and MFS grade was determined by Spearman test. 
Results: Female:male ratio was 1.72:1. The mean age was 60.3 ± 15.5 years. The mean BCVA was 0.14 ± 
0.19 (70.0% at 8/10 and above). The mean volume of tumors was 29.71 ± 33.60 cm3. Tumor location was mostly 
at frontal and temporal lobe. The most common benign tumor was astrocytoma (63.4%), metastatic lesion seen in 
10.0% cases. Sensitivity and specificity of OCT in diagnosis papilledema were 94.4% and 90% respectively. OCT 
RNFL thickness and MFS grade correlated well (R = 0.952). There were no significant differences between RNFL 
thickness and volume, location and histology of the tumors. 
Conclusion: OCT is an effective method of diagnosis papilledema in patient with intracranial space-
occupying lesion. 
Key words: papilledema, intracranial space-occupying lesion 
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 2Khoa Mắt, Bệnh viện Chợ Rẫy 
Tác giả liên lạc: BS. Trương Nguyễn Bảo Châu ĐT: 0948784764 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 253 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phù gai thị là một trong những triệu chứng 
quan trọng trong các bệnh lý ảnh hưởng tới thị 
lực và những bệnh lý nghiêm trọng liên quan tới 
tính mạng của bệnh nhân. Hai nguyên nhân 
hàng đầu của phù gai thị là tăng áp lực nội sọ vô 
căn (62,5%) và khối u nội sọ (21,9%)(1). Trên thực 
tế lâm sàng, việc chẩn đoán và phân độ phù gai 
thường dựa theo thang điểm Frisen. Tuy nhiên, 
việc nhận định các dấu hiệu theo thang điểm 
Frisen lại phụ thuộc vào kinh nghiệm của các 
bác sĩ nhãn khoa Lâm sàng, mang tính chất hết 
sức chủ quan. 
Từ năm 1991, OCT là một công cụ cận lâm 
sàng cho hình ảnh mô học cắt lớp có độ phân 
giải cao để khảo sát các cấu trúc khác nhau của 
nhãn cầu. Đây là một phương pháp mang tính 
chất định lượng với độ tin cậy cao, có tính khách 
quan cũng như cung cấp công cụ lưu trữ và so 
sánh, theo dõi tiến triển phù gai một cách chính 
xác hơn. Hiện nay ở Việt Nam chưa có một 
nghiên cứu nào tổng kết hay đánh giá vai trò 
của OCT trong chẩn đoán phù gai và so sánh 
với lâm sàng. Do vậy, chúng tôi quyết định 
tiến hành nghiên cứu này với 3 mục tiêu 
chuyên biệt sau: 
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh 
nhân có khối choán chỗ nội sọ. 
2. Xác định mối tương quan về đặc điểm phù 
gai trên OCT với hình ảnh phù gai trên lâm sàng 
bằng MFS và giá trị của OCT trong chẩn đoán 
phù gai thị. 
3. Khảo sát sự tương quan giữa các đặc điểm 
của khối choán chỗ nội sọ với biểu hiện phù gai 
trên OCT. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các bệnh nhân đã được chẩn đoán có khối 
choán chỗ nội sọ trên phim MRI đang điều trị 
nội trú tại khoa Ngoại Thần kinh đến phòng 
khám Mắt bệnh viện Chợ Rẫy từ 01.06.2018 – 
30.04.2019. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Bệnh nhân có đã có chỉ định can thiệp phẫu 
thuật cắt bỏ khối u một phần hoặc hoàn toàn, có 
hoặc không có kèm theo hoá trị, xạ trị, chỉ định 
phẫu thuật đủ 18 tuổi trở lên, được ghi nhận đầy 
đủ các biến số nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Những bệnh nhân đang có đang có tình 
trạng viêm nhiễm tại mắt, tiền căn chấn thương, 
có các bệnh lý về mắt có thể ảnh hưởng kết quả 
thăm khám và cận lâm sàng được loại ra khỏi 
nghiên cứu này. Nguy cơ tăng nhãn áp cấp khi 
nhỏ giãn đồng tử là tiền phòng nông, sẽ được 
phát hiện khi khám mắt lâm sàng. Nguy cơ tăng 
nhãn áp cấp 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích, 
với quy trình cụ thể cho từng bệnh nhân. 
Phương pháp thực hiện 
Những bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu 
sẽ được thực hiện cận lâm sàng bao gồm hình 
chụp màu đáy mắt và OCT khảo sát gai thị. 
Chúng tôi ghi nhận thông số trên 1 mắt ở mỗi 
bệnh nhân để tránh gây nhiễu khi thực hiện các 
phương pháp so sánh thống kê vì biểu hiện ở hai 
mắt trên cùng một bệnh nhân không độc lập với 
nhau. Việc lựa chọn mắt nghiên cứu theo kết quả 
OCT có vùng khảo sát nằm ngay trung tâm hơn, 
nếu hai bên như nhau lựa chọn mắt có chất 
lượng hình ảnh cao hơn. Nếu vẫn tương đương 
thì lựa chọn mắt phải làm mắt nghiên cứu. 
Biến số nghiên cứu 
Các biến số chính được ghi nhận trong 
nghiên cứu của chúng tôi bao gồm phân độ phù 
gai thị trên lâm sàng, được đánh giá dựa vào 
hình chụp màu đáy mắt, và độ dày lớp sợi thần 
kinh trên hình ảnh OCT gai thị. Phân độ phù gai 
được ghi nhận trên hình màu đáy mắt theo 
thang Frisen hiệu chỉnh MFS. Mỗi phân độ trên 
thang MFS đều có một triệu chứng chủ đạo, đại 
diện cho phân độ đó. Phân độ 0 là không có tình 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 254 
trạng phù gai, phân độ 1 đến 5 là tình trạng tăng 
dần độ trầm trọng của phù gai. Trong đó 2 phân 
độ đầu tiên dựa vào sự thay đổi của bờ gai và 
võng mạc quanh gai. Các phân độ còn lại dựa 
vào biến đổi mạch máu trung tâm võng mạc(2). 
Độ dày lớp sợi thần kinh quanh gai được ghi 
nhận qua quy trình chụp OCT gai thị với 256 lát 
cắt A quanh gai theo hình tròn đường kính 3,46 
mm tính từ trung tâm gai. Các giá trị thu được là 
độ dày lớp sợi thần kinh trung bình và theo từng 
góc tư trên, dưới, mũi, thái dương. Nếu có từ 2 
góc tư trở lên có chỉ số vượt qua ngưỡng xanh lá 
cây, tức là cao hơn mức bách phân vị 95% quy 
định sẵn trên kết quả OCT thu được thì được 
xếp vào nhóm có tăng độ dày RNFL trên OCT. 
Hình 1: Hình ảnh phù gai theo phân độ tương ứng MFS(2) 
Các biến số liên quan đặc điểm của khối 
choán chỗ gồm có: vị trí, kích thước và bản chất 
giải phẫu bệnh. Vị trí khối choán chỗ, cụ thể: có 
liên quan tới đường giữa hay không, và nằm ở 
thuỳ não nào, bao gồm thuỳ trán, thuỳ đính, 
thuỳ thái dương, thuỳ chẩm, tiểu não, từ 2 thuỳ 
não trở lên. Kích thước khối choán chỗ : trong 
nghiên cứu này quy ước là thể tích của khối 
choán chỗ, với công thức V = chiều dài x chiều 
rộng x chiều cao, đơn vị tính cm3. Theo Bartotz 
(2012) chọn 40 cm3 làm điểm cắt(3). Bản chất khối 
u được chia theo phân loại về khối u thần kinh 
trung ương của WHO(4). 
Kết quả 
Chúng tôi khảo sát 30 mắt trên 30 bệnh 
nhân. Tỷ lệ nữ:nam là 1,72:1 với độ tuổi trung 
bình là 60,3 ± 15,5 tuổi. Thị lực trung bình lức 
vào viện theo logMAR 0,14 ± 0,19, 70% có thị lực 
từ 8/10 trở lên. Tất cả bệnh nhân vào viện vì triệu 
chứng đau đầu dai dẳng, xuất hiện trong thời 
gian trung bình 3,73 ± 2,18 tháng. 
Về đặc điểm khối choán chỗ nội sọ, thể tích 
trung bình 29,71±33,60 cm3. Vị trí thường gặp là 
thuỳ trán, thuỳ thái dương. U lành thường gặp 
nhất là u tế bào thần kinh đệm (63,4%), u ác 
thường gặp u di căn từ cơ quan khác (3/4 ca). 
Phương pháp thống kê 
Hệ số tương quan giữa giá trị độ dày lớp sợi 
thần kinh trung bình với mức độ phù gai theo 
MFS được tính bằng tương quan Spearman, tính 
hệ số tương quan R. Sự khác biệt về tỷ lệ có tăng 
RNFL giữa các nhóm vị trí, kích thước, bản chất 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 255 
khối u được đánh giá bằng cách sử dụng phép 
kiểm Chi bình phương. Tất cả các số liệu thống 
kê mô tả và so sánh được thực hiện bằng cách sử 
dụng gói phần mềm SPSS v.20.0. 
KẾT QUẢ 
Chúng tôi khảo sát 30 mắt trên 30 bệnh 
nhân. Tỷ lệ nữ:nam là 1,72:1 với độ tuổi trung 
bình là 60,3 ± 15,5 tuổi. Thị lực trung bình lức 
vào viện theo logMAR 0,14 ± 0,19, 70% có thị lực 
từ 8/10 trở lên. Thể tích trung bình khối choán 
chỗ nội sọ 29,71±33,60 cm3. Vị trí thường gặp là 
thuỳ trán và thuỳ thái dương. 
Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (n=30) 
Nhóm tuổi Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
18-49 5 16,7 
50-59 7 23,3 
60-69 11 36,7 
>70 7 23,3 
Tổng 30 100,0 
Bảng 2: Phân bố khối choán chỗ theo giải phẫu bệnh 
(n=30) 
 Giải phẫu bệnh khối u 
Số trường 
hợp 
Tỷ lệ 
(%) 
U lành 
tính 
U tế bào thần kinh đệm 19 63,4 
U lympho 1 3,3 
U màng não 4 13,3 
U màng mạch não thất 2 6,7 
U ác 
tính 
U di căn 3 10,0 
U nguyên bào thần kinh đệm 1 3,3 
Khi khảo sát mối tương quan giữa kết quả 
OCT và MFS, kết quả OCT cho giá trị độ dày 
RNFL trung bình 172,25 68,94 m. Đối với khả 
năng chẩn đoán và phân độ phù gai, chúng tôi 
ghi nhận được độ dày lớp sợi thần kinh trung 
bình trên OCT có mối tương quan thuận chặt với 
mức độ phù gai thị theo phân độ MFS với hệ số 
tương quan R=0,952 (p <0,05, sử dụng phép kiểm 
Spearman) (Hình 2). 
Hình 2: Phân bố độ dày lớp sợi thần kinh theo phân độ MFS 
Về giá trị chẩn đoán phù gai thị của OCT, so 
sánh trên lâm sàng có kết quả độ nhạy và độ đặc 
hiệu tương ứng 94,4% và 90% (Bảng 3). 
Bảng 3: Tần suất phát hiện phù gai thị trên OCT và 
trên lâm sàng 
 Trên OCT 
Theo MFS 
Tăng 
RNFL 
Không tăng 
RNFL 
Tổng cộng 
Có phù 17 1 18 
Không phù 3 9 12 
Tổng cộng 20 10 30 
Bảng 4: Tương quan tỷ lệ (%) sự tăng RNFL và thể 
tích khối u (p=0,592) 
 Trên OCT 
Thể tích 
Tăng RNFL Không tăng RNFL 
 40 cm
3
 72,2 27,8 
< 40 cm
3 
63,2 36,8 
Về vị trí của khối u khi phân chia theo thuỳ 
não và sự liên quan tới đường giữa, chúng tôi 
nhận thấy 100% khối u ở thuỳ chẩm, hơn 80% 
trường hợp thuộc nhóm khối u thuộc từ 2 thuỳ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 256 
não trở lên gây ra tình trạng tăng RNFL. Tuy 
nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống 
kê (p=0,096). Tính chất chèn ép đường giữa của 
khối u gây ra tăng chỉ số RNFL có 71,4% trường 
hợp gây ra tình trạng phù gai biểu hiện trên cận 
lâm sàng, sự khác biệt này cũng không có ý 
nghĩa thống kê (p=0,605). 
Khi xét về bản chất khối u theo giải phẫu 
bệnh, trong nhóm u di căn, 100% trường hợp có 
tăng độ dày RNFL, nhóm tế bào thần kinh đệm 
có tỷ lệ này là 78,9%, khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê (p=0,071) (Hình 3). Theo nhóm u lành 
và ác, riêng nhóm u ác tính, có 3/4 trường hợp có 
tăng RNFL trên OCT, tỷ lệ này ở nhóm u lành là 
65,4%, khác biệt không có ý nghĩa thống kê 
(p=0,704). 
Hình 3: Phân bố tăng độ dày RNFL theo giải phẫu bệnh u 
BÀN LUẬN 
Chúng tôi ghi nhận được mối tương quan 
chặt giữa kết quả OCT và phân độ MFS trên 
hình màu đáy mắt. Chỉ số độ dày RNFL và mức 
độ phù gai thị theo MFS có mối tương quan 
thuận chặt, hệ số tương quan R = 0,952. Kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Scott 
CJ (2010) cho R=0,85, nghiên cứu của tác giả 
Ahuja S (2015) có R=0,795(2,5). Tác giả Tang L 
(2015) cũng chỉ ra giữa các kết quả đo lường trên 
hình chụp màu đáy mắt, kết quả OCT và thang 
đo MFS có mối tương quan chặt với nhau(6). 
Sử dụng cận lâm sàng là OCT trong chẩn 
đoán phù gai ghi nhận được độ nhạy và độ đặc 
hiệu lần lượt 94,4% và 90%. Kết quả này thấp 
hơn so với nghiên cứu của tác giả Bassi ST (2014) 
cho giá trị chẩn đoán phù gai có độ nhạy và độ 
đặc hiệu đều đạt 100%(7). Nghiên cứu năm 2009 
của tác giả Johnson LN sử dụng OCT cho độ 
nhạy và độ đặc hiệu đều đạt 63% khi đánh giá 
định tính, và lần lượt là 80% và 90% khi đánh giá 
định lượng(8). Tuy có sự khác nhau giữa các 
nghiên cứu, nhưng với giá trị độ nhạy và độ đặc 
hiệu như trên, OCT có thể được sử dụng như 
một xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán phù gai. 
So sánh với phương pháp sử dụng MFS, tác giả 
Frisen đã cho kết quả độ nhạy dao động từ 93% - 
100%, độ đặc hiệu dao động từ 88% đến 96% do 
tính chủ quan của phương pháp này(9). Như vậy, 
OCT là một phương pháp hỗ trợ về mặt định 
lượng, tăng tính khách quan của chẩn đoán phù 
gai bằng thang điểm MFS. 
Khi xác định mối tương quan giữa phù gai 
trên OCT với các đặc điểm khối u, nghiên cứu 
của chúng tôi ghi nhận nhóm khối u có kích 
thước từ 40 cm3 trở lên có tỷ lệ tăng RNFL cao 
hơn nhóm còn lại nhưng sự khác biệt này không 
có ý nghĩa thống kê. Hiện nay chưa có tác giả 
nào tiến hành so sánh tỷ lệ tăng RNFL trên OCT 
giữa các nhóm kích thước khối u. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
tỷ lệ tăng độ dày lớp sợi thần kinh giữa các 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 257 
nhóm vị trí khối u không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê. Chúng tôi ghi nhận khi khối u 
thuộc thuỳ chẩm, hoặc liên quan đến 2 thuỳ não 
trở lên là nhóm có tỷ lệ tăng RNFL cao nhất. Kết 
quả nghiên cứu của tác giả Onakpoya OH (2009) 
có một số điểm khác biệt về mặt tỷ lệ khối u 
vùng thuỳ trán, hay cụ thể hơn khối u càng ở 
phía trước thì càng có nguy cơ xuất hiện triệu 
chứng phù gai(10). Khi khối u có liên quan tới 
đường giữa thì có sự tăng lên về tỷ lệ có tăng 
RNFL, tuy sự khác biệt không có ý nghĩa thống 
kê. Nghiên cứu của chúng tôi có đa số là u lành 
tính, khi so sánh tỷ lệ có tăng RNFL cho thấy 
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm u này. Tuy 
nhiên nhóm u ác tính có tỷ lệ tăng RNFL là 75%. 
Kết quả này của chúng tôi khá tương đồng với 
tác giả Serova N (2009) với sự khác biệt giữa các 
nhóm vị trí và tính chất giải phẫu bệnh của khối 
u có ý nghĩa thống kê(11). 
Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế. 
Đây là nghiên cứu khởi đầu khảo sát vai trò của 
OCT trong chẩn đoán phù gai thị nên việc chọn 
mẫu có cân nhắc. Mẫu nghiên cứu gồm bệnh 
nhân đang điều trị nội trú có chỉ định phẫu thuật 
thường ở giai đoạn muộn. Kích thước khối u 
mang tính chất ước luợng trên MRI do đó dẫn 
tới sai số. Nghiên cứu cỡ mẫu chưa đủ lớn và 
thời gian chưa đủ lâu để phản ánh một cách rõ 
ràng hay có ý nghĩa thống kê về vai trò OCT 
trong chẩn đoán phù gai. 
KẾT LUẬN 
OCT có thể được ứng dụng như là một công 
cụ cận lâm sàng mang tính khách quan, hiệu quả 
trong chẩn đoán phù gai ở bệnh nhân có khối 
choán chỗ nội sọ, hỗ trợ song song với thang 
điểm Frisen hiệu chỉnh để tăng tính chính xác 
của chẩn đoán phù gai trên những bệnh nhân 
này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Cassidy LM, Sanders MD (1999). "Choroidal folds and 
papilloedema". Br J Ophthalmol, 83(10):1139-1143. 
2. Scott CJ, Kardon RH, Lee AG, et al (2010). “Diagnosis and 
grading of papilledema in patients with raised intracranial 
pressure using optical coherence tomography vs clinical expert 
assessment using a clinical staging scale”. Arch Ophthalmol, 
128(6):705-711. 
3. Bryszewski B, Pfajfer L, Aneta AB (2012). "Functional 
rearrangement of the primary and secondary motor cortex in 
patients with primary tumors of the central nervous system 
located in the region of the central sulcus depending on the 
histopathological type and the size of tumor: Examination by 
means of functional magnetic resonance imaging". Polish 
Journal of Radiology, 77(1):12-20. 
4. Louis DN, Perry A, Reifenberger G, et al (2016). "The 2016 
World Health Organization Classification of Tumors of the 
Central Nervous System: a summary". Acta Neuropathol, 
131(6):803-20. 
5. Ahuja S, Anand D, Dutta TK, et al (2015). "Retinal nerve fiber 
layer thickness analysis in cases of papilledema using optical 
cohenrence tomography - A case control study". Clinical 
Neurology and Neurosurgery, 136:95-99. 
6. Tang L, Kardon RH, Wang JK, et al (2012). "Quantitative 
Evaluation of Papilledema from Stereoscopic Color Fundus 
Photographs". Investigative Ophthalmology & Visual Science, 
53(8):4490 - 4497. 
7. Shikha TB, Kuppuswamy PM (2014). "Optical coherence 
tomography in papilledema and pseudopapilledema with and 
without optic nerve head drusen". Indian Journal of 
Ophtalmology, 62:1145-1151. 
8. Johnson LN, Diehl ML, Hamm CW, et al (2009). 
"Differentiating Optic Disc Edema From Optic Nerve Head 
Drusen on Optical Coherence Tomography". Arch Ophthalmol, 
127(1):45-49. 
9. Frisien L (1982). "Swelling of the optic nerve head: a staging 
scheme". Journal of Neurology, Neurosurgery and Psychiatry, 
45:13-18. 
10. Onakpoya O, Komolafe E, Akintomide F, et al (2009). 
"Opthalmic manifestations in patients with intracranial 
tumours". African Journal of Neurological Sciences, 28(1):53 – 60. 
11. Serova N, Eliseeva N, Shifrin M (2009). "Papilloedema in 
Patients With Brain Tumour". Neuro - Opthalmology, 33:100-105. 
Ngày nhận bài báo: 12/03/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_muc_do_phu_gai_thi_tren_oct_o_benh_nhan_co_khoi_cho.pdf