Khảo sát một số yếu tố nguy cơ bệnh u nguyên bào nuôi

U nguyên bào nuôi có ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người phụ nữ, có

thể di căn đến ở các cơ quan như não, gan phổi, khi các nhân di căn

vỡ tỷ lệ tử vong rất cao. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát một số yếu tố

nguy cơ ở chữa trứng diễn tiến thành u nguyên bào nuôi. Phương pháp

nghiên cứu bệnh chứng, tiến hành trên 32 thai phụ được chẩn đoán

u nguyên bào nuôi tại bệnh viện Trung Ương Huế và 76 thai phụ thai

trứng không bị u nguyên bào nuôi.

Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được kết quả: Độ tuổi trung bình là

24,7± 5,8. Tiền sử bị thai lưu ở nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 28,1% ở

nhóm không u nguyên bào nuôi là 10,5% với OR= 3,3; 95 % CI= 1,1- 9,6

(p<0,05). tiền="" sử="" nạo="" thai="" sẩy="" thai,="" tiền="" sử="" chửa="" trứng="" ở="" nhóm="" u="">

bào nuôi có tỷ lệ 15,6% và 28,1% và ở nhóm không u nguyên bào nuôi

10,5% và 9,2% với OR=1,5; 95% = 0,4-5,2; p>0,05 và OR=3,8; 95% CI

= 1,2- 11,5; p<0,05. nhiễm="" độc="" thai="" nghén="" ở="" nhóm="" u="" nguyên="" bào="">

chiếm tỷ lệ 87,5% nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 1,3% với OR=

8,6; 95% CI= 2,7-27,0; p<0,05. nang="" hoàng="" tuyến="" 2="" bên="" nhóm="" u="">

bào nuôi có tỷ lệ 84,4% nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 21,1%

với OR= 20,2; 95% CI = 6,7-60,9 (p<0,05). ở="" nhóm="" u="" nguyên="" bào="">

thai phụ ≤20 hoặc ≥40 tuổi chiếm 37,5% nhóm không u nguyên bào nuôi

thai phụ chiếm 82,9%; với OR= 2,9; 95% CI = 1,1-7,3 (p<0,05). ở="">

u nguyên bào nuôi nồng độ ß-hCG trước nạo ≥100.000 mUI/lít chiếm

96,9%; nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 77,8% với OR=8,8; 95%;

CI = 1,1 -70,0; p<0,05. quản="" lý="" và="" theo="" dõi="" tốt="" các="" thai="" phụ="" sau="" nạo="">

trứng, chú ý nhóm có nguy cơ tiến triển thành u nguyên bào nuôi để có

thái độ điều trị kịp thời, hạn chế di căn và tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát một số yếu tố nguy cơ bệnh u nguyên bào nuôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát một số yếu tố nguy cơ bệnh u nguyên bào nuôi

Khảo sát một số yếu tố nguy cơ bệnh u nguyên bào nuôi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 47 - 52, 2017
47
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Lê Lam Hương 
Trường Đại học Y Dược Huế
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
BỆNH U NGUYÊN BÀO NUÔI 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Lam Hương,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 12/11/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/11/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Chửa trứng ,u nguyên 
bào nuôi, thai phụ.
Keywords: Molar pregnancy, 
gestational trophoblastic 
neoplasia, pregnant women.
Tóm tắt
U nguyên bào nuôi có ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người phụ nữ, có 
thể di căn đến ở các cơ quan như não, gan phổi, khi các nhân di căn 
vỡ tỷ lệ tử vong rất cao. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát một số yếu tố 
nguy cơ ở chữa trứng diễn tiến thành u nguyên bào nuôi. Phương pháp 
nghiên cứu bệnh chứng, tiến hành trên 32 thai phụ được chẩn đoán 
u nguyên bào nuôi tại bệnh viện Trung Ương Huế và 76 thai phụ thai 
trứng không bị u nguyên bào nuôi. 
Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận được kết quả: Độ tuổi trung bình là 
24,7± 5,8. Tiền sử bị thai lưu ở nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 28,1% ở 
nhóm không u nguyên bào nuôi là 10,5% với OR= 3,3; 95 % CI= 1,1- 9,6 
(p<0,05). Tiền sử nạo thai sẩy thai, tiền sử chửa trứng ở nhóm u nguyên 
bào nuôi có tỷ lệ 15,6% và 28,1% và ở nhóm không u nguyên bào nuôi 
10,5% và 9,2% với OR=1,5; 95% = 0,4-5,2; p>0,05 và OR=3,8; 95% CI 
= 1,2- 11,5; p<0,05. Nhiễm độc thai nghén ở nhóm u nguyên bào nuôi 
chiếm tỷ lệ 87,5% nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 1,3% với OR= 
8,6; 95% CI= 2,7-27,0; p<0,05. Nang hoàng tuyến 2 bên nhóm u nguyên 
bào nuôi có tỷ lệ 84,4% nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 21,1% 
với OR= 20,2; 95% CI = 6,7-60,9 (p<0,05). Ở nhóm u nguyên bào nuôi 
thai phụ ≤20 hoặc ≥40 tuổi chiếm 37,5% nhóm không u nguyên bào nuôi 
thai phụ chiếm 82,9%; với OR= 2,9; 95% CI = 1,1-7,3 (p<0,05). Ở nhóm 
u nguyên bào nuôi nồng độ ß-hCG trước nạo ≥100.000 mUI/lít chiếm 
96,9%; nhóm không u nguyên bào nuôi chiếm 77,8% với OR=8,8; 95%; 
CI = 1,1 -70,0; p<0,05. Quản lý và theo dõi tốt các thai phụ sau nạo thai 
trứng, chú ý nhóm có nguy cơ tiến triển thành u nguyên bào nuôi để có 
thái độ điều trị kịp thời, hạn chế di căn và tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Từ khóa: Chửa trứng, u nguyên bào nuôi, thai phụ.
Abstract 
THE RISK FACTORS OF GESTATIONAL 
TROPHOBLASTIC NEOPLASIA
LÊ LAM HƯƠNG
48
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Gestational trophoblastic neoplasia (GTN) impact importantly on the women health, it may 
metastasis to other organs such as brain, liver, lung and there is a high mobidity rate when these 
metastatic neoplasia ruptured. This study aim to access the risk factors in molar pregnancy 
developing gestational trophoblastic neoplasia. The case - control study included 32 women who 
were diagnosed gestational trophoblastic neoplasia at Hue national hospital and 76 molar pregnancy 
women without developing gestational trophoblastic neoplasia. Results: The average age of women 
was 24.7± 5.8. The history of stillbirth in GTN group was 28.1% and control group was 10.5% with 
OR= 3.3; 95% CI= 1.1-9.6 (< 0.05). The history of abortion and miscarriage in GTN group was 15.6% 
and 28.1% and control group was 10.5% and 9.2% with OR = 1.5; 95% CI = 0.4-5.2 (< 0.05) and OR 
= 3.8; 95% CI = 1.2- 11.5 (<0.05). The rate of toxemia in GTN group was 87.5% and control group 
was 1.3% with OR= 8.6; 95% CI = 2.7 to 27.0; p<0.05. The bilateral theca-lutein cyst in GTN group 
accounted for 84.4% and control group accounted for 21.1% with OR = 20.2; 95%CI= 6.7 to 60.9 (p 
 40 years old in GTN group accounted for 37.5% and control 
group accounted for 82.9%. The percentage of beta hCG level > 100000 UI/ml before curettage in 
GTN group was 96.9% and control group was 77.8% with OR = 8.8; 95%; CI = 1.1-70.0; p < 0.05.
The molar pregnancy after curettage should be monitored carefully, particularly in high risk 
groups, to get a better management to limit metastases and reduce mortality.
Keywords: Molar pregnancy, gestational trophoblastic neoplasia, pregnant women.
phụ nữ có mức sống thấp, nhất là ở những nước 
đang phát triển. Một nghiên cứu ở Hồ chí Minh ghi 
nhận tỷ lệ bệnh nguyên bào nuôi tồn tại sau chữa 
trứng là 32,6%. Hiện nay, nguyên nhân u nguyên 
bào nuôi vẫn chưa được biết rõ, bệnh có thể xuất 
hiện ở mọi lứa tuổi trong thời kỳ sinh đẻ nhất là sau 
chữa trứng. Một số nghiên cứu đã tìm thấy các yếu 
tố có nguy cơ của sự phát triển bệnh u nguyên bào 
nuôi như kích thước tử cung trước nạo lớn hơn tuổi 
thai 20 tuần, hoặc 4 tuần sau nạo tử cung không 
go hồi về kích thước bình thường, có nang hoàng 
tuyến 2 bên, mẹ lớn hơn 40 hoặc nhỏ hơn 20 tuổi, 
nồng độ ß-hCG tăng rất cao, hoặc các biểu hiện 
khác của chửa trứng có nguy cơ cao như nhiễm độc 
thai nghén, cường giáp, chửa trứng lặp lại [2][3]. 
Nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp 
thời, bệnh có thể di căn đến âm đạo, gan, não. 
Khi vỡ các nhân di căn gây chảy máu rất nhiều 
nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Vậy nên 
u nguyên bào nuôi cần phải được chẩn đoán sớm, 
theo dõi sát để phát hiện và xử trí kịp thời, tránh 
1. Đặt vấn đề 
Theo FIGO 2002, u nguyên bào nuôi sau chữa 
trứng có thể là bệnh nguyên bào nuôi tồn tại, thai 
trứng xâm lấn, u nguyên bào nuôi nơi nhau bám, 
hoặc ung thư nguyên bào nuôi, việc chẩn đoán 
sớm vẫn còn chủ yếu dựa vào sự theo dõi β hCG 
mỗi tuần sau khi hút nạo chữa trứng, hoặc kết quả 
giải phẩu bệnh. Nếu chữa trứng là một dạng bệnh 
lành tính của nguyên bào nuôi, thì u nguyên bào 
nuôi là bệnh lý ác tính, diễn tiến bệnh thường xuất 
hiện sau chửa trứng. Sau khi hút nạo chửa trứng 
bệnh nhân cần phải được theo dõi β-hCG mỗi tuần 
để phát hiện sớm u nguyên bào nuôi, u nguyên 
bào nuôi biểu hiện càng sớm sau nạo chửa trứng 
thì mức độ ác tính càng cao. 
Trên thế giới, tỷ lệ u nguyên bào nuôi khác nhau 
và khoảng 1/40.000 phụ nữ có thai, gần 50% sau 
chửa trứng, 25% sau sẩy thai thai-ngoài tử cung và 
25% sau đẻ thường. Bệnh u nguyên bào nuôi có tỉ 
lệ 1/1.200 thai nghén ở Mỹ và 1/120 thai nghén 
ở vùng Đông Nam Á. Tỉ lệ bệnh tăng lên ở những 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 47 - 52, 2017
49
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
các biến chứng di căn có thể xảy ra là việc làm rất 
cần thiết. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài 
“Khảo sát một số yếu tố nguy cơ bệnh u nguyên 
bào nuôi” nhằm mục tiêu: Khảo sát một số yếu 
tố nguy cơ ở chữa trứng diễn tiến thành u nguyên 
bào nuôi. 
2. Đối tượng và phương pháp 
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 32 bệnh nhân 
được chẩn đoán u nguyên bào nuôi sau chữa trứng 
được theo dõi và điều trị tại khoa Phụ sản Bệnh 
viện Trung ương Huế từ tháng 01/2014 đến tháng 
12/2015. 
Nhóm chứng bao gồm 76 bệnh nhân sau nạo 
thai trứng ổn định được theo dõi và không diễn tiến 
thành u nguyên bào nuôi tại khoa Phụ sản Bệnh 
viện Trung ương Huế.
Tiêu chuẩn chọn bệnh: bệnh nhân sau chữa 
trứng được theo dõi và điều trị tại khoa Phụ sản 
Bệnh viện Trung ương Huế có các dấu hiệu sau
- Nang hoàng tuyến tồn tại trên 4 tuần. 
- Nồng độ βHCG tăng qua 2 giá trị liên tiếp. 
Nồng độ βHCG bình nguyên (giảm ít hơn 10%) 
qua 3 giá trị liên tiếp. Nồng độ βHCG sau hút 
nạo 4 tuần >20.000 mIU/ml, βHCG còn tồn tại 6 
tháng sau hút nạo. 
- Kết quả giải phẫu bệnh là u nguyên bào nuôi.
Tiêu chuẩn loại trừ: Có thai lại. Có bệnh lý liên 
quan đến nội tiết. 
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 
bệnh chứng
2.3 Cỡ mẫu: Toàn bộ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn 
chọn cho nhóm nghiên cứu. Chọn tỉ lệ bệnh/chứng 
khoảng 2.
2.4 Tiến hành: Phỏng vấn bệnh nhân khi người 
bệnh được chẩn đoán là u nguyên bào nuôi sau 
điều trị chữa trứng. Phỏng vấn tại phòng phụ khoa 
bệnh viện Trung Ương Huế theo phiếu điều tra 
được thiết kế như phỏng vấn về các biểu biện của 
nhiễm độc thai nghén, trình trạng nôn nghén, ra 
máu âm đạo 
Phỏng vấn tiền sử bản thân, gia đình về mắc 
bệnh chửa trứng, tiền sử sẩy thai, thai lưu. Thăm 
khám các triệu chứng cơ năng và thực thể, kết quả 
siêu âm và xét nghiệm βHCG, phân loại máu. Tiếp 
tục theo dõi thái độ xử trí là cắt tử cung, đơn hóa 
trị, hay đa hóa trị. 
2.5 Xử lý số liệu: Sử dụng các phương pháp thống 
kê y học. Sử dụng phần mềm Medcalc để phân tích 
số liệu với độ tin cậy tối thiểu 95%, α <0,05.
3. Kết quả nghiên cứu
Độ tuổi trung bình là 24,7± 5,8 nhỏ nhất là 17 
tuổi, lớn nhất là 46 tuổi. Nhóm tuổi 21-39 chiếm 
62,5%, và ≥40 tuổi chiếm tỷ lệ 28,1%, ≤ 20 tuổi 
chiếm 9,4%.
Thành phần cán bộ công nhân viên chiếm tỷ lệ 
28,1%. Thành phần làm nông chiếm tỷ lệ 46,9 %. 
Tỷ lệ bệnh ở thành thị 25%. và nông thôn 53,1%. 
Thai phụ được chẩn đoán u nguyên bào nuôi 
có dấu hiệu nhiễm độc thai nghén tỷ lệ 87,5%. Ra 
máu âm đạo bất thường kéo dài chiếm 90,6%. Có 
31,2% có dấu hiệu cường giáp. Nang hoàng tuyến 
2 bên chiếm 84,4%.
Kết quả giải phẩu bệnh ghi nhận thai trứng 
chiếm tỷ lệ 65,7% và u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 
34,3%. Nhóm máu O chiếm tỷ lệ 46,9% nhóm máu 
AB chiếm tỷ lệ 3,1% nhóm máu A và B chiếm tỷ 
Tỷ lệ
Đặc điểm chung
U nguyên bào nuôi Không u nguyên bào nuôi
n= 32 % n= 76 %
Tuổi
≤ 20 3 9,4 4 5,3
21-39 20 62,5 65 85,5
≥40 9 28,1 7 9,2
 ± SD 24,7± 5,8 32,7± 6,7
Nghề nghiệp
Cán bộ 9 28,1 21 31,6
Làm nông 15 46,9 41 53,9
Nghề khác 8 25,0 11 11,5
Tổng 32 100 76 100
Địa dư
Thành thị 8 25,0 35 46,1
Nông thôn 17 53,1 34 44,7
Vùng khác 7 21,9 7 9,2
Tổng 32 100 76 100
Bảng 1: Đặc điểm chung
Tỷ lệ
Đặc điểm
U nguyên bào nuôi
n= 32 %
Tử cung go hồi kém 
Có 23 71,8
Không 9 28,1
Nhiễm độc thai nghén
Có 28 87,5
Không 4 12,5
Ra máu âm đạo bất thường
Có 29 90,6
Không 3 9,5
Cường giáp
Có 10 31,2
Không 22 68,8
Nang hoàng tuyến 2 bên còn sau 4 tuần 
Có 27 84,4
Không 5 15,6
Bảng 2: Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
lệ lần lượt là 28,2% và 21,2%. Nồng độ ß-hCG 
sau nạo tuần sau cao lại hơn tuần trước 10% (2 
tuần đầu) chiếm tỷ lệ 34,4%; ß-hCG sau nạo bình 
nguyên (21 ngày sau nạo) tỷ lệ 15,6%; ß-hCG 
sau nạo >20.000 UI/l (4 tuần sau nạo) chiếm tỷ 
lệ 28,1%.
Tiền sử bị thai lưu ở nhóm u nguyên bào nuôi 
tỷ lệ 28,1% ở nhóm u nguyên bào nuôi 10,5% với 
OR=3,3; 95% CI = 1,1- 9,6 (p<0,05). Tiền sử chửa 
trứng ở nhóm u nguyên bào nuôi tỷ lệ 28,1% và nhóm 
không u nguyên bào nuôi 9,2% với OR=3,8; 95% CI 
= 1,2- 11,5. Sinh ≥4 lần chiếm tỷ lệ 9,4% và 7,9% ở 
mỗi nhóm với OR=1,2; 95% CI = 0,2-5,1; p>0,05.
LÊ LAM HƯƠNG
50
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tỷ lệ
Đặc điểm
U nguyên bào nuôi
n= 32 %
Giải phẩu 
bệnh
Thai trứng (toàn phần, bán phần) 21 65,7
U nguyên bào nuôi 11 34,3
Nhóm máu
O 15 46,9
A 9 28,2
B 7 21,8
AB 1 3,1
Nồng độ 
ß-hCG sau 
nạo
Tuần sau cao lại hơn tuần trước 10% (2 tuần đầu) 11 34,4
Không giảm 1 số thập phân sau mỗi tuần theo dõi 7 21,9
Bình nguyên (21 ngày sau nạo) 5 15,6
>20.000 UI/l (4 tuần sau nạo) 9 28,1
Bảng 3: Một số đặc điểm cận lâm sàng 
Tỷ lệ
Đặc điểm
U nguyên bào nuôi Không u nguyên bào nuôi OR
n= 32 % n= 76 %
Tiền sử thai 
chết lưu
Có 9 28,1 8 10,5 OR=3,3; 95% CI = 1,1- 9,6 
p<0,05Không 23 71,9 68 89,5
Tiền sử nạo 
thai, sẩy thai
Có 5 15,6 8 10,5 OR=1,5; 95 % = 0,4-5,2 
p>0,05 Không 27 84,4 68 89,5
Tiền sử thai 
trứng
Có 9 28,1 7 9,2 OR=3,8; 95% CI = 1,2- 11,5
p<0,05Không 23 71,9 69 90,8
Số lần sinh
≥4 lần 3 9,4 6 7,9 OR=1,2; 95% CI = 0,2-5,1 
p>0,05<3 lần 29 90,6 70 92,1
Bảng 4: Một số yếu tố tiền sử nguy cơ chửa trứng diễn tiến thành u nguyên bào nuôi
Tỷ lệ
Đặc điểm
U nguyên bào nuôi Không u nguyên bào nuôi ORn= 32 % n= 76 %
Nhiễm độc 
thai nghén
Có 8 87,5 34 1,3 OR= 8,6; 95% CI= 2,7-27,0 
p<0,05Không 24 12,5 42 98,7
Nang hoàng 
tuyến 2 bên 
Có 27 84,4 16 21,1 OR= 20,2; 95% CI = 6,7-60,9 
 p<0,05Không 5 15,6 60 78,9
Cường giáp
Có 10 31,2 8 10,5 OR=3,8; 95 % CI = 1,3-11,0 
p<0,05Không 22 68,8 68 89,5
Thai phụ ≤20 
hoặc ≥40 tuổi
Có 12 37,5 13 17,1 OR= 2,9; 95% CI = 1,1-7,3 
 p<0,05Không 20 62,5 63 82,9
ß-hCG trước 
nạo mUI/lít
≥100.000 31 96,9 56 77,8 OR=11,1; 95%; CI = 1,4 -86,5
p<0,05≤100.000 1 3,1 20 22,2
Bảng 5: Một số yếu tố nguy cơ chửa trứng diễn tiến thành u nguyên bào nuôi
Nhiễm độc thai nghén ở nhóm u nguyên bào 
nuôi 87,5% nhóm thai trứng chiếm 1,3% với OR= 
8,6; 95% CI= 2,7-27,0; p<0,05. Nang hoàng 
tuyến 2 bên ở nhóm u nguyên bào nuôi tỷ lệ 84,4% 
nhóm thai trứng 21,1% với OR= 20,2; 95% CI = 
6,7-60,9 (p<0,05). U nguyên bào nuôi cường giáp 
là 31,2%. Nhóm u nguyên bào nuôi ≤20 hoặc ≥40 
tuổi chiếm 37,5% nhóm không u nguyên bào nuôi 
82,9%; với OR= 2,9; 95% CI = 1,1-7,3 (p<0,05). 
Ở nhóm u nguyên bào nuôi nồng độ ß-hCG trước 
nạo ≥100.000 mUI/lít chiếm 96,9%; nhóm không 
u nguyên bào nuôi 77,8% với OR=11,1; 95%; CI = 
1,4 -86,5; p<0,05.
Cắt tử cung chiếm tỷ lệ 28,1%; trong đó có 28 
trường hợp phải đa hóa trị chiếm 87,5%. Chưa có 
trường hợp nào di căn não gan, di căn âm đạo 
chiếm 15,6%.
4. Bàn luận 
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 24,7± 
5,8 nhỏ nhất 17 tuổi, lớn nhất 46 tuổi và ≥ 40 tuổi 
chiếm tỷ lệ 28,1%; ≤ 20 tuổi 9,4%. Nghiên cứu 
khác ghi nhận tuổi trung bình là 27,8±7,19 thì cao 
hơn của nghiên cứu này [2]. 
Kết quả nghiên cứu nhận thấy ở nhóm u nguyên 
bào nuôi có dấu hiệu nhiễm độc thai nghén chiếm 
tỷ lệ 87,5% nhóm thai trứng chiếm 1,3% với nguy 
cơ bị u nguyên bào nuôi cao gấp 8,6 lần (95 % 
CI= 2,7-27,0; p<0,05). Số liệu nghiên cứu chỉ ra 
nang hoàng tuyến 2 bên ở nhóm u nguyên bào 
nuôi tỷ lệ 84,4% nhóm thai trứng chiếm 21,1% 
với nguy cơ cao gấp 20,2 lần 95 % CI= 6,7-60,9 
(p<0,05) nếu nang tồn tại trên 4 tuần sau nạo. Một 
nghiên cứu khác ghi nhận ở bệnh nguyên bào nuôi 
tồn tại có nang hoàng tuyến 2 bên >6cm chiếm 
12% và nghiên cứu khác cũng nhận thấy yếu tố 
Tỷ lệ
Đặc điểm
U nguyên bào nuôi
n= 32 %
Cắt tử cung
Có 9 28,1
Không 23 71,8
Đơn hóa trị
Có 28 87,5
Không 4 12,5
Đa hóa trị
Có 4 12,5
Không 28 87,5
Di căn
Âm đạo 5 15,6
Phổi 1 3,1
Não, Gan 0 0
Bảng 6: Một số biện pháp can thiệp và biến chứng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 47 - 52, 2017
51
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
nang hoàng tuyến làm tăng nguy cơ bệnh 7,44 
lần (KTC 95% 1,2- 78,21), p= 0,014 so với nhóm 
không hiện diện nang hoàng tuyến tương đương 
với nghiên cứu này[1; 2]. Triệu chứng nghén nặng 
chiếm 15,8% cũng thấp hơn nhiều so với nghiên 
cứu này có lẽ do cách quy định về mức độ nghén 
nặng trong nghiên cứu[2]. Ra huyết âm đạo thường 
gặp là do khối u nguyên bào nuôi gây tổn thương 
trực tiếp tại cơ tử cung, triệu chứng có thể xuất hiện 
sớm hay muộn. Máu âm đạo tươi hay máu đen, ra 
máu tự nhiên, ít một, kéo dài nếu vỡ nhân di căn 
máu chảy nhiều. Bệnh nhân có thể có kinh bình 
thường nhưng giữa chu kì lại ra huyết bất thường 
hoặc ra máu âm đạo kéo dài sau nạo, nghiên 
cứu khác năm 2014 cũng ghi nhận triệu chứng ra 
huyết âm đạo chiếm 48% kết quả thấp hơn so với 
nghiên cứu này [10]. 
Qua nghiên cứu nhận thấy rằng nhóm u nguyên 
bào nuôi có tỷ lệ cường giáp 31,2%, và ở nhóm 
không phải u nguyên bào nuôi 10,5%. So với 
nghiên cứu khác thì triệu chứng cường giáp chiếm 
3,2 % thấp hơn so với nghiên cứu này có lẽ do 
cách quy định những bệnh nhân có dấu hiệu của 
tuyến giáp ở nghiên cứu này nhẹ hơn [2]. Kết quả 
nghiên cứu cũng nhận thấy các thai phụ tiền sử bị 
thai lưu ở nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 28,1% 
nguy cơ mắc bệnh cao hơn 3,3 lần so với ở nhóm 
chứng( 10,5%) 95% CI = 1,1- 9,6 (p<0,05). Tiền sử 
nạo thai, sẩy thai ở nhóm chiếm u nguyên bào nuôi 
có tỷ lệ có tỷ lệ là 15,6%; và ở nhóm không bị u 
nguyên bào nuôi là 10,5% với nguy cơ cao hơn 1,5 
lần 95% CI = 0,4-5,2 (p>0,05). Số liệu nghiên cứu 
chỉ ra tiền sử chửa trứng ở nhóm chiếm u nguyên 
bào nuôi có tỷ lệ có tỷ lệ là 28,1% ở nhóm chửa 
trứng là 9,2% với nguy cơ mắc bệnh cao hơn 3,8 
lần so với nhóm không bị u nguyên bào nuôi [95% 
CI= 1,2- 11,5 (p<0,05)]. Một nghiên cứu khác 
cũng ghi nhận tỷ lệ chửa trứng, u nguyên bào nuôi 
có liên quan đến tiền sử nạo hút thai [7].
Kết quả nghiên cứu thấy nồng độ ß-hCG sau 
nạo chữa trứng tuần sau cao lại hơn tuần trước 
10% chiếm tỷ lệ 34,4%; ß-hCG sau nạo bình 
nguyên tỷ lệ 15,6%. Bệnh u nguyên bào nuôi 
gây nhiều biến chứng nguy hiểm thường tiến 
triển sau thai trứng[9]. Vai trò của hCG trong 
chẩn đoán, theo dõi diễn tiến bệnh u nguyên 
bào nuôi rất quan trọng. Theo dõi ß-hCG sau 
nạo hút trứng rất cần thiết vì nguy cơ bệnh có 
thể tiến triển thành u nguyên bào nuôi. Chưa có 
một tiêu chuẩn lâm sàng hay bệnh học nào cho 
phép tiên đoán chính xác bệnh nhân nào sẽ diễn 
tiến thành u nguyên bào nuôi sau chữa trứng 
nên việc theo dõi ßhCG sau hút nạo chữa trứng 
được xem như là tiêu chuẩn trong việc phát hiện 
bệnh[10]. Số liệu nghiên cứu ghi nhận ở nhóm 
u nguyên bào nuôi có nồng độ ß-hCG trước nạo 
≥100.000 mUI/lít chiếm 96,9%; nguy cơ mắc 
bệnh u nguyên bào nuôi cao hơn 11,1 lần; 95% 
CI= 1,4 -86,5; p<0,05. So với nhóm chứng nồng 
độ ß-hCG trước nạo ≥100.000 mUI/lít được xem 
như là một yếu tố nguy cơ cao của bệnh đã được 
ghi nhận ở y văn và nhiều nghiên cứu khác. Một 
nghiên cứu khác ghi nhận nồng độ ß-hCG ở u 
nguyên bào nuôi sau chữa trứng ≥760 mUI/lít 
chiếm 26,1%, y văn cũng như nghiên cứu của 
Moodley M thì nồng độ βhCG cao trước hút nạo 
là yếu tố nguy cơ cao đối với với bệnh u nguyên 
bào nuôi[1, 7]. 
Qua nghiên cứu ghi nhận thai phụ ≤20 hoặc 
≥40 tuổi chiếm 37,5%. Thai phụ trong lứa tuổi 
này sẽ ở nhóm nguy cơ bị u nguyên bào nuôi cao 
hơn 2,9 lần (95% CI = 1,1-7,3; p<0,05) so với 
nhóm chứng kết quả này chung nhận xét với các 
nghiên cứu khác như tuổi của người mẹ> 35 tuổi 
thì khả năng mắc bệnh cao hơn có thể do bệnh 
nhân lớn tuổi trong cơ thể miễn dịch thấp hơn, 
khả năng miễn dịch cơ thể thấp hơn khiến các 
tế bào khối u tăng sinh [9;11].Nghiên cứu Trần 
Quốc Tuấn ghi nhận tỷ lệ u nguyên bào nuôi tồn 
tại sau chữa trứng độ tuổi 25-29 là 32%, và tăng 
72,5% khi ≥ 40 tuổi[11]. Một nghiên cứu khác ghi 
nhận có 1 số yếu tố làm tăng nguy cơ ác tính của 
bệnh thai trứng như tuổi ≥ 35 (OR: 4,41, 95% 
CI: 1.07- 16.09, chỉ số nguy cơ 5); tuổi thai ≥ 
12tuần (OR: 11.7, 95% CI: 1,8-72,4; tử cung có 
kích thước lớn hơn hơn so với tuổi thai (OR: 10,2, 
95% CI: 2,8-36,6); như vậy tuổi của mẹ giữ vai 
trò khá quan trọng để tiên lượng có nguy cơ của 
bệnh u nguyên bào nuôi[12]. Cần theo dõi chặt 
chẽ sau nạo thai trứng, phát hiện những thai phụ 
có nguy cơ để phát hiện bệnh sớm bệnh u nguyên 
bào nuôi sau chữa trứng để có chế độ điều trị phù 
hợp nhằm hạn chế những di căn và nguy cơ tử 
vong cho bệnh nhân là cần thiết.
LÊ LAM HƯƠNG
52
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
5. Kết luận 
Số liệu nghiên cứu chỉ ra tiền sử bị thai lưu ở 
nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 28,1% ở nhóm 
không u nguyên bào nuôi 10,5% với OR=3,3; 95% 
CI = 1,1- 9,6 (p<0,05). Tiền sử nạo thai, sẩy thai 
tiền sử chửa trứng ở nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ 
lệ 15,6% và 28,1% và ở nhóm không u nguyên bào 
nuôi 10,5% và 9,2% với OR=1,5; 95% = 0,4-5,2; 
p>0,05 và OR=3,8; 95% CI = 1,2- 11,5; p<0,05. 
Nhiễm độc thai nghén ở nhóm u nguyên bào 
nuôi chiếm tỷ lệ 87,5% nhóm không u nguyên bào 
nuôi chiếm 1,3% với nguy cơ cao hơn 8,6 lần; 95% 
CI= 2,7-27,0; p<0,05. Nang hoàng tuyến 2 bên ở 
nhóm u nguyên bào nuôi có tỷ lệ 84,4% nhóm không 
u nguyên bào nuôi chiếm 21,1% ghi nhận nguy cơ 
cao hơn 20,2 lần; 95% CI = 6,7-60,9 (p<0,05). 
Ở nhóm u nguyên bào nuôi tuổi ≤20 hoặc 
≥40 chiếm 37,5% nhóm không u nguyên bào nuôi 
chiếm 82,9%; với nguy cơ bị u nguyên bào nuôi 
cao hơn 2,9 lần; 95 % CI = 1,1-7,3 (p<0,05). Ở 
nhóm u nguyên bào nuôi nồng độ ß-hCG trước 
nạo ≥100.000 mUI/lít chiếm 96,9%; nhóm không 
u nguyên bào nuôi chiếm 77,8% ghi nhận nguy 
cơ cao hơn 8,8 lần; 95%; CI = 1,1 -70,0; p<0,05.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Nhật Huy, Võ Minh Tuấn, (2014), Kết quả của hóa dự 
phòng ở bệnh nhân thai trứng nguy cơ cao tại bệnh viện Từ Dũ, 
Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 18 số 1, trang 58-63.
2. Nguyễn Thị Tố Thư, Nguyễn Duy Tài; (2014) Tỷ lệ bệnh nguyên 
bào nuôi tồn tại sau hút nạo thai trứng không hóa dự phòng tại 
bệnh viện Hùng vương (2011-2013), Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí 
Minh, tập 18 số 1, trang 114-121.
3. Boufettal H,(2011), Complete hydatiforme mole in Morocco: 
epidemiological and clinical study, J Gynecol Obstet Biol Reprod, 
40(5):419-29. 
4. Denny, L., Quinn, M., Hacker, N., FIGO Cancer Report. 2012 , 
Editorial. Int. J. Gynecol. & Obstet, 119: Suppl. 2, S89-S159.
5. Ernest I Kohorn,(2015), The FIGO 2002 Staging and Risk Factor 
Scoring System for gestational trophoblastic disease, Pag 7-8.
6. Kohorn E.I., (2014) Worldwide Survey of the results of Treating 
Gestational Trophoblastic Disease Trophoblastic Disease. J. 
Reproductive Medicine, 59. 145 – 153.
7. Moodley M, Tunkyi K, Moodley J (2003), ʺ Gestational trophoblastic 
syndrome: an audit of 112 patients. A South African experience.ʺ Int 
J Gynecol Cancer, 13(2), pp. 234-239.
8. Ngan, H.Y.S., Kohorn, E.I., Cole L.A., et al (2012) Trophoblastic 
Disease, Int. J. Gynecol. Obstet., 119, Suppl. 2, S130–S136.
9. Sebire, NJ, Foskett, M, Fisher, RA, Rees, (2002), Risk of partial 
and complete hydatidiform molar pregnancy in relation to maternal 
age. BJOG; 109: 99–102
10. Seckl, MJ, Fisher, RA, (2000), Choriocarcinoma and partial 
hydatidiform moles. Lancet; 356: 36–39
11. Nguyễn Quốc Tuấn, (2003), ʺNghiên cứu về một số đặc điểm 
thường gặp trên bệnh nhân chữa trứng và các yếu tố liên quan đến 
biến chứngʺ. Trường đại học y Hà Nội: Luận án tiến sĩ y học.
12. Xia Z F, Song H Z, Tang M Y.(1998); Risk of malignancy and 
prognosis using a provisional scoring system in hydatidiform mole. 
Chin Med J (Engl);93:605–612

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_mot_so_yeu_to_nguy_co_benh_u_nguyen_bao_nuoi.pdf