Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp tồn tại ở sản phụ tiền sản giật đã sinh tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tăng huyết áp tồn tại sau sinh ở các trường

hợp tiền sản giật đến theo dõi và điều trị tại Khoa sản Bệnh viện đa

khoa tỉnh Gia Lai. Và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng

tăng huyết áp tồn tại ở nhóm sản phụ này.

Đối tượng và hương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô

tả. Đối tượng nghiên cứu gồm 91 trường hợp nhập viện với chẩn đoán

tiền sản giật tại Khoa sản Bệnh viện đa khoa Gia Lai. Các trường hợp

này được điều trị và được tiếp tục theo dõi đến 12 tuần sau sinh. Thời

gian nghiên cứu từ 1/ 2016 đến 7/ 2017. Thu thập dữ liệu dựa vào hồ sơ

bệnh án, xét nghiệm, bệnh án nghiên cứu. Nhập số liệu và xử lý số liệu

bằng phần mềm SPSS 18.0.

Kết quả: Có 27,5% (25/91) trường hợp tiền sản giật có tăng huyết áp

tồn tại sau sinh đến 12 tuần. Xét nghiệm AST và creatinin huyết thanh

là những yếu tố có liên quan đến nguy cơ tăng huyết áp tồn tại sau sinh

ở nhóm sản phụ tiền sản giật (p<>

Kết luận: Theo dõi dài hạn sau sinh ở những sản phụ tiền sản giật là

rất cần thiết để phát hiện những bệnh lý liên quan về sau.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp tồn tại ở sản phụ tiền sản giật đã sinh tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp tồn tại ở sản phụ tiền sản giật đã sinh tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai

Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp tồn tại ở sản phụ tiền sản giật đã sinh tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 61 - 65, 2017
61
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Tĩnh Bình, Phạm Thị Lệ Hằng, Phạm Thị Thanh Mai, Bùi Thị Thu Trang, NguyễnThị Bích Vân 
Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN TĂNG HUYẾT ÁP TỒN TẠI
Ở SẢN PHỤ TIỀN SẢN GIẬT ĐÃ SINH
TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Phương Thảo, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tăng huyết áp tồn tại sau sinh ở các trường 
hợp tiền sản giật đến theo dõi và điều trị tại Khoa sản Bệnh viện đa 
khoa tỉnh Gia Lai. Và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng 
tăng huyết áp tồn tại ở nhóm sản phụ này.
Đối tượng và hương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô 
tả. Đối tượng nghiên cứu gồm 91 trường hợp nhập viện với chẩn đoán 
tiền sản giật tại Khoa sản Bệnh viện đa khoa Gia Lai. Các trường hợp 
này được điều trị và được tiếp tục theo dõi đến 12 tuần sau sinh. Thời 
gian nghiên cứu từ 1/ 2016 đến 7/ 2017. Thu thập dữ liệu dựa vào hồ sơ 
bệnh án, xét nghiệm, bệnh án nghiên cứu. Nhập số liệu và xử lý số liệu 
bằng phần mềm SPSS 18.0.
Kết quả: Có 27,5% (25/91) trường hợp tiền sản giật có tăng huyết áp 
tồn tại sau sinh đến 12 tuần. Xét nghiệm AST và creatinin huyết thanh 
là những yếu tố có liên quan đến nguy cơ tăng huyết áp tồn tại sau sinh 
ở nhóm sản phụ tiền sản giật (p<0,05).
Kết luận: Theo dõi dài hạn sau sinh ở những sản phụ tiền sản giật là 
rất cần thiết để phát hiện những bệnh lý liên quan về sau.
Abstract 
RELATED FACTORS WITH PERSISTENT 
HYPERTENSION AFTER PUERPERIUM AMONG 
PREECLAMPTIC WOMEN IN GIALAI GENERAL 
HOSPITAL
Objective: To determine the longterm hypertension after 
puerperium among women with preeclampsia in Gia Lai general 
hospital. And finding related factors with pesistent hypertension in 
pre-eclamptic women.
Materials and Method: A cross-sectional descriptive study on 91 
pregnants women hospitalized with pre-eclampsia from January 2016 
to July 2017 at the Obstetrics department of Gia Lai General Hospital. 
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN TĨNH BÌNH, PHẠM THỊ LỆ HẰNG, PHẠM THỊ THANH MAI, BÙI THỊ THU TRANG, NGUYỄNTHỊ BÍCH VÂN
62
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
After treatment, they have been followed up until 12 weeks postpartum. Data were collected on the 
patients records and analysis by SPSS software 18.0.
Results: Prevalence of hypertension persistent until 12 weeks postpartum among pre-eclamptic 
women was 27.5% (25/91 cases). Serum AST and serum creatinine level associated with risk of 
postpartum hypertension persistent (p <0.05).
Conclusion: Pre-eclamptic women need to long-term follow-up to identify the risk of related diseases 
in the later of life.
1. Đặt vấn đề
Tiền sản giật (TSG) là một rối loạn nhiều cơ 
quan liên quan đến thai kỳ, đặc trưng bởi tình 
trạng tăng huyết áp (THA) và protein niệu. TSG 
chiếm tỉ lệ khoảng 6 - 10% tổng số thai kỳ và liên 
quan đến tỉ lệ bệnh tật và tử vong mẹ trên toàn 
cầu. Bệnh có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau 
sinh, và đặc biệt liên quan đến nguy cơ THA 
mạn hoặc TSG ở lần mang thai sau [1], [2], [3]. 
Các nghiên cứu về tình trạng THA tồn tại 
sau sinh còn hạn chế. Tỷ lệ THA sau sinh hiện 
chưa thống nhất, dao động từ 0,3 - 27% tùy theo 
nghiên cứu [4], [5], [6], [7]. Một thực tế là có 
những bệnh nhân TSG không được theo dõi diễn 
biến HA cũng như không được quan tâm đúng 
mức sau khi xuất viện. 
Tại Việt nam, tình trạng theo dõi sau sinh 
hầu như chưa được quan tâm đầy đủ, đặc biệt 
theo dõi tình trạng HA và các vấn đề liên quan 
ở những sản phụ bị TSG. Điều này có thể dẫn 
đến phát triển một số bệnh lý về sau có liên quan 
đến TSG như THA mạn tính, bệnh lý tim mạch, 
bệnh thận mà không được theo dõi và điều trị 
phù hợp.
Vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài 
với các mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ THA tồn tại sau sinh ở các 
trường hợp TSG đến theo dõi và điều trị tại Khoa 
sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai. 
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình 
trạng THA tồn tại ở nhóm sản phụ này.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Tất cả sản phụ đến sinh có tuổi thai từ 200/7 
tuần đến 416/7 tuần theo siêu âm 3 tháng đầu, có 
các triệu chứng đầy đủ để chẩn đoán TSG theo 
Hiệp hội sản phụ khoa Hòa Kỳ (ACOG, 2014). 
Tiêu chuẩn loại trừ:
Sản phụ không có đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán 
TSG và hoặc từ chối tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 
Thời gian và địa điểm: Nghiên cứu tiến hành 
từ 1/2016 đến 6/2017 tại Khoa sản Bệnh viện đa 
khoa tỉnh Gia Lai.
Cỡ mẫu nghiên cứu: được tính theo công thức: 
N=Z(1-α/2)
2x p(1-p)/d2
- Chọn α=0,5 thì 1-α=95%, hệ số tin cậy 
Z(1-α/2)=1,96, tỷ lệ sai số d = 5%, p = 6% là tỷ lệ THA 
tồn tại sau sinh (theo nghiên cứu của Bramham, 
2013) [10].
- Như vậy cở mẫu tối thiểu là 86 trường hợp, 
trong thực tế chúng tôi thu nhận được 91 trường 
hợp thỏa mãn các các điều kiện lấy mẫu.
Phương pháp và công cụ thu thập thông tin: 
- Phiếu thu thập số liệu xây dựng dựa trên mục 
tiêu nghiên cứu, biến số nghiên cứu. 
- Thu thập số liệu nghiên cứu dựa trên ghi chép 
hồ sơ bệnh án vào bệnh án thu thập thông tin. 
Phiếu thu thập ghi nhận lại HA của bệnh nhân lúc 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 61 - 65, 2017
63
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
vào viện, sau sinh 48 giờ, khi xuất viện, cũng như 
các chỉ số xét nghiệm protein niệu, sinh hóa, công 
thức máu, tiểu cầu. 
- Sau 12 tuần hậu sản bệnh nhân được liên hệ 
trở lại bệnh viện để khám, đo HA, xét nghiệm máu 
và nước tiểu.
Kỹ thuật đo HA: Đo HA theo qui trình chuẩn 
của Bộ y tế:
- Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5-10 
phút, không dùng chất kích thích (cà phê, hút 
thuốc, rượu bia) trong 2 giờ và không nói chuyện 
khi đang đo HA. 
- Tư thế đo chuẩn: Ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi 
thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Có 
thể đo ở các tư thế nằm, đứng trong một số tình 
huống đặc biệt. 
- Sử dụng HA kế thủy ngân, bề dài bao đo tối 
thiểu 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu 40% 
chu vi cánh tay. Quấn băng đủ chặt, bờ dưới bao 
đo trên nếp lằn khuỷu 2cm. Đặt máy ở vị trí để 
đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang 
mức với tim. 
- Xác định vị trí động mạnh cánh tay để đặt ống 
nghe. Bơm hơi thêm 30mmHg sau khi không còn 
mạch đập. Xả hơi với tốc độ 2-3mmHg/nhịp đập. 
Huyết áp tâm thu (HATT) tương ứng lúc xuất hiện 
tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff) và huyết 
áp tâm trương (HATr) tương ứng khi mất hẳn tiếng 
đập (pha V của Korotkoff). 
- Đo HA hai cánh tay, chọn trị số HA cao nhất. 
Nên đo ít nhất hai lần, cách nhau ít nhất 1-2 phút. 
Nếu số đo HA 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, 
cần đo lại sau nghỉ trên 5 phút. Giá trị HA ghi nhận 
là trung bình của hai lần đo cuối cùng. Không làm 
tròn trị số quá hàng đơn vị và thông báo kết quả 
cho người được đo. 
Chẩn đoán THA khi HATT ≥ 140 mmHg và/
hoặc HATr ≥ 90 mmHg (WHO-ISH, 2003).
Xữ lý số liệu
Các số liệu thu thập được mã hoá, nhập, quản 
lý và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 18.0. Sử 
dụng test Chi bình phương và t-test để so sánh các 
đặc tính của bệnh nhân và các số liệu liên quan. 
Phân tích đa biến hồi quy logistic được tiến hành 
để tính các yếu tố nguy cơ đến tình trạng THA tồn 
tại. Với khoảng tin cậy (CI 95%), sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê nếu p ≤ 0,05.
3. Kết quả
Tỷ lệ TSG trong năm 2016 là 4,6%, năm 2017 
là 3,8%.
Tỷ lệ TSG và TSG nặng có tương đương nhau 
(49% và 51%).
Năm Tổng số sinh TSG Tỷ lệ
2016 9541 436 4,6%
2017 4968 191 3,8%
Bảng 1. Tỷ lệ TSG.
Đặc điểm
TSG
Trị số p
TSG n = 45 (49%) TSG nặng n = 46 (51%)
Tuổi mẹ
16-24 
25-35
>35 
Trung bình 
14 (40,0)
23 (59,0)
 8 (47,1)
28,87±6,73
21 (60,0)
16 (41,0)
 9 (52,9)
26,80±7,61
0,259
0,175
Tiền sử sản khoa
Con so
Con rạ
20 (47,6)
25 (51,0)
22 (52,4)
24 (49,0)
0,764
Dân tộc
Kinh
Thiểu số
18 (52,9)
27 (47,4)
16 (47,1)
30 (52,6)
0,607
Đia chỉ
Thành thị
Nông thôn
12 (52,2)
33 (48,5)
11 (47,8)
35 (51,5)
0,763
Nghề nghiệp
Công chức
Nông
Nội trợ
4 (40,0)
33 (47,1)
8 (72,7)
6 (60,0)
37 (52,9)
3 (27,3)
0,236
Tiền sử bệnh nội khoa
Có
Không
0 (0,0)
45 (50,6)
2 (100,0)
44 (49,4)
0,157
Bảng 2. Đặc điểm chung của sản phụ TSG.
Chỉ số Nhập viện Xuất viện Sau 12 tuần
Giá trị p
Nhập – 
xuất viện
Nhập viện – 
sau 12 tuần
HATT
(mmHg)
Trung bình 161,32±23,91 123,41±9,45 124,84±19,51 <0,001 <0,001
≥160 44 (48,4) 0 (0,0) 7 (7,7)
140-160 47 (51,6) 6 (6,6) 18 (19,8)
<140 0 (0,0) 85 (93,4) 66 (72,5)
HATTr
(mmHg)
Trung bình 102,97±14,02 78,24±6,60 77,91±12,25 <0,001 <0,001
≥110 28 (30,8) 0 (0,0) 4 (4,4)
90-110 61 (67,0) 11 (12,1) 19 (20,9)
<90 2 (2,2) 80 (87,9) 68 (74,7)
Protein 
niệu
Âm tính 0 (0,0) 62 (68,1) 63 (69,2) 0,009 0,011
Vết 28 (30,8) 13 (14,3) 7 (7,7)
1+ 21 (23,1) 7 (7,7) 15 (16,5)
2+ 22 (24,2) 6 (6,6) 5 (5,5)
3+ 20 (22,0) 3 (3,3) 1 (1,1)
Tiểu cầu
(mm3)
Trung bình 186,38±77,33 178,34±79,94 194,76±61,47 0,228 0,268
≥ 100 79 (86,8) 79 (86,8) 91 (100,0)
<100 12 (13,2) 12 (13,2) 0 (0,0)
Bảng 3. So sánh chỉ số HA và xét nghiệm lúc nhập viện, xuất viện và sau 12 tuần hậu sản 
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO, NGUYỄN TĨNH BÌNH, PHẠM THỊ LỆ HẰNG, PHẠM THỊ THANH MAI, BÙI THỊ THU TRANG, NGUYỄNTHỊ BÍCH VÂN
64
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Chỉ số Nhập viện Xuất viện Sau 12 tuần
Giá trị p
Nhập – 
xuất viện
Nhập viện – 
sau 12 tuần
AST
(U/L)
Trung bình 42,67±65,71 34,77±51,02 23,59±6,79 0,024 0,005
Khoảng tứ vị 20-25-33 20-22-35 19-22-25
≥50 15 (16,5) 15 (16,5) 0 (0,0)
<50 76 (83,5) 76 (83,5) 91 (100,0)
ALT
(U/L)
Trung bình 22,18±24,49 20,37±17,64 15,07±5,09 0,143 0,003
Khoảng tứ vị 10-15-21 11-15-21 11-15-18
≥ 50 8 (8,8) 5 (5,5) 0 (0,0)
< 50 83 (91,2) 86 (94,5) 91 (100,0)
Creatinin
(µmol/L)
Trung bình 70,05±29,91 63,93±21,66 62,53±28,03 0,007 0,003
≥ 110 9 (9,9) 3 (3,3) 8 (8,8)
< 110 82 (90,1) 88 (96,7) 83 (91,2)
Chỉ số trung bình của HATT và HATTr thấp đáng 
kể sau 12 tuần hậu sản (p<0,001). Chỉ số trung 
bình protein niệu, men gan, tiểu cầu, creatinin đều 
cải thiện rõ khi nhập viện cho đến khi xuất viện và 
sau 12 tuần hậu sản, p<0,05).
Nồng độ AST và creatinin lúc nhập viện là yếu 
tố liên quan đến tình trạng THA tồn tại, lần lượt giá 
trị p<0,014 và p<0,006.
4. Bàn luận
Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ THA tồn tại 
sau sinh của 91 sản phụ có TSG tại thời điểm nhập 
viện sinh là 27,5% (25/91 trường hợp) (bảng 1). 
Tỷ lệ này cũng phù hợp với các nghiên cứu trên 
thế giới, theo Sibai tỷ lệ THA tồn tại sau TSG dao 
động từ 0,3-27%. Tuy nhiên theo nghiên cứu của 
Emmanuel khi đánh giá các yếu tố liên quan đến 
THA sau sinh tại Uganda cho thấy tỷ lệ THA tồn 
tại tương tự như nghiên cứu của chúng tôi là 27% 
(54/195 trường hợp) [8].
Tỷ lệ TSG và TSG nặng trong nghiên cứu chúng 
tôi (bảng 2) gần tương đương nhau (49% và 51%). 
Mối liên hệ giữa các đặc điểm dân tộc, tiền sử sản 
khoa, địa chỉ, nghề nghiệp, tiền sử bệnh và nhóm 
TSG không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Theo 
CÁC YẾU TỐ RR KTC(95%) p
Dân tộc 0,724 0,27-1,92 0,273
PARA 0,563 0,22-1,45 0,232
Nhóm TSG (TSG nặng- TSG) 0,74 0,29-1,87 0,522
Nhóm protein niệu lúc vào viện 0,36 0,12-1,01 0,047
Nhóm AST lúc vào viện 3,97 1,26-12,5 0,014
Nhóm ALT lúc vào viện 2,95 0,67-12,8 0,135
Nhóm TC lúc vào viện 0,72 0,20-2,66 0,625
Nhóm creatinin lúc vào viện 6,62 1,51-29,0 0,006
Bảng 4. Liên quan các chỉ số xét nghiệm lúc vào viện, đặc điểm của sản phụ với THA tồn tại.
Sibai, tỷ lệ TSG cũng không khác nhau giữa con rạ 
và con so, trong một nghiên cứu tác giả Sibai [6], 
[7] kết quả cho thấy TSG ở lần mang thai trước có 
tỷ lệ bị TSG lại cao hơn nhóm chứng (46% so với 
7%, p<0,0001), tỷ lệ THA mãn cũng cao hơn đáng 
kể trong nhóm này (14,8% so với 5,6%, p<0,001). 
Theo một số tác giả [8], [9], [10], HA của sản 
phụ TSG sau sinh bị TSG thường trở về bình thường 
sau 6 tuần hậu sản (hoặc trước 12 tuần hậu sản). 
Đó là lý do nên đánh giá HA sau 12 tuần hậu 
sản để theo dõi tình trạng THA tồn tại. Vì vậy, các 
nghiên cứu của Sibai kéo dài 7 năm để đưa ra 
được tỷ lệ THA mạn về sau. Một số nghiên cứu 
cho thấy có liên quan giữa TSG sớm và khả năng 
tiến triển thành THA mạn. Một số nghiên cứu [12], 
[13], [15] cho thấy trong số sản phụ bị TSG lúc 
sinh có khoảng 10% tiến triển thành THA mãn và 
2% mắc bệnh thận mãn dù protein niệu lúc sinh ở 
dạng vết (trace), điều này càng nhấn mạnh tầm 
quan trọng việc theo dõi bệnh thận tiến triển và 
TSG cho những lần mang thai tiếp theo ở những 
bệnh nhân này.
Để đánh giá hiệu quả điều trị (bảng 3), chúng 
tôi lấy kết quả trung bình từng nhóm để so sánh ở 
thời điểm lúc nhập viện, khi xuất viện và sau 12 
tuần. Kết quả cho thấy chỉ số trung bình HATT và 
HATTr thấp đáng kể, p<0,001. Tương tự, số trường 
hợp protein niệu lúc nhập viện 3(+) sau 12 tuần chỉ 
còn 1 bệnh nhân, p<0,011. Chỉ số trung bình tiểu 
cầu không khác biệt đáng kể (p=0,268). Các chỉ 
số AST, ALT, creatinin đều cải thiện rõ sau 12 tuần 
hậu sản (p<0,05). Như vậy, các chỉ số đều giảm 
xuống an toàn khi xuất viện nhưng dường như về 
bình thường sau 12 tuần hậu sản.
Khi phân tích yếu tố nguy cơ từ các chỉ số xét 
nghiệm lúc vào viện và đặc điểm của sản phụ với 
tình trạng THA tồn tại sau 12 tuần (bảng 4). Kết 
quả cho thấy chỉ số AST và creatinin lúc nhập viện 
là yếu tố nguy cơ cho THA tồn tại sau 12 tuần 
hậu sản. Phát hiện này tương nghiên cứu của 
Emmanuel [8], cho thấy có mối liên quan của nồng 
độ creatinin máu lúc nhập viện và tình trạng THA 
mãn (p=0,001), tuy nhiên nghiên cứu này không 
đề cập đến chỉ số AST, và các bệnh lý gan mãn 
trên nhóm sản phụ này. Hiện nay, các nghiên cứu 
trong nước cũng chưa thống kê rõ ràng về vấn đề 
này, mặc dù biết rằng các sản phụ có rối loạn 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 61 - 65, 2017
65
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
THA trong thai kỳ có thể để lại biến chứng lâu dài 
về sau nhưng chưa nhiều báo cáo cụ thể. Trên thế 
giới, vấn đề này đã chú trọng thể hiện qua các 
nghiên cứu của Sibai [5], [6], [7], các hướng dẫn 
của ACOG [3], SOGC [15]. Một nghiên cứu của 
Sibai [7] theo dõi gần 10 năm cho 125 sản phụ 
TSG nặng, khởi phát sớm, có 44 (35%) trường hợp 
xuất hiện THA mãn. Trong đó có 2 trường hợp tử 
vong, 2 trường hợp khác suy thận giai đoạn cuối, 
tỷ lệ TSG-SG lặp lại xuất hiện các biến chứng này 
cao hơn với những trường hợp chỉ bị TSG 1 lần 
(67% so với 4%, p<0,0001).
Trong một nghiên cứu của Nisell và cộng sự 
[12], kết quả cho thấy yếu tố có albumin trong 
nước tiểu có sự liên quan có ý nghĩa thống kê với 
tình trạng THA tồn tại (p=0,00017). Một số nghiên 
cứu khác cũng đã cho thấy mối liên quan chặt ở 
giữa nồng độ creatinin huyết thanh cao khi nhập 
viện và nguy cơ THA mãn về sau.
5. Kết luận
Tỷ lệ THA tồn tại sau sinh là 27,5%. Việc theo 
dõi lâu dài cho những sản phụ này là vô cùng 
cần thiết để tránh những biến chứng về sau liên 
quan đến TSG. Các xét nghiệm sinh hóa như AST, 
creatinin máu giúp ích trong vấn đề tiên lượng và 
theo dõi THA tồn tại ở nhóm bệnh nhân này.
Tài liệu tham khảo
1. Bệnh viện Từ Dũ (2015), “Tăng huyết áp trong thai kỳ”, Phác đồ 
diều trị Sản phụ khoa, tr. 79-88.
2. Bộ y tế (2015), “Tiền sản giật - Sản giật”, Hướng dẫn chẩn đoán và 
điều trị các bệnh Sản phụ khoa, tr. 29-34.
3. ACOG (2014), “The American college of Ostetricians and 
Gynecologists”, Hypertension in Prenancy.
4. Annettee Nakimuli, Alison M. Elliott, Pontiano Kaleebu, Ashley Moffett, 
Florence Mirembe (2013), Hypertension Persisting after Pre-Eclampsia: A 
Prospective Cohort Study at Mulago Hospital, Uganda, Plosone, Volume 
8, Issue 12, e85273.
5. Baha M. Sibai (2012), “Etiology and management of postpartum 
hypertension-preeclampsia”, Am J Obstet Gynecol.
6. Baha M Sibai, Severe preeclampsia-eclampsia in young primigravid 
women: Subsequent pregnancy outcome and remote prognosis, DOI: 
10.1016/0002-9378(86)90336-4 ·
7. Baha M Sibai, Severe preeclampsia in the second trimester: 
Recurrence risk and long-term prognosis, DOI: 
S0002-9378(12)90773-5
8. Emmanuel B Ndayambagye, Miriam Nakalembe, Dan K Kaye (2010), 
“Factors associated with persistent hypertension after puerperium among 
women with preeclampsia/ eclampsia in Mulago hospital”, Uganda, 
Ndayambagye et al, BMC Pregnancy and Childbirth, 10:12 
biomedcentral.com/1471-2393/10/12.
9. Fred A English, Louise C Kenny, Fergus P McCarthy (2015), “Risk 
factors and effective management of preeclampsia”, Integrated Blood 
Pressure Control, 8: 7–12.
10. Kate Bramham, Catherine Nelson-Piercy, Morris J Brown, Lucy 
C Chappell (2013), “Postpartum management of hypertension”, BMJ, 
Volume 346.
11. Manju Chandiramani, Andrew Shennan, Jason Waugh (2007), 
“Modern management of postpartum Hypertension”, Trends in Urology 
Gynaecology & Sexual Health.
12. Nisell H, Lintu H, Lunell NO, Möllerström G, Pettersson E. Blood 
pressure and renal function seven years after pregnancy complicated by 
hypertension, Br J Obstet Gynaecol. 1995 Nov;102(11):876-81
13. Praveen Kumar, Jai Bhagwan Sharma (2010), “Hypertensive 
Disorders in Pregnancy”, JIMSA, Vol. 23, No. 4.
14. Rachael P. James, Catherine Nelson-Piercy (2004), “Management of 
hypertension before, during and after pregnancy”, Heart, 90: 1499–1504.
15. SOGC (2014), “The Society of Obstetricians and Gynaecologists of 
Canada”, Diagnosis, Evaluation, and Management of the Hypertensive 
Disorders of Pregnancy: Executive Summary, No. 307 (Replaces No. 
206, March 2008).
16. WHO,International Society of Hypertension(ISH) statement on 
managemnet of Hypertension,Journal of hypertension 2003.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_tang_huyet_ap_ton_tai_o.pdf