Khảo sát một số chỉ số huyết động bằng phương pháp phân tích sóng huyết áp tự động (flotrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị tại khoa hồi sức - Bệnh viện Quân Y 175

Mục tiêu: Khảo sát các chỉ số huyết động: thể tích nhát bóp (SV), biến thiên thể

tích nhát bóp (SVV), cung lượng tim (CO) và sức cản mạch hệ thống (SVR) bằng phương

pháp phân tích sóng huyết áp tự động (FloTrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 31

bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị từ tháng 07/2018 đến tháng 12/ 2019 tại khoa Hồi

sức tích cực bệnh viện Quân y 175.

Kết quả: Dân số nghiên cứu với đặc điểm nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ (Nam/nữ=

1,21/1), tuổi trung bình là 57,48 ± 14,62. Các bệnh nhân đưa vào đối tượng nghiên cứu

trong tình trạng tổn thương đa cơ quan nặng với điểm APACHE 26,74±6,22 và điểm

SOFA là 9,26±2,85. Tỉ lệ tử vong là 64,5%. Tại thởi điểm T0, có 48,4% bệnh nhân giảm

sức cản mạch hệ thống với giá trị SVR là 829,16±293,4 ds.cm-5, 61,3% bệnh nhân có

tình trạng thiếu dịch với biến thiên thể tích nhát bóp SVV trung bình là 14,42±7,36%.

Có 61,3% bệnh nhân biểu hiện giảm thể tích nhát bóp SV nhưng cung lượng tim CO vẫn

trong giới hạn bình thường. SVR và SVV thay đổi không ý nghĩa trong khi có sự cải thiện

SV và CO có ý nghĩa tại những thời điểm sau của nghiên cứu

pdf 11 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát một số chỉ số huyết động bằng phương pháp phân tích sóng huyết áp tự động (flotrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị tại khoa hồi sức - Bệnh viện Quân Y 175", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát một số chỉ số huyết động bằng phương pháp phân tích sóng huyết áp tự động (flotrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị tại khoa hồi sức - Bệnh viện Quân Y 175

Khảo sát một số chỉ số huyết động bằng phương pháp phân tích sóng huyết áp tự động (flotrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị tại khoa hồi sức - Bệnh viện Quân Y 175
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
5
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Trần Quốc Việt ([email protected])
Ngày nhận bài: 20/3/2020, ngày phản biện: 28/3/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT ĐỘNG BẰNG 
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SÓNG HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG 
(FLOTRAC) Ở BỆNH NHÂN SỐC NHIỄM KHUẨN ĐIỀU TRỊ 
TẠI KHOA HỒI SỨC - BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Trần Quốc Việt1, Nguyễn Đức Thành1, Vũ Đình Ân1, 
Diệp Hồng Kháng1, Đinh Văn Hồng1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát các chỉ số huyết động: thể tích nhát bóp (SV), biến thiên thể 
tích nhát bóp (SVV), cung lượng tim (CO) và sức cản mạch hệ thống (SVR) bằng phương 
pháp phân tích sóng huyết áp tự động (FloTrac) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 31 
bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn điều trị từ tháng 07/2018 đến tháng 12/ 2019 tại khoa Hồi 
sức tích cực bệnh viện Quân y 175.
Kết quả: Dân số nghiên cứu với đặc điểm nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ (Nam/nữ= 
1,21/1), tuổi trung bình là 57,48 ± 14,62. Các bệnh nhân đưa vào đối tượng nghiên cứu 
trong tình trạng tổn thương đa cơ quan nặng với điểm APACHE 26,74±6,22 và điểm 
SOFA là 9,26±2,85. Tỉ lệ tử vong là 64,5%. Tại thởi điểm T
0
, có 48,4% bệnh nhân giảm 
sức cản mạch hệ thống với giá trị SVR là 829,16±293,4 ds.cm-5, 61,3% bệnh nhân có 
tình trạng thiếu dịch với biến thiên thể tích nhát bóp SVV trung bình là 14,42±7,36%. 
Có 61,3% bệnh nhân biểu hiện giảm thể tích nhát bóp SV nhưng cung lượng tim CO vẫn 
trong giới hạn bình thường. SVR và SVV thay đổi không ý nghĩa trong khi có sự cải thiện 
SV và CO có ý nghĩa tại những thời điểm sau của nghiên cứu.
Kết luận: Bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn trong nghiên cứu có tình trạng thiếu dịch, 
giảm sức cản mạch hệ thống, đi kèm với giảm thể tích nhát bóp, nhưng cung lượng tim 
không thay đổi. Theo dõi các chỉ số huyết động phương pháp phân tích sóng huyết áp 
tự động (FloTrac) có ý nghĩa trong chẩn đoán thiếu dịch và hướng dẫn bù dịch, điều 
chỉnh vận mạch.
Từ khóa: sốc nhiễm khuẩn, chỉ số huyết động.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
6
ASSESSMENT OF HEMODYNAMIC INDICES BY THE SELF-TEST 
ARTERIAL PRESSURE WAVEFORM ANALYSIS (FLOTRAC) SYSTEM IN 
PATIENTS WITH SEPTIC SHOCK TREATED IN THE INTENSIVE CARE 
UNIT – MILITARY HOSPITAL 175
ABSTRACT
Objectives: Investigation of hemodynamic indices: stroke volume (SV), stroke 
volume variation (SVV), cardiac output (CO) and systemic vascular resistance (SVR) by 
the self-test arterial pressure waveform analysis (FloTrac) system in patients with septic 
shock.
Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study on 31 patients with 
septic shock from January 2019 to December 2019 in the Intensive care unit of Military 
Hospital 175.
Results: The proportion of males is higher than that of females (male/female = 
1.21/1) and the median age is 57.48 ± 14.62 years in the population. Patients included 
in the study were in severe multiorgan dysfunction with APACHE II score of 26.74 ± 
6.22 and SOFA score of 9.26 ± 2.85. The mortality is 64.5%. At the time of T
0
, 48.4% 
of patients had low systemic vascular resistance with the SVR value of 829.16 ± 293.4 
ds.cm-5, more than half (61.3%) of patients experienced hypovolemia with SVV average 
is 14.42 ± 7.36%. There were 61.3% of patients showed a decrease in SV but CO was still 
within normal limits. SVR and SVV varied insignificantly while there was a significant 
improvement in SV and CO at later times of the study.
Conclusions: Patients with septic shock in the study experienced hypovolemia, 
low systemic vascular resistance, accompanied by a decrease in the stroke volume, but 
the cardiac output did not change. Essessment of hemodynamic indices by FloTrac is 
significant in the diagnosis of hypovolemia and the prediction of fluid responsiveness as 
well as vasopressors adjustment.
Keywords: septic shock, hemodynamic indices.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dõi các chỉ số huyết động 
trên bệnh nhân sốc luôn là mối quan tâm 
hàng đầu của các thầy thuốc lâm sàng. Sốc 
nhiễm khuẩn là một bệnh lý nặng đặc trưng 
bởi sự giảm tưới máu mô do nhiều cơ chế 
kết hợp, trong đó có sự giãn mạch ngoại 
biên, thoát mạch, giảm khối lượng tuần 
hoàn và tổn thương làm giảm sức co bóp 
của cơ tim. Các rối loạn trên có thể được 
lượng hóa bởi các chỉ số: sức cản mạch 
máu hệ thống (SVR), biến thiên thể tích 
nhát bóp (SVV), thể tích nhát bóp (SV) và 
cung lượng tim (CO)[7]. Việc theo dõi liên 
tục và đánh giá một cách chính xác các chỉ 
số này góp phần đưa ra các quyết định điều 
trị hợp lý, kịp thời cho bệnh nhân sẽ góp 
phần nâng cao kết quả điều trị, giảm tỉ lệ 
biến chứng và tử vong.
Từ những năm cuối thập kỷ 80 của 
thế kỷ trước, kỹ thuật đo áp lực mao mạch 
phổi bít qua catheter Swann-Ganz đã được 
áp dụng và sau đó trở thành “tiêu chuẩn 
vàng” trong đánh giá cung lượng tim và 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
7
theo dõi huyết động cao cấp. Tuy nhiên các 
vấn đề liên quan đến kỹ thuật, giá thành và 
đặc biệt là một số biến chứng nặng có thể 
xảy ra khi sử dụng kỹ thuật này đã làm hạn 
chế khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực 
hành lâm sàng.
Phân tích sóng huyết áp tự động 
(FloTrac) là một trong các kỹ thuật theo 
dõi huyết động ít xâm lấn đã khắc phục 
được những hạn chế trên của catherter 
Swann-Ganz và ngày càng chứng minh 
tính chính xác và khả thi của nó. FloTrac 
được thực hiện theo nguyên lý phân tích 
sóng huyết áp tự động để cho ra giá trị các 
chỉ số huyết động. 
Ở nước ta kỹ thuật FloTrac mới 
được áp dụng trong vài năm gần đây tại 
phòng mổ ở một số Bệnh viện nhưng chưa 
có các nghiên cứu cơ bản, đầy đủ trong 
lĩnh vực hồi sức nội khoa. Do vậy, chúng 
tôi thực hiện đề tài này nhằm: Khảo sát 
một số chỉ số huyết động ở bệnh nhân sốc 
nhiễm khuẩn bằng phương pháp phân tích 
sóng huyết áp tự động FloTrac.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
- Bệnh nhân trên 16 tuổi
- Được chẩn đoán sốc nhiễm 
khuẩn theo tiêu chuẩn Sepsis-3
- Bệnh nhân được thở máy kiểm 
soát.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán sốc 
nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết 
theo Sepsis-3 năm 2016 (The Third 
International Consensus Definitions for 
Sepsis & Septic Shock) [9]
Bệnh nhân được chẩn đoán sốc 
nhiễm khuẩn khi có tình trạng nhiễm 
khuẩn huyết kèm theo tụt Huyết áp (Huyết 
áp trung bình< 65mmHg) không đáp ứng 
với bù dịch, phải sử dụng vận mạch và 
nồng độ lactat máu lớn hơn 2 mmol/l.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm 
khuẩn huyết: khi có rối loạn chức năng 
đa tạng (SOFA >2) kèm theo tình trạng 
nhiễm khuẩn
- Dấu hiệu nhiễm khuẩn: 
+ Sốt > 38,30C hoặc hạ thân nhiệt 
< 360C
+ Bạch cầu > 12000/µl hoặc < 
4000/ µl
+ PCT > 2 ng/ml
- Thang điểm SOFA
Điểm SOFA 0 1 2 3 4
Hô hấp PaO2/
FiO2
≥ 400 < 400 < 300 < 200 có hỗ trợ hô hấp
< 100 có hỗ 
trợ hô hấp
Đông máu
Tiểu cầu 
(103/mm3)
≥ 150 < 150 < 100 <50 < 20
Gan
Bilirubin 
(mg/dl)
 12,0
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
8
Tim mạch 
Hạ huyết áp 
(mmHg) 
Liều 
catecholamine 
mcg/kg/ph
MAP 
≥ 70
MAP 
< 70
Dopamine
≤ 5 
hoặc 
dobutamine 
(liều bất 
kỳ)
Dopamine
5,1-15 
hoặc 
Epinephrine
≤ 0,1 
hoặc 
Noradrenaline
< 0,1
Dopamine > 15 
hoặc 
Epinephrine > 
0,1 
hoặc 
Noradrenaline
> 0,1
Thần kinh TW 
Điểm hôn mê 
Glasgow
15 13-14 10-12 6-9 < 6
Thận
Creatinine (mg/
dl) 
hoặc nước tiểu 
(ml/ngày)
< 1,2 1,2-1,9 2,0-3,4
3,5-4,9
hoặc 5,0hoặc < 200
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có chống chỉ định đặt catheter 
tĩnh mạch trung tâm, catheter động mạch: 
nhiễm trùng tại chỗ, rối loạn đông máu 
nặng.
- Bệnh nhân có rối loạn nhịp nặng, 
có luồng thông lớn giữa tim trái và tim 
phải.
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 
- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang
- Các chỉ số huyết động được ghi 
nhận tại thời điểm lắp đặt Flotrac (T0) và 
các thời điểm sau 1 giờ (T1), 3giờ (T3), 6 
giờ (T6), 12 giờ (T12), 24 giờ (T24) và 48 
giờ (T48).
2.3 Xử lí số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý 
bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0. Các 
thuật toán sử dụng trong nghiên cứu như 
sau:
- Tính giá trị trung bình và độ lệch 
chuẩn ( X ±SD), tính tỷ lệ phần trăm (%)
- So sánh 2 số trung bình bằng test 
“t-student”
- So sánh 2 tỷ lệ bằng test χ2
- Xác định giá trị khác biệt có ý 
nghĩa thống kê khi p < 0,05.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm về phân bố tuổi, giới
n %
Giới
Nam 17 54,8
Nữ 14 45,2
Tuổi ( X ± SD) 57,48 ± 14,62
Nhận xét: Nam giới chiếm tỉ lệ nhiều hơn nữ (Nam/nữ = 1,21/1), tuổi trung bình 
là 57,48±14,62. 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
9
Bảng 3.2 Đặc điểm rối loạn chức năng tạng, điểm APACHE II, SOFA
Rối loạn chức năng cơ quan (n=31) n %
Tuần hoàn 25 80,6
Hô hấp 21 67,7
Gan 15 48,4
Thận 22 71
Huyết học 5 16,1
Glasgow (điểm) 11,71±4,76
APACHE II (điểm) 26,74±6,22
SOFA (điểm) 9,26±2,85
Nhận xét: Tổn thương tạng thường gặp nhiều nhất trong sốc nhiễm khuẩn là suy 
tuần hoàn (80,6%), tiếp theo hay gặp là suy các cơ quan thận, hô hấp, gan và huyết học.
Điểm APACHE II và SOFA lần lượt là 26,74±6,22 và 9,26±2,85
3.2 Đặc điểm các chỉ số huyết động
Bảng 3.3 Đặc điểm các chỉ số huyết động tại thời điểm T0
Chỉ số
Thấp Bình thường Cao
n % n % n %
SVR
(800-1200d.s.cm-5)
15 48,4 16 51,6 0 0
SV
(60-100ml)
19 61,3 12 38,7 0 0
SVV
(10-13%)
11 35,5 1 3,2 19 61,3
CO
(4-8L/min)
5 16,1 26 83,9 0 0
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân có tăng biến thiên thể tích nhát bóp SVV chiếm 61,3% 
và giảm sức cản mạch hệ thống SVR là 48,4 %. Có 61,3% bệnh nhân có biểu hiện giảm thể tích 
nhát bóp SV, nhưng cung lượng tim CO đa số trong giới hạn bình thường (83,9%). 
Bảng 3.4 Đặc điểm các chỉ số huyết động theo thời gian
Chỉ số
(n=31)
T0 T6 T12 T24 P
CO 5,47±1,65 6,25±2,15 5,83±1,99 5,95±2,19 < 0,05
SV 46,16±14,02 57,94±17,2 55,13±15,13 59,36±20,11 < 0,05
SVV 14,42±7,36 11,65±6,75 10,47±5,02 10,89±4,35 > 0,05
SVR 829,16±293,43 884,13±336,02 985,3±372,49 923,04±256,63 > 0,05
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
10
Nhận xét: Trong sốc nhiễm khuẩn, tại thời điểm ban đầu, thường có thiếu dịch 
(SVV = 14,42±7,36), Chỉ số SV thấp (46,16±14,02) nhưng CO bình thường, giá trị trung 
bình của SVR vẫn trong giới hạn bình thường (829,16±293,43). Tại những thời điểm sau 
(T6, T12, T24) của nghiên cứu, các chỉ số CO và SV thay đổi có ý nghĩa (p < 0,05) trong 
khi sự thay đổi của các chỉ số SVV, SVR không có ý nghĩa (p> 0,05)
Bảng 3.5 Đặc điểm về thuốc vận mạch
STT Tên thuốc
(n=31)
n %
1 Dobutamin 29 93,5
2 Noradrenalin 29 93,5
3 Adrenalin 14 45,1
4 Dopamin 1 3,2
Nhận xét: Dobutamin và Noradrenalin được sử dụng rất thường xuyên ở bệnh 
nhân sốc nhiễm khuẩn với tỉ lệ tương đương là 93,5%. Adrenalin là 45,1% và Dopamin 
là 3,2%.
Bảng 3.6. Đặc điểm về phối hợp thuốc vận mạch
Phối hợp thuốc
SỐC NK (n=31)
N %
Dobutamin Noradrenalin 15 48,3
Dobutamin Noradrenalin
Adrenalin
15 48,3
Dobutamin
Noradrenalin
Dopamin 1 3,2
Nhận xét: Bệnh nhân được phối hợp 2 thuốc (Dobutamin + Noradrenalin) và 
3 thuốc (Dobutamin + Noradrenalin + Adrenalin) la chủ yếu với tỉ lệ 48,3%,. Sử dụng 
phối hợp với Dopamin ở 1 ca (3,2%) có rối loạn nhịp chậm.
Biểu đồ 3.1 Liều lượng thuốc Noradrenalin trong sốc nhiễm khuẩn
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
11
Nhận xét: Liều Noradrenalin ban đầu là tương đương nhau ở nhóm BN sống và 
tử vong. Liều giảm dần ở nhóm BN đáp ứng với điều trị và tăng cao ở nhóm BN tử vong. 
Biểu đồ 3.2 Liều lượng thuốc Dobutamin trong sốc nhiễm khuẩn
Nhận xét: liều lượng dobutamin ở 2 nhóm sống và tử vong là tương đương nhau 
cả khi khởi đầu và trong suốt quá trình điều trị (p > 0,05).
3.3 Kết quả điều trị và vai trò của FloTrac
Bảng 3.7 Kết quả điều trị 
Kết quả
SỐC NK
n %
Khỏi 11 35,5
Tử vong 20 64,5
Nhận xét: Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân nghiên cứu là 64,5 %.
Bảng 3. 8 Kết quả nghiệm pháp bù dịch nhanh
Các chỉ số TRƯỚC BÙ DỊCH(n=19)
SAU 3H
(n=19) p
Mạch 126,14±22,92 119,26±20,81 0,27
MAP 49,57±6,94 76,37±16,04 0,001
CVP 14±4,43 14,32±4,37 0,30
CO 5,47±1,65 6,29±2,08 0,04
SV 46,16±14,02 57,71±22,06 0,001
SVV 19,26±4,65 10,6±6,11 0,001
SVR 841,29±324,38 970,67±410,41 0,11
Nhận xét: Thực hiện nghiệm 
pháp bù dịch nhanh cho 19 bệnh nhân có 
biểu hiện thiếu dịch căn cứ vào tăng SVV 
(19,26±4,65), nhận thấy có đáp ứng sau 3h 
ở các chỉ số MAP, CO, SV, SVV với p < 
0,05.
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên 
cứu
Trong dân số nghiên cứu, chúng 
tôi nhận thấy tỉ lệ bệnh nhân nam gặp 
nhiều hơn nữ (1,21/1). Bệnh nhân nam 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
12
thường có nhiều yếu tố nguy cơ cũng như 
tỉ lệ mắc các bệnh lý mạn tính cao hơn so 
với nữ [6]. 
Tuổi của bệnh nhân luôn là một 
chỉ số quan trong trong nhận định đánh giá 
tiên lượng tình trạng bệnh cũng như cân 
nhắc đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi có 
giá trị trung bình là 57,48±14,62. Kết quả 
nghiên cứu về tuổi của các tác giả Phạm 
Quang Tuấn, Hoàng Văn Quang, lần lượt 
là 65,5±12,9, 54±17 [4, 6]. Tuổi càng cao 
đi kèm với sự suy giảm khả năng các cơ 
quan, giảm khả năng bù trừ và thường mắc 
những bệnh mạn tính kèm theo [5]. Số 
lượng bệnh lý mạn tính, tuổi cùng với tình 
trạng tổn thương đa tạng đã được lượng 
hóa trong thang điểm APACHE II, đây là 
một thang điểm được dùng để đánh giá 
tiên lượng cho những bệnh nhân nặng, ở 
các đơn vị hồi sức, điểm APACHE II càng 
cao, tỉ lệ tử vong càng lớn [8]. 
Điểm APACHE II của nhóm dân 
số nghiên cứu là 26,74±6,22, tương đương 
kết quả của một số nghiên cứu khác. Diệp 
Hồng Kháng khi nghiên cứu về hiệu quả 
của lọc máu liên tục ở bệnh nhân điều trị 
tích cực, điểm APACHE II là 23,15±6,01, 
trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất (65,3%) là 
nhóm bệnh nhân có điểm APACHE II từ 
20 đến 30 điểm. Một nghiên cứu khác, 
điểm APACHE II của 102 bệnh nhân suy 
đa tạng được điều trị hồi sức tích cực trong 
nghiên cứu của Hoàng Văn Quang là 26,5 
± 9,4 [4]. Điều này chứng tỏ là những bệnh 
nhân nghiên cứu của chúng tôi vẫn thuộc 
nhóm có tiên lượng nặng, nguy cơ tử vong 
cao.
Ngoài APACHE II, SOFA cũng 
là một thang điểm đánh giá tình trạng tổn 
thương đa tạng được sử dụng phổ biến do 
tính đơn giản nhưng đề cập đầy đủ trên các 
cơ quan như thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, 
gan, thận, tạo máu [13]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, các bệnh nhân biểu hiện suy 
các tạng chiếm tỉ lệ cao, tương ứng với 
điểm SOFA tăng cao với giá trị trung bình 
là 9,26±2,85. (Bảng 3.2) 
4.2. Các chỉ số huyết động
Kết quả ở các bảng 3.3 và 3.4 cho 
thấy, tại thời điểm T0: có 15 bệnh nhân 
(48,4 %) có sức cản mạch hệ thống SVR 
thấp hơn giá trị bình thường và 19 bệnh 
nhân (61,3%) biểu hiện tăng biến thiên thể 
tích nhát bóp SVV, với giá trị trung bình là 
14,42±7,36, đây là những rối loạn đặc trưng 
trong sốc nhiễm khuẩn. Trong sốc nhiễm 
khuẩn, dưới tác dụng của các chất đáp ứng 
viêm hệ thống (các cytokine) sẽ gây ra 
tình trạng giãn mạch làm giảm SVR và tổn 
thương tế bào nội mô gây thoát mạch, làm 
giảm thể tích nội mạch và tăng SVV. Mặc 
dù vậy nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy 
tỉ lệ bệnh nhân có SVR giảm chỉ chiếm 
48,4 %, với SVR= 829,16±293,43, cao 
hơn so với một số nghiên cứu khác. Tác 
giả Cornelis Slagt và cộng sự khi nghiên 
cứu các chỉ số huyết động bằng Flotrac 
ở 19 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, SVR = 
586 ± 169 d.s.cm-5 [10]. Sở dĩ có sự khác 
biệt này có lẽ là do những bệnh nhân sốc 
nhiễm khuẩn trong nghiên cứu của chúng 
tôi khi lắp đặt Flotrac, trước đó đa số đã 
được hồi sức cơ bản , bù dịch và sử dụng 
ít nhất một loại vận mạch (Bảng 3.5) cho 
nên SVR có cao hơn những nghiên cứu 
khác. Ngoài ra, thể tích nhát bóp SV ở 
những bệnh nhân nghiên cứu vẫn biến đổi 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
13
theo hướng thấp hơn giá trị bình thường, 
19 bệnh nhân (61,3%) có thể tích nhát bóp 
nhỏ hơn 60 (SV = 54,19±18,43) (bảng 
3.4). Điều này có thể lý giải như sau: Cung 
lượng tim CO = thể tích nhát bóp (SV) 
x tần số tim. Thể tích nhát bóp (SV) phụ 
thuộc vào sức co bóp của cơ tim và tiền 
gánh, hậu gánh theo định luật Starling. Do 
đó, ngay cả khi cơ tim chưa bị tổn thương, 
ở những bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn đã có 
tình trạng giảm tiền gánh do thiếu dịch và 
giảm hậu gánh do giãn mạch làm cho SV 
thấp. Nhưng do bệnh nhân có sự đáp ứng 
bù trừ bằng cách tăng tần số tim cho nên 
83,9% bệnh nhân có CO vẫn đạt trong giới 
hạn bình thường với CO = 5,47±1,65 ml/
phút. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
hầu hết các bệnh nhân được sử dụng ít nhất 
một loại vận mạch hay inotrope. Trong đó, 
Noradrenalin và Dobutamin là các thuốc 
được sử dụng nhiều nhất. Noradrenalin là 
catecholamin tác động chủ yếu lên thụ cảm 
thể α-adrenergic có ở cơ trơn mạch máu, 
làm co mạch, tăng sức cản mạch hệ thống, 
gây tăng huyết áp. Noradrenalin tác dụng 
lên thụ cảm thể β không đáng kể cho nên 
ít ảnh hưởng đến nhịp tim và sức co bóp 
cơ tim [11, 12]. Tác dụng của noradrenalin 
theo cơ chế đối nghịch với các loại sốc 
phân bố như sốc nhiễm khuẩn. Cho nên, 
theo hướng dẫn của SSC (Surviving 
Sepsis Campaign) từ năm 2012 và tái 
khẳng định vào năm 2016, Noradrenalin 
là lựa chọn đầu tiên trong sử dụng vận 
mạch đối với bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 93,55% 
bệnh nhân được dùng noradrenalin và một 
tỷ lệ tương tự bệnh nhân trong nghiên cứu 
được sử dụng Dobutamin. Dobutamin là 
một loại inotrope tác dụng chủ yếu lên thụ 
cảm thể β
1 
ở tế bào cơ tim, gây tăng nhịp 
tim, tăng sức bóp cơ tim, qua đó làm tăng 
cung lượng tim [12]. Tác giả Lê Hữu Thiện 
Biên, khi nghiên cứu vai trò của các thông 
số huyết động tĩnh trong đánh giá hiệu quả 
của bù dịch trên bệnh nhân nhiễm khuẩn 
huyết và sốc nhiễm khuẩn, có 83,6% bệnh 
nhân sốc nhiễm khuẩn được sử dụng ít nhất 
một loại vận mạch, trong đó có 97,9 % 
được dùng Noradrenalin. Vì noradrenalin 
và dobutamin tác động lên hai khâu khác 
nhau của việc tăng huyết áp cho nên 
thường được sử dụng kết hợp trong kiểm 
soát huyết động. Bởi vì như đã đề cập ở 
những phần trên, trong những giai đoạn 
sau của của những bệnh nhân sốc nhiễm 
khuẩn, suy tuần hoàn là do giảm đồng thời 
sức cản mạch hệ thống và cung lượng tim. 
 Nghiên cứu của chúng tôi cũng 
phân tích tình trạng thiếu dịch tại thời 
điểm T0 và đánh giá sau khi điều chỉnh. 
Căn cứ để nhận định bệnh nhân có đáp ứng 
với bù dịch chúng tôi dựa vào SVV. Kết 
quả bảng 3.8, khi phân tích 19 bệnh nhân 
có biểu hiện thiếu dịch với SVV lúc đầu là 
19,16±4,18%, chúng tôi đã tiến hành bù 
dịch nhanh theo phác đồ trong kiểm soát 
sốc nhiễm khuẩn và đánh giá lại. Nếu như 
các chỉ số mạch, CVP, SVR thay đổi không 
có ý nghĩa thì Huyết áp trung bình, SV, CO 
tăng có ý nghĩa thống kê, riêng chỉ số SVV 
giảm từ 19,16±4,18 về 10,57±2,46 với p = 
0,001.
Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân 
nghiên cứu là 64,5%. Các nghiên cứu khác 
cũng cho những kết quả rất khác nhau về 
tỉ lệ tử vong. Tác giả Diệp Hồng Kháng, 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
14
khi nghiên cứu 72 bệnh nhân nhiễm khuẩn 
huyết và sốc nhiễm khuẩn kèm suy đa tạng 
tiến triển có chỉ định lọc máu liên tục tại 
khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Quân y 
175, tỉ lệ tử vong là 51,4 % [2]. Hoàng Văn 
Quang với đối tượng nghiên cứu tương tự, 
khi nghiên cứu 38 bệnh nhân sốc nhiễm 
khuẩn, suy đa tạng được lọc máu liên tục,tỉ 
lệ tử vong là 55,26% [4]. Các tác giả Lê 
Thị Mỹ Duyên và Đặng Thị Thanh Lan 
khi nghiên cứu về LMLT với các bệnh 
nhân nặng, thực hiện tại khoa Hồi sức 
tích cực – Bệnh viện Nhân dân 115, tỉ lệ 
tử vong trong nghiên cứu của hai tác giả 
này lần lượt là 70%, 40,75% [1, 3]. Lý giải 
sự khác nhau này là do tỉ lệ tử vong của 
các bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn ở khoa 
hồi sức sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như 
tình trạng bệnh lý của BN, các biến chứng 
(nhiễm khuẩn bệnh viện, xuất huyết tiêu 
hóa ...), điều kiện trang thiết bị y tế, cơ sở 
vật chất...
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 31 bệnh nhân sốc 
nhiễm khuẩn, tại thời điểm T0 cho thấy có 
15 bệnh nhân (48,4%) giảm sức cản mạch 
hệ thống với giá trị SVR là 829,16±293,4 
ds cm-5. Có 19 bệnh nhân (61,3% ) biểu 
hiện giảm thể tích nhát bóp SV nhưng 
cung lượng tim CO vẫn trong giới hạn 
bình thường. SVR và SVV thay đổi không 
ý nghĩa trong khi có sự cải thiện SV và CO 
có ý nghĩa tại những thời điểm T6, T12, 
T24. Có 19 bệnh nhân (61,3% ) có tình 
trạng thiếu dịch với biến thiên thể tích nhát 
bóp SVV trung bình là 14,42±7,36 %, tiến 
hành bù dịch cho những bệnh nhân này và 
đánh giá lại tại thời điểm T3 cho thấy có 
sự cải thiện về huyết áp trung bình, SV và 
CO.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thị Mỹ Duyên (2010), 
Nhận xét vai trò của lọc máu liên tục trong 
điều trị suy thận cấp tại khoa Hồi sức tích 
cực, Luận văn cao học, Trường Đại học Y 
dược TP HCM.
2. Diệp Hồng Kháng (2018), 
“Nghiên cứu hiệu quả của lọc máu liên 
tục ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết và sốc 
nhiễm khuẩn điều trị tại khoa hồi sức tích 
cực bệnh viện Quân y 175”, Đề tài nghiệm 
thu kĩ thuật lọc máu liên tục, bệnh viện 
quân y 175.
3. Đặng Thị Thanh Lan (2012), 
So sánh hiệu quả chống đông của Heparin 
và rửa quả trong lọc máu liên tục tại Bệnh 
viên Nhân dân 115, Luận văn chuyên khoa 
II, Đại học y dược Tp Hồ Chí Minh.
4. Hoàng Văn Quang (2009), 
“Nghiên cứu hiệu quả lọc máu liên tục 
thể tích cao điều trị suy đa tạng trong sốc 
nhiễm khuẩn”, Tạp chí y học thực hành TP 
Hồ Chí Minh. 1, tr. 641-642.
5. Nguyễn Văn Trí (2014), 
“Lão khoa, ứng dụng lâm sàng”, Chuyên 
đề tim mạch học- Hội tim mạch học TP Hồ 
Chí Minh, tr. 
quan-cac-van-de-tim-mach-hoc/1117-lao-
khoa-ung-dung-lam-sang.html.
6. Phạm Quang Tuấn (2019), 
Nghiên cứu vai trò chẩn đoán của IMA 
(Ischemia Modified Albumin) huyết thanh 
phối hợp với hs-TROPONIN T ở bệnh 
nhân hội chứng vành cấp., Luận án tiến sĩ, 
Trường Đại học Y Dược- Đại học Huế.
7. Edwards Lifesciences 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
15
Corporation (2014), Normal Hemodynamic 
Parameters – Adult, Irvine, California 
92614 USA, truy cập ngày, tại trang.
8. Knaus W. A. và các cộng sự. 
(1985), “APACHE II: a severity of disease 
classification system”, Crit Care Med. 
13(10), tr. 818-29.
9. Rhodes A. và các cộng sự. 
(2017), “Surviving Sepsis Campaign: 
International Guidelines for Management 
of Sepsis and Septic Shock: 2016”, 
Intensive Care Med. 43(3), tr. 304-377.
10. Slagt C. và các cộng sự. 
(2013), “Cardiac output measured by 
uncalibrated arterial pressure waveform 
analysis by recently released software 
version 3.02 versus thermodilution in 
septic shock”, J Clin Monit Comput. 27(2), 
tr. 171-7.
11. Stratton L., Berlin D. A. 
và Arbo J. E. (2017), “Vasopressors and 
Inotropes in Sepsis”, Emerg Med Clin 
North Am. 35(1), tr. 75-91.
12. VanValkinburgh; Danny và 
Hashm Muhammad F. (2019), Inotropes 
And Vasopressors.
13. Vincent J. L. và các cộng sự. 
(1996), “The SOFA (Sepsis-related Organ 
Failure Assessment) score to describe 
organ dysfunction/failure. On behalf of 
the Working Group on Sepsis-Related 
Problems of the European Society of 
Intensive Care Medicine”, Intensive Care 
Med. 22(7), tr. 707-10.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_mot_so_chi_so_huyet_dong_bang_phuong_phap_phan_tich.pdf