Khảo sát mối tương quan giữa giá trị PAPP-A ở tam cá nguyệt I với đái tháo đường thai kì của phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương

Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nồng độ PAPP-A ở những

bệnh nhân có đái tháo đường thai kì thấp hơn ở các thai phụ không

bị đái tháo đường thai kì nên có thể dựa vào chỉ số PAPP-A ở tam cá

nguyệt I để sàng lọc sớm hơn những bệnh nhân có nguy cơ cao đái tháo

đường thai kì.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ đái tháo đường thai kì đến khám

tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương. Xác định mối tương quan giữa

nồng độ PAPP-A và đái tháo đường thai kì và ngưỡng giá trị PAPP-A

dùng để tiên lượng cho đái tháo đường thai kì.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các thai phụ (tuổi thai từ 11-13 tuần

6 ngày) chưa được chẩn đoán đái tháo đường và đồng ý tham gia nghiên

cứu sẽ làm xét nghiệm PAPP-A và dung nạp 75gram glucose (OTTG)

khi tuổi thai từ 24-28 tuần 6 ngày. Các thông tin có liên quan đến đái tháo

đường thai kì được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn lúc làm xét

nghiệm PAPP-A. Phân tích số liệu bằng phần mềm STATA 10.0.

 

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát mối tương quan giữa giá trị PAPP-A ở tam cá nguyệt I với đái tháo đường thai kì của phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát mối tương quan giữa giá trị PAPP-A ở tam cá nguyệt I với đái tháo đường thai kì của phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương

Khảo sát mối tương quan giữa giá trị PAPP-A ở tam cá nguyệt I với đái tháo đường thai kì của phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương
NGUYỄN LÊ HUYỀN THANH 
48
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Lê Huyền Thanh 
Bệnh Viện Phụ Sản Nhi Bình Dương
KHẢO SÁT MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁ TRỊ PAPP-A 
Ở TAM CÁ NGUYỆT I VỚI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KÌ 
CỦA PHỤ NỮ MANG THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN NHI BÌNH DƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Lê Huyền Thanh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Keywords: First trimester 
screening, Pregnancy-
associated plasma protein A 
(PAPP-A)
Tóm tắt
Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nồng độ PAPP-A ở những 
bệnh nhân có đái tháo đường thai kì thấp hơn ở các thai phụ không 
bị đái tháo đường thai kì nên có thể dựa vào chỉ số PAPP-A ở tam cá 
nguyệt I để sàng lọc sớm hơn những bệnh nhân có nguy cơ cao đái tháo 
đường thai kì. 
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ đái tháo đường thai kì đến khám 
tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương. Xác định mối tương quan giữa 
nồng độ PAPP-A và đái tháo đường thai kì và ngưỡng giá trị PAPP-A 
dùng để tiên lượng cho đái tháo đường thai kì. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các thai phụ (tuổi thai từ 11-13 tuần 
6 ngày) chưa được chẩn đoán đái tháo đường và đồng ý tham gia nghiên 
cứu sẽ làm xét nghiệm PAPP-A và dung nạp 75gram glucose (OTTG) 
khi tuổi thai từ 24-28 tuần 6 ngày. Các thông tin có liên quan đến đái tháo 
đường thai kì được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn lúc làm xét 
nghiệm PAPP-A. Phân tích số liệu bằng phần mềm STATA 10.0. 
Kết quả: Từ 7/2015 - 6/2016, chúng tôi nhận được 103 ca có đái tháo 
đường thai kì trong tổng số 474 ca. Giá trị trung bình PAPP-A ở nhóm 
có đái tháo đường thai kì là 0,802 ± 0,027 MoM và nhóm không GDM 
là 1,185 ± 0,025 MoM (p<0,001). Diện tích dưới đường cong (AUC) là 
0,7747 (CI95%: 0,73-0,82, p<0,001). J = 0,3477, tương ứng với PAPP-A 
là 0,74 MoM, Se = 49%; Sp = 86%. 
Kết luận: Tỉ lệ đái tháo đường thai kì là 27,8%. Có mối tương quan 
giữa nồng độ PAPP-A thấp và đái tháo đường thai kì, ngưỡng tiên lượng 
đái tháo đường thai kì là dưới 0,74 MoM.
Abstract 
Background: There are several studies which demonstrate that low 
PAPP-A levels at the first trimester correlate with GDM. If there is a link 
between PAPP-A and GDM, we can use the value of PAPP-A as a high-risk 
factor to screen GDM in early pregnant. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
49
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 48 - 53, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Objective: This study aimed to find out whether PAPP-A is associated with GDM and the cut-off of 
PAPP-A for prognosis GDM. 
Materials and Methods: Pregnant womens who were not diagnosed with diabetes, agree to participate 
in the study are tested for PAPP-A (ages 11-13 weeks 6 days) and were performed 75grams of glucose 
tolerance test (OTTG) at gestational age of 24 - 28 weeks 6 days. Information related to GDM is collected 
through the PAPP-A interview questionaire. Using STATA 10.0 software for analysis. 
Results: From 7/2015 to 6/2016, we received 103 cases with GDM in total of 474 cases. Mean 
PAPP-A in the GDM group is 0.802 ± 0.027 MoM and the non-GDM group is 1.185 ± 0.025 MoM 
(p <0.001). The area under the curve (AUC) is 0.7747 (CI95%: 0.73-0.82, p <0.001). J = 0.3477, 
corresponding to PAPP-A 0.74 MoM, Se = 49%; Sp = 86%. In the 1247 cases included in in the study 
screened OTTG, the positive rate was 347 cases (27.8%). 
Conclusion: Low PAPP-A increases the risk of GDM. Threshold was less than 0.74 MoM. The 
prevalence of GDM is found at 27.8%.
Keywords: First trimester screening, Pregnancy-associated plasma protein A (PAPP-A).
1. Đặt vấn đề
Đái tháo đường thai kỳ (Gestational diabetes 
mellitus - GDM) đang ngày càng gia tăng, nhất là khu 
vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. 
Đái tháo đường xảy ra khi mang thai thường không có 
triệu chứng nhưng lại có thể gây ảnh hưởng rất nguy 
hiểm cho mẹ và thai nhi. Đối với mẹ, GDM có thể gây 
bệnh lý thận, tiền sản giật, bệnh lý tim mạch Nếu 
không được phát hiện và hướng dẫn một chế độ ăn 
uống, sinh hoạt hợp lý, điều trị đúng thai phụ sẽ có 
thể tiến triển thành bệnh đái tháo đường sau này. Đối 
với con có thể gây sẩy thai, thai dị tật, con to, vàng da 
nặng, hạ glucose máu sơ sinh, hạ canxi máu sơ sinh, 
đa hồng cầu, hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh, con 
của những bà mẹ GDM bị tăng nguy cơ béo phì, tăng 
nguy cơ ĐTĐ type II về sau. 
GDM xảy ra khi lượng Insulin tạo ra không đáp 
ứng đủ nhu cầu của cơ thể trong quá trình mang 
thai. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra thai phụ GDM có 
sự nhạy cảm với Insulin thấp hơn so với các thai 
phụ bình thường ngay từ tuần thứ 12-14 của thai 
kỳ. Kháng insulin giảm nhẹ ở đầu thai kỳ (thấp 
nhất vào tuần thứ 8), tăng dần từ nửa sau thai kỳ 
cho đến trước khi đẻ và giảm nhanh sau đẻ [7]. 
Các yếu tố nguy cơ gây GDM hay gặp là: tuổi mẹ, 
BMI, chủng tộc, tiền sử gia đình có ĐTĐ, tiền sử đẻ 
con to, tiền sử bất thường về dung nạp glucose, 
tăng cân quá nhiều trong thai kỳ 
Trong những năm gần đây trên thế giới đã 
có những nghiên cứu chứng minh rằng nồng độ 
PAPP-A ở những bệnh nhân có GDM thấp hơn ở 
các thai phụ không bị GDM [3], [5], [11]. Nếu giữa 
PAPP-A và GDM có mối liên quan thì có thể dựa 
vào chỉ số PAPP-A để sàng lọc sớm hơn những bệnh 
nhân có nguy cơ cao GDM, và bác sĩ dựa vào đó 
có những tư vấn và điều trị kịp thời phù hợp cho thai 
phụ để đem đến kết cục tốt đẹp cho mẹ và bé. 
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định tỉ lệ GDM ở phụ nữ mang thai đến 
khám tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương.
2. Xác định mối tương quan giữa nồng độ 
PAPP-A ở tam cá nguyệt I và GDM và ngưỡng giá 
trị PAPP-A cho tiên lượng GDM.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu. Cỡ mẫu 
gồm 447 trường hợp thai phụ 11-13 tuần 6 ngày 
NGUYỄN LÊ HUYỀN THANH 
50
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
chưa được chẩn đoán đái tháo đường đến khám 
tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương từ 7/2015 
- 6/2016, có làm xét nghiệm PAPP-A và đồng ý 
tham gia nghiên cứu. Loại trừ các trường hợp đa 
thai, có tiền sử đái tháo đường, mang các dị tật 
được phát hiện do lệch bội, sử dụng rượu, chất kích 
thích, uống thuốc corticoid trong thời gian dài. 
Các thai phụ được chọn sẽ được thực hiện xét 
nghiệm dung nạp đường 75gram (OTTG) khi tuổi 
thai từ 24 - 28 tuần 6 ngày. 
PAPP-A được định lượng bằng phương pháp 
ELISA, máy ETIMAX 3000, thuốc thử của công ty 
Zentech và được hiệu chỉnh theo MoM bằng phần 
mềm T21. Đường huyết được định lượng bằng máy 
Hitachi 7080, thuốc thử GLUCOSE FL của công ty 
Chema Diagnostica. 
Chẩn đoán GDM khi kết quả dung nạp có ≥1 
giá trị đưỡng huyết vượt ngưỡng (tiêu chuẩn IADPSG 
2013): đường huyết đói ≥ 92 mg/dl (5,1 mmol/L); 
đường huyết 1 giờ: ≥ 180 mg/dl (10 mmol/L); 
đường huyết 2 giờ: ≥ 153 mg/dl (8,5 mmol/L). 
Các thông tin có liên quan đến bệnh GDM được 
thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn lúc 
làm xét nghiệm PAPP-A. Phân tích số liệu bằng 
phần mềm STATA 10.0; khoảng tin cậy 95%.
3. Kết quả 
Từ 07/2015 đến 06/2016, chúng tôi đã thu 
nhận được 474 ca thỏa điều kiện nhận vào. Các 
thai phụ đến từ khắp nơi trong tỉnh. Đa phần các 
thai phụ đến khám là ở Thủ Dầu Một (22,95%,) và 
các quận huyện quanh bệnh viện như Thuận An, Tân 
Uyên, Bến Cát. Thai phụ đến khám đa phần là dân 
tộc Kinh (97,89%), vài trường hợp là dân tộc Hoa và 
một trường hợp là dân tộc Chăm. Nhóm tuổi chiếm 
đa số là từ 26–35 tuổi (65,82%), kế đến là nhóm từ 
20 – 25 tuổi (26,37%), chỉ có 6 trường hợp ở nhóm 
< 20 tuổi (1,27%). Về nghề nghiệp, thành phần lao 
động trí óc và lao động chân tay tương đương nhau 
và nhóm nội trợ chiếm tỷ lệ khá lớn (49,58%). Có 
56 ca hút thuốc thụ động chiếm 11,81%; không có 
trường hợp nào hút thuốc chủ động.
Về tiền sử bản thân, có 69 bệnh nhân có tiền 
sử thai sẩy - lưu (14,56%), có 225 chị sinh con 
rạ (47,47%), có 21 trường hợp sinh con nặng cân 
(4,43%), có 6 trường hợp mẹ nặng cân (≥ 69kg), 
chiếm 1,27%. Về tiền sử gia đình, có 9 ca có người 
nhà bị đái tháo đường (1,9%). 
So sánh giá trị trung bình PAPP-A giữa 2 nhóm 
có và không có GDM, cho thấy nồng độ PAPP-A 
trung bình ở nhóm có GDM là 0,802 ± 0,027 MoM 
và nhóm không GDM là 1,185 ± 0,025 MoM (p < 
0,001), khác biệt có ý nghĩa thống kê. Như vậy có thể 
kết luận rằng PAPP-A thấp có liên quan đến GDM. 
Chúng tôi vẽ đường cong ROC dựa trên mối liên 
quan giữa PAPP-A và GDM. Diện tích dưới đường 
cong (AUC) là 0,7747 (CI 95%: 0,73 – 0,82, p < 
0,001). Điều này có nghĩa là xác suất mà người 
có bệnh có kết quả xét nghiệm với giá trị cao hơn 
người không mắc bệnh là 77,47% (Hình 1). 
Để xác định giá trị PAPP-A nào có độ nhạy và độ 
đặc hiệu cao nhất, chúng tôi tính chỉ số Youden (J) = 
max (Se+Sp -1) với Se (sensitivit) là độ nhạy và Sp 
(specificity) là độ đặc hiệu. J = 0,3477, tương ứng với 
PAPP-A là 0,74 MoM, Se = 49% và Sp = 86%. 
Chỉ số tiên lượng dương PPV là 0,4854. Như 
vậy, nếu một bệnh nhân có kết quả xét nghiệm 
PAPP-A ≤ 0,74 MoM thì xác suất mà cá nhân đó 
mắc bệnh GDM là 48,54 %. Tỉ lệ âm tính giả là 
51%, tỉ lệ dương tính giả là 14%. 
Tỉ số dương tính khả dĩ (likelihood ratio positive 
- LR+) là 3,44. Như vậy, nếu kết quả xét nghiệm 
Thông số
Cỡ mẫu Trung bình PAPP-A (MoM)
P valueNhóm không 
GDM
Nhóm có 
GDM
Nhóm không 
GDM
Nhóm có 
GDM
PAPP-A 371 103 1,185±0,025 0,802 ±0,027 < 0,0001
Bảng 1. Giá trị trung bình PAPP-A giữa 2 nhóm có và không có GDM
Hình 1. Đường cong ROC thể hiện mối tương quan giữa PAPP-A và GDM.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 48 - 53, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
PAPP-A ≤ 0,74 MoM thì khả năng thai phụ bị 
GDM cao hơn là dương tính giả đến gần 3,5 lần. 
Như vậy, PAPP-A ≤ 0,74 MoM là một yếu tố nguy 
cơ cao của GDM. 
Phân tích hồi qui đơn biến mối liên quan GDM 
và PAPP-A tại ngưỡng 0,74 MoM cho thấy nhóm 
PAPP-A ≤ 0,74 MoM có nguy cơ GDM gấp 5,79 
lần (OR = 5,79; CI 95%: 3,56 – 9,40; p = 0,000). 
4. Bàn luận
Trong thời gian nghiên cứu, tổng cộng có 1247 
bệnh nhân tham gia tầm soát GDM tại bệnh viện. 
Trong đó, 347 ca có GDM, chiếm 27,8 % và tỉ lệ 
này có sự thay đổi lớn giữa các nghiên cứu đã công 
bố. So với các nghiên cứu trong nước, chúng tôi 
ghi nhận hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, tỉ lệ GDM 
ngày càng tăng. Năm 2004, Ngô Thị Kim Phụng 
và cộng sự [9] công bố tỉ lệ này là 3,97%, đến 
năm 2007 tỉ lệ này đã tăng gần gấp đôi (Lê Thị 
Minh Phú và cộng sự [6]) và năm 2015 là 11,7% 
(Nguyễn Khoa Diệu Vân và cộng sự [10]). Các 
nghiên cứu được tiến hành ở hai thành phố lớn 
của cả nước, nơi tập trung sinh sống của đông đảo 
dân cư và tỉ lệ dân nhập cư cao nên con số này 
chung qui cũng đang phản ánh đúng thực trạng 
các thai phụ mắc GDM ở Viêt Nam. Thứ hai, sự 
thay đổi về tiêu chuẩn chẩn đoán cũng làm thay 
đổi tỉ lệ GDM. Nguyễn Khoa Diệu Vân và cộng 
sự đã làm một phép so sánh giữa tiêu chuẩn ADA 
2010 và ADA 2011 cho thấy chuẩn mới ADA 
2011 đã làm tăng tỉ lệ GDM hơn 3 lần. Trân và 
cộng sự [16] đã so sánh GDM giữa các tiêu chuẩn 
ADA (American Diabetes Association) 2010, 
IADPSG (International Association of Diabetes and 
Pregnancy Study Groups) 2010, WHO (World 
Health Organization) 1999 và ADIPS (Australasian 
Diabetes in Pregnancy Society) 1998 cho thấy 
rằng kết quả có sự khác biệt lớn, tỉ lệ này thay đổi 
từ 5,9%, 20,4%, 24,3% và 20,8% theo thứ tự. So 
với các kết quả nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam 
nằm trong vùng có tỉ lệ GDM cao. 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy rằng giá 
trị PAPP-A ở tam cá nguyệt I giảm ở những phụ nữ 
được chẩn đoán là GDM và đây là một yếu tố độc 
lập. Khi phân tích đa biến yếu tố PAPP-A ≤ 0,74 
MoM với GDM, sức mạnh dự đoán GDM có tăng 
lên (OR = 6,28, CI 95% = 3,76-10,49; p < 0,001), 
tuy nhiên sức mạnh dự đoán của các yếu tố nguy 
cơ mẹ không được cải thiện.
So sánh với các nghiên cứu được công bố 
từ năm 2012 đến nay về mối liên quan giữa 
PAPP-A và GDM (Bảng 2), có 6 nghiên cứu đồng 
thuận rằng giá trị PAPP-A ở nhóm có GDM thấp 
hơn nhóm không GDM. Các nghiên cứu này cho 
thấy giá trị PAPP-A ở nhóm GDM giảm từ 5,1-
33,8%. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giá trị 
PAPP-A giảm 32,3% so với nhóm không GDM, 
phù hợp với kết quả các nghiên cứu trước đây. 
Điều này có thể là do PAPP-A tham gia vào quá 
trình hoạt hóa IGF-I bằng cách phân cắt phức 
hợp IGF-I và IGFBPs, nồng độ PAPP-A giảm dẫn 
đến nồng độ IGF-I thấp gây ra tăng Insulin máu 
và cơ thể giải phóng đường huyết bất thường 
gây ảnh hưởng tiêu cực tới tính kháng Insulin 
[13]. Những điều này có thể lý giải vì sao phụ 
nữ mang thai bị GDM có giá trị PAPP-A giảm 
trong tam cá nguyệt I. Tuy nhiên, cũng có một số 
ý kiến trái chiều. Savvidou và cộng sự, Husslein 
và cộng sự và Cheuk và cộng sự lại công bố rằng 
mức giảm của PAPP-A ở nhóm GDM không có ý 
nghĩa thống kê. 
Các nghiên cứu đồng thuận cũng cho rằng 
mức PAPP-A thấp cơ thể sử dụng để dự đoán 
Nghiên cứu
Cỡ mẫu PAPP-A (MoM)
P valueNhóm 
không GDM
Nhóm 
có GDM
Nhóm không 
GDM Nhóm có GDM
Savvidou và cộng sự, 
2012 [12] 41007 779 1,00 ± 0,37 0,94 ± 0,37 > 0,05
Husslein và cộng sự, 
2012 [4] 216 72 1,13 ± 0,58 1,17 ± 0,71 > 0,05
Spencer và cộng sự, 
2013 [14] 6559 870 1 0,91 < 0,001
Lâm Hoàng Duy và 
cộng sự, 2013 [5] 240 240 1,166 0,772 < 0,001
Lovati và cộng sự, 
2013 [8] 366 307 1,3 ± 0,6 0,9 ± 0,6 < 0,05
Beneventi và cộng sự, 
2014 [1] 112 112 1,12 ± 0,64 1,06 ± 0,59 < 0,05
Syngelaki và cộng sự, 
2015 [15] 30438 787
1
(0,994 -1,006)
0,949
(0,913 -0,987) < 0,05
Cheuk QK và cộng sự, 
2016 [2] 351 169 0,99 ± 0,385 0,97 ± 0,335 0,4
Xiao D và cộng sự, 
2017 [17] 986 599 0,97 ± 0,35 0,88 ± 0,34 < 0,001
Nghiên cứu của 
chúng tôi 371 103 1,185 ± 0,025 0,802 ± 0,027
< 
0,0001
Bảng 2. So sánh giá trị trung bình PAPP-A ở tam cá nguyệt I giữa 2 nhóm có và không có 
GDM với các nghiên cứu khác đã công bố
NGUYỄN LÊ HUYỀN THANH 
52
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
GDM trong tam cá nguyệt I nhưng ý kiến của 
họ lại khá trái ngược. Syngelaki và cộng sự cho 
rằng PAPP-A không hữu ích trong sàng lọc GDM 
vì giá trị AUC - ROC khi kết hợp các yếu tố nguy 
cơ của mẹ và giá trị PAPP-A là 0,8409 trong khi 
đó giá trị AUC - ROC của các yếu tố nguy cơ mẹ 
(không tính nguy cơ PAPP-A) là 0,8409. Ngược 
lại, Lovati và cộng sự đưa ra chỉ số AUC-ROC 
là 0,70 (CI 95%: 0,60 – 0,74) đối với PAPP-A 
và các yếu tố nguy cơ mẹ có giá trị AUC-ROC 
là 0,60 (CI 95%: 0,56 – 0,64) và kết luận rằng 
PAPP-A là một dấu ấn sinh học tiềm năng để 
sàng lọc GDM. Spencer và cộng sự cho rằng 
PAPP-A là một yếu tố dự đoán nguy cơ GDM 
khá yếu vì AUC-ROC là 0,55 (CI 95%: 0,53 – 
0,57), tuy nhiên lại có ý nghĩa thống kê. Nồng 
độ PAPP-A ở 2 nhóm có và không có GDM trong 
nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả 
của Lâm Hoàng Duy và cộng sự nhưng chỉ số J, 
Se và ngưỡng giá trị PAPP-A của họ lại cao hơn 
của chúng tôi (theo thứ tự lần lượt là 0,4208, 
67,1%, và 0,938 MoM). Lovati và cộng sự tuy có 
kết quả AUC-ROC thấp hơn (AUC-ROC: 0,60; 
CI 95%: 0,56 – 0,64) nhưng ngưỡng PAPP-A 
MoM là 0,70 (95% CI: 0,66–0,74; p < 0,001) thì 
tương đương với ngưỡng PAPP-A của chúng tôi.
Tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương, sàng 
lọc GDM mang tính phổ biến. Tất cả các thai phụ 
từ 24 - 32 tuần đều được làm xét nghiệm OGTT. 
Những thai phụ có yếu tố nguy cơ GDM có thể 
được sàng lọc ở thai kì sớm hơn. Điều này cũng 
có thể là một trong những nguyên nhân làm cho 
kết quả khác biệt vì có nghiên cứu thực hiện xét 
nghiệm OGTT do mẹ có yếu tố nguy cơ GDM 
[14], hoặc glucose ngẫu nhiên cao [12], hoặc 
sàng lọc phổ biến giống chúng tôi [8], [4], [2]. 
Kết quả khác nhau này cũng có thể là do sự 
khác biệt về mức độ của GDM trong quần thể 
nghiên cứu. Tỉ lệ nhóm GDM cần sử dụng liệu 
pháp insulin trong nghiên cứu của Spencer và 
cộng sự [14] và Beneventi và cộng sự [1] lần lượt 
là 12% và 23,2% trong khi nhóm nghiên cứu của 
Cheuk QK và cộng sự [2] chỉ có 1,2%. Trong 
quần thể nghiên cứu của Syngelaki và cộng sự 
[15], họ chia GDM thành 3 nhóm: GDM được 
kiểm soát bằng cách ăn kiêng (36,7%), GDM sử 
dụng metformin (18,2%) và GDM sử dụng insulin 
(46,1%). Husslein và cộng sự [4] chỉ nghiên cứu 
trên nhóm bệnh nhân có tiền sử bị GDM và được 
điều trị bằng insulin. Trong nghiên cứu của Xiao 
D và cộng sự [17], có 20 bệnh nhân cần điều 
trị bằng insulin (3,3%). Những điều này chỉ ra 
rằng mức độ GDM khác nhau dẫn đến sự khác 
nhau về kết quả công bố. Trong nghiên cứu này, 
chúng tôi không khảo sát được mức độ GDM của 
thai phụ.
Mặc khác, tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng 
trong các nghiên cứu này khác nhau. Hướng dẫn 
của WHO 1999 và ADA 2001 được sử dụng làm 
tiêu chuẩn chẩn đoán chính trước năm 2013. Có 
3 nghiên cứu sử dụng theo tiêu chuẩn mới của 
IADPSG, trong đó có nghiên cứu của chúng tôi. 
Hơn nữa, chủng tộc người da trắng là đối 
tượng nghiên cứu chính của các nghiên cứu trên. 
Có hai nghiên cứu liên quan đến người Châu Phi 
và Nam Á, hai nghiên cứu tiến hành trên quần 
thể người Trung Quốc, một nghiên cứu tiến hành 
trên quần thể người Việt Nam. Vì vậy, sự khác 
biệt về chủng tộc trong quần thể GDM cũng có 
thể là một nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt 
trong kết quả nghiên cứu. 
Điểm đạt được của nghiên cứu này là chúng 
tôi đã tìm ra được mối liên hệ giữa giá trị PAPP-A 
ở tam cá nguyệt I và GDM và giá trị ngưỡng 
PAPP-A có thể dùng để dự đoán GDM là 0,74 
MoM. So với giá trị PAPP-A 0,938 MoM của Lâm 
Hoàng Duy và cộng sự, kết quả của chúng tôi có 
giá trị dự đoán hơn vì giá trị lí tưởng của PAPP-A 
là 1 MoM. 
Tuy nhiên, với ngưỡng dự đoán PAPP-A là 
0,74 MoM, độ nhạy của test là 49%, độ đặc hiệu 
là 86%, chỉ số tiên lượng dương PPV là 48,54%, 
đây chưa phải là những con số tối ưu trong test 
chẩn đoán. Vì vậy, không nên sử dụng giá trị 
PAPP-A như là một căn cứ duy nhất để chẩn 
đoán sớm GDM. PAPP-A chỉ có thể được xem 
như một yếu tố nguy cơ cao của GDM. Cần kết 
hợp với các yếu tố nguy cơ khác của mẹ để sàng 
lọc và chẩn đoán sớm GDM. 
5. Kết luận 
Tỉ lệ GDM tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình 
Dương là khá cao (27,8%). 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 48 - 53, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Kết quả thu được cho thấy, có mối tương 
quan giữa nồng độ PAPP-A thấp ở tam cá 
nguyệt I và GDM, vói ngưỡng PAPP-A dưới 0,74 
MoM (CI 95%: 4,55 – 19,78, p < 0,001) thì PPV 
là 48,54%, LR+ là 3,44, độ nhạy 49%, độ đặc 
hiệu 86%. 
Ngoài các yếu tố nguy cơ đã được ghi nhận, 
nên sử dụng giá trị PAPP-A ≤ 0,74 MoM là ngưỡng 
tiên lượng nguy cơ cao của GDM. Bác sĩ lâm sàng 
nên có kế hoạch tư vấn, theo dõi và nên thực hiện 
nghiệm pháp dung nạp 75gram glucose uống cho 
100% phụ nữ mang thai có kết quả PAPP-A ≤ 0,74. 
Tài liệu tham khảo
1. Beneventi F, Simonetta M, Locatelli E, et al. Temporal variation in 
soluble human leukocyte antigen-G (sHLA-G) and pregnancy-associated 
plasma protein A (PAPP-A) in pregnancies complicated by gestational 
diabetes mellitus and in controls. Am J Reproductive Immunol 2014; 72: 
413–421. 15. 
2. Cheuk QK, Lo TK, Wong SF, Lee CP (2016). Association between 
pregnancy-associated plasma protein-A levels in the first trimester and 
gestational diabetes mellitus in Chinese women. Hong Kong Med J. 2016 
Feb;22(1):30-8. doi: 10.12809/hkmj144470. Epub 2015 Oct 23
3. Elisabetta Lovati, Fausta Beneventi, Margherita Simonetta, Marco Laneri, 
L., et al (2013), Gestational diabetes mellitus: including serum pregnancy-
associated plasma protein –A testing in the clinical management of primiparous 
women? A case –control study, Diabetes research and clinical pratice.
4. Husslein H, Lausegger F, Leipold H, et al. Association between 
pregnancy-associated plasma protein-A and gestational diabetes 
requiring insulin treatment at 11-14 weeks of gestation. J Matern Fetal 
Neonatal Med 2012; 25: 2230–2233.
5. Lâm Hoàng Duy, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Duy Tài (2013), Mối 
liên quan giữa PAPP-A trog tam cá nguyệt thứ nhất và đái tháo đường 
thai kì, Y học thực hành (884)-số 10/2013, trang 68-70.
6. Lê T Minh Phú và cộng sự (2007), Khảo sát tỉ lệ đái tháo đường 
thai kì trên thai phụ 24-28 tuần tại khoa sản BV Nguyễn Tri Phương, TP. 
Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ y khoa, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh
7. Linda A. Barbour, Carrie E. McCurdy, Teri L. Hernandez, John 
P. Kirwan, Patrick M. Catalano, Jacob E. Friedman (2007). Cellular 
Mechanisms for Insulin Resistance in Normal Pregnancy and Gestational 
Diabetes. Diabetes Care 2007 Jul; 30 (Supplement 2): S112-S119. https://
doi.org/10.2337/dc07-s202
8. Lovati E, Beneventi F, Simonetta M, et al. Gestational diabetes 
mellitus: including serum pregnancy-associated plasma protein-A testing 
in the clinical management of primiparous women? A case-control study. 
Diabetes Res Clin Pract 2013; 100: 340–347.
9. Ngô T Kim Phụng và cộng sự (2004), Tầm soát ĐTĐTK tại quận 4 
TP. Hồ Chí Minh. Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.
10. Nguyễn Khoa Diệu Vân, Thái Thị Thanh Thúy (2015), nghiên cứu tỉ 
lệ đái tháo đường thai kì theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu tố 
nguy cơ. TCNCYH 97 (5) – 2015.
11. Padmalatha Gurram, Peter Benn, James Grady, Anne-Marie Prabulos 
and Winston Campell (2014), Fist trimester aneuploidy screening markers 
in women with pre-gestational diabetes mellitus, J. Clin. Med.2014,3,480-
490; doi:10.3390/jcm3020480
12. Savvidou MD, Syngelaki A, Muhaisen M, Emelyanenko E, Nicolaides 
KH. First trimester maternal serum free β-human chorionic gonadotropin 
and pregnancyassociated plasma protein A in pregnancies complicated 
by diabetes mellitus. BJOG 2012; 119:410-6.
13. Sesti G, Sciacqua A, Cardellini M, et al. Plasma concentration of 
IGF-I is independently associated with insulin sensitivity in subjects with 
different degrees of glucose tolerance. Diabetes Care 2005; 28: 120–125.
14. Spencer K, Cowans NJ (2013). The association between gestational 
diabetes mellitus and first trimester aneuploidy screening markers. Ann 
Clin Biochem 2013; 50 (6): 603- 610
15. Syngelaki A, Kotecha R, Pastides A, et al. First-trimester biochemical 
markers of placentation in screening for gestational diabetes mellitus. 
Metabolism 2015; 64: 1485–1489
16. Tran TS, Hirst JE, Do MA, Morris JM, Jeffry HE. Early prediction 
of gestational diabetes mellitus in Vietnam: clinical impact of currently 
recommended diagnostic criteria. Diabetes Care 2013; 36:618-24.
17. Xiao D, Chenhong W, Yanbin X, Lu Z (2017). Gestational diabetes 
mellitus and first trimester pregnancy-associated plasma protein A: A 
case-control study in a Chinese population. J Diabetes Investig. 2017 Apr 
7. doi: 10.1111/jdi.12672.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_moi_tuong_quan_giua_gia_tri_papp_a_o_tam_ca_nguyet.pdf