Khảo sát kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh

Giới thiệu: Số liệu thống kê hiện nay chưa đầy đủ về trình độ hiểu biết và thái độ thực hành

của người phụ nữ về sinh sản và vô sinh. Trong nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến vô

sinh, một số trường hợp có thể dự phòng được nếu người dân có kiến thức và thái độ thực

hành đúng đắn. Ngoài ra, sự hiểu biết đúng về khả năng sinh sản cũng giúp bệnh nhân hiếm

muộn có sự hợp tác cao với thầy thuốc trong quá trình theo dõi và điều trị.

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh giúp xác định các vấn

đề còn tồn tại trong công tác tuyên truyền giáo dục đối với cộng đồng trong lĩnh vực này.

Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang kiến thức, thái độ của 530 phụ nữ trong độ tuổi

sinh sản về sinh sản và vô sinh tại 05 xã/phường đã được chọn của Tỉnh Thừa Thiên Huế,

với bộ câu hỏi tự chọn

pdf 9 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh

Khảo sát kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh
Lê Minh Tâm/Bùi Thị Thanh Hương/Cao Ngọc Thành l 225
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ 
CỦA PHỤ NỮ VỀ SINH SẢN VÀ VÔ SINH
Lê Minh Tâm*, Bùi Thị Thanh Hương**, Cao Ngọc Thành*
Tóm tắt
Giới thiệu: Số liệu thống kê hiện nay chưa đầy đủ về trình độ hiểu biết và thái độ thực hành 
của người phụ nữ về sinh sản và vô sinh. Trong nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến vô 
sinh, một số trường hợp có thể dự phòng được nếu người dân có kiến thức và thái độ thực 
hành đúng đắn. Ngoài ra, sự hiểu biết đúng về khả năng sinh sản cũng giúp bệnh nhân hiếm 
muộn có sự hợp tác cao với thầy thuốc trong quá trình theo dõi và điều trị.
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô sinh giúp xác định các vấn 
đề còn tồn tại trong công tác tuyên truyền giáo dục đối với cộng đồng trong lĩnh vực này.
Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang kiến thức, thái độ của 530 phụ nữ trong độ tuổi 
sinh sản về sinh sản và vô sinh tại 05 xã/phường đã được chọn của Tỉnh Thừa Thiên Huế, 
với bộ câu hỏi tự chọn.
Kết quả: Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở Tỉnh Thừa Thiên Huế có tỷ lệ cao hiểu đúng về 
độ tuổi có kinh bình thường (95,7%), thời điểm trong chu kỳ kinh nguyệt khả năng thụ thai 
cao nhất (65,8%), nhưng tỷ lệ thấp (33,6%) biết được độ tuổi có khả năng sinh sản cao nhất 
từ 18-24 tuổi. Kiến thức về vô sinh đa số chưa biết được khái niệm vô sinh (96,4%), không 
biết được tỷ lệ vô sinh hiện nay tại Việt Nam (93,4%), chỉ một nửa trường hợp biết được vô 
sinh thứ phát (55,1%). Tỷ lệ hiểu được các nguy cơ và nguyên nhân gây vô sinh chưa cao, cơ 
bản chỉ biết đến tiền sử nạo phá thai (61,4%) hay viêm nhiễm sinh dục (39,1%), nguyên nhân 
vô sinh do bất thường tinh trùng được đề cập đến trong 2/3 trường hợp và không quá 1/3 
trường hợp biết được các nguyên nhân vô sinh nữ. Khảo sát thái độ khi có cặp vợ chồng vô 
sinh, việc tìm đến cơ sở y tế chiếm tỷ lệ khá cao, nhưng vẫn còn một số nhỏ tin vào tâm linh 
(4,2%) và thầy lang (2,6%), nhiều trường hợp cho rằng việc điều trị vô sinh sẽ rất tốn kém 
(52,5%) và đa số không biết được các phương pháp điều trị thường dùng. 
Kết luận: Nghiên cứu này khẳng định một lần nữa những thiếu sót trong việc cung cấp 
thông tin về sinh sản và vô sinh cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản để giúp người dân có 
nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn đúng đắn dịch vụ y tế hiệu quả và kịp thời.
Abstract: Study on knowledge, attitudes of women on fertility and infertility 
Introduction: The current data of understanding on fertility and infertility in reproductive-
age women are not available. In many different causes of infertility, some cases may be 
preventable if people have knowledge and attitudes to practice correctly. Additionally, the 
right understanding about fertility will encourage infertile patients with high co-operation 
in the process of following and treatment.
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 225-233, 2012
226 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Objective: To describe knowledge, attitudes of reproductive-age women about fertility and 
infertility, identify problems that exist in the communication and education in this area.
Materials & methods: Cross-sectional descriptive study on knowledge, attitudes of 530 
reproductive-age women on fertility and infertility in 05 communes/wards in Thua Thien 
Hue province, with the prepared questionaire.
Results: The reproductive-age women in Thua Thien Hue Province almost know about 
normal age of menarche correctly (95.7%), the time with highest possibility of fertility in 
the menstrual cycle the (65,8%), but the low rate (33.6%) know the best age for reproduction 
between 18-24 years old. Concerning knowledge on infertility, most of them do not know 
the concept of infertility (96.4%), do not know the current rate of infertility in Vietnam 
(93.4%), only half of cases know secondary infertility (55.1%). Knowledge on risk and causes 
of infertility is not good, just mention on history of abortion (61.4%) or genital infections 
(39.1%), abnormal sperm mentioned in 2/3 cases and no more than one third of cases known 
causes of female infertility. Survey on attitudes when suggest infertile couples, visiting 
health care center accounted for a high rate, but still a small number believe in spirituality 
(4.2%) and traditional healers (2.6%) In many cases believe that infertility treatment cost so 
much (52.5%) and most do not know the treatment methods.
Conclusion: This study confirms once again the shortcomings in the communication and 
education about fertility and infertility for reproductive age women that can help people 
more opportunities to arrive on time and choose effective health services.
* Trường Đại học Y Dược Huế; ** Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang
Đặt vấn đề
Trong các vấn đề liên quan đến sức khỏe 
sinh sản, vô sinh được xem là một trong 
những vấn đề hàng đầu trong chiến lược 
về dân số và sức khỏe sinh sản trong cả 
nước. Tại Việt Nam, tỷ lệ vô sinh ở những 
cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản chiếm 
khoảng 12%, tương đương với gần 1 triệu 
cặp vợ chồng [10]. Nguyên nhân và yếu tố 
nguy cơ gây vô sinh có thể từ phía người 
vợ hoặc người chồng hoặc cả hai vợ chồng 
[15]. Cùng với sự phát triển của khoa học 
kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng kỹ thuật hỗ 
trợ sinh sản vào việc điều trị vô sinh, y học 
hiện nay có thể giải quyết được hầu hết các 
nguyên nhân vô sinh [12]. 
Điều đáng lưu ý là khả năng sinh sản sẽ 
giảm dần khi tuổi đời tăng cao, đặc biệt là 
tuổi vợ; cơ hội có thai càng giảm khi thời 
gian vô sinh càng dài [15]. Điều này đồng 
nghĩa với cơ hội có thai sẽ cao khi các trường 
hợp vô sinh được chẩn đoán và xử trí kịp 
thời. Trong nhiều nguyên nhân khác nhau 
dẫn đến vô sinh, một số trường hợp có thể 
dự phòng được nếu người dân có kiến thức 
và thái độ thực hành đúng đắn. Ngoài ra, sự 
hiểu biết đúng về khả năng sinh sản cũng 
giúp bệnh nhân hiếm muộn có sự hợp tác 
cao với thầy thuốc trong quá trình theo dõi 
và điều trị.
Hiện nay các số liệu thống kê chưa đầy 
đủ về trình độ hiểu biết và thái độ thực hành 
của người phụ nữ về sinh sản và vô sinh 
cũng như các biện pháp phòng ngừa để giúp 
cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực dân 
số và sức khỏe sinh sản có cơ sở trong công 
tác quản lý, chỉ đạo và đề ra những nhiệm 
vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công 
tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, đặc biệt 
trong lĩnh vực điều trị vô sinh.
Đề tài “Khảo sát kiến thức, thái độ của phụ 
nữ về sinh sản và vô sinh” thực hiện tại tỉnh 
Lê Minh Tâm/Bùi Thị Thanh Hương/Cao Ngọc Thành l 227
Thừa Thiên Huế nhằm mục đích mô tả kiến 
thức, thái độ của phụ nữ về sinh sản và vô 
sinh giúp xác định các vấn đề còn tồn tại 
trong công tác tuyên truyền giáo dục đối với 
cộng đồng trong lĩnh vực này, tăng cơ hội 
tiếp cận chẩn đoán và điều trị kịp thời cho 
những cặp vợ chồng vô sinh, tăng khả năng 
thành công trong điều trị.
Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên 530 phụ nữ 
độ tuổi từ 18 – 49, đã lập gia đình, đang 
sinh sống tại 05 xã/phường đã được chọn 
của Tỉnh Thừa Thiên Huế, trong thời gian 
từ tháng 07/2011 đến tháng 03/2012. Các 
xã/phường thuộc 3 huyện thị đại diện cho 
3 vùng địa lý-kinh tế-xã hội của Tỉnh Thừa 
Thiên Huế là huyện Phú Vang (xã Phú Mậu 
và Vinh Hà: 216 người), huyện Nam Đông 
(thị trấn Khe Tre: 111 người) và Thành phố 
Huế (phường An Hòa và phường An Cựu: 
203 người). 
Phương pháp điều tra theo mẫu đại diện, 
sau đó tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang 
có phân tích tìm hiểu kiến thức, thái độ của 
phụ nữ về sinh sản và vô sinh theo mẫu câu 
hỏi định sẵn.
Bộ câu hỏi bao gồm các thông tin chung 
về tuổi, nghề nghiệp và trình độ học vấn. 
Để khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi về 
sinh sản và vô sinh, đối tượng nghiên cứu 
cần trả lời các câu hỏi liên quan đến độ tuổi 
sinh sản của nữ giới, độ tuổi bắt đầu có 
kinh bình thường, khả năng sinh sản bình 
thường và đặc điểm kinh nguyệt, thời điểm 
có khả năng thụ thai cao nhất trong chu kỳ 
kinh, định nghĩa về vô sinh, tỷ lệ vô sinh 
hiện nay, nguyên nhân vô sinh do vợ hay 
chồng, khả năng vô sinh thứ phát, các yếu 
tố nguy cơ và nguyên nhân gây vô sinh, 
mức độ tốn kém trong điều trị vô sinh, các 
phương pháp điều trị vô sinh và các tuyến 
có thể điều trị.
Số liệu được thu thập và xử lý theo 
phương pháp thống kê y học bằng chương 
trình phần mềm SPSS 19.0.
Kết quả nghiên cứu
Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu 
Đặc điểm n %
Nhóm tuổi 
15-29
30-39
40-49
68
223
239
12,8
42,1
45,1
Nghề nghiệp
 Làm nông
 Buôn bán
 Cán bộ công chức
 Khác
133
162
66
169
25,1
30,6
12,4
31,9
Trình độ học vấn
 Mù chữ
 Phổ thông
 Cao Đẳng, Đại học
50
435
45
9,4
82,1
8,5
228 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Kiến thức về sinh sản
Bảng 2. Kiến thức về sinh sản nữ giới
Kiến thức n %
Độ tuổi sinh sản tốt nhất
 18-24
 25-35
 Độ tuổi nào cũng như nhau
178
341
11
33,6
64,3
2,1
Độ tuổi bắt đầu có kinh bình thường
 <12 tuổi
 12 - 18
 Bất kỳ tuổi nào
7
507
16
1,3
95,7
3,0
Thời điểm có khả năng thụ thai cao nhất
 Sau sạch kinh
 Giữa chu kỳ
 Cuối chu kỳ
 Không rõ
136
349
30
15
25,7
65,8
5,7
2,8
Có kinh nguyệt tức khả năng sinh sản BT
 Đúng
 Sai
 Không rõ
364
74
92
68,7
14,0
17,4
Kiến thức và thái độ về vô sinh
Bảng 3. Kiến thức về vô sinh
Kiến thức n %
Gọi là vô sinh khi mong con
 1 năm
 2 năm
 Trên 3 năm
 không rõ
19
58
409
44
3,6
10,9
77,2
8,3
Tỷ lệ vô sinh hiện nay
 1-5%
 5-10%
 10-15%
 Không rõ
45
39
35
411
8,5
7,4
6,6
77,5
Nguyên nhân vô sinh thường do
 Do vợ
 Do chồng
 Do vợ/chồng như nhau
 Do cả hai vợ chồng
45
46
154
285
8,5
8,6
29,1
53,8
Khả năng vô sinh khi vợ chồng đã có con
 Chắc chắn không mắc
 Vẫn có thể vô sinh
 Không rõ
145
292
93
27,4
55,1
17,6
Lê Minh Tâm/Bùi Thị Thanh Hương/Cao Ngọc Thành l 229
Bảng 4. Kiến thức về nguy cơ và nguyên nhân vô sinh
Kiến thức n %
Các yếu tố nguy cơ gây vô sinh
 Viêm nhiễm sinh dục
 Tiền sử nạo phá thai
 Phẫu thuật vùng chậu
 Nghiện thuốc lá
 Nghiện rượu
 Mắc quai bị có viêm tinh hoàn
207
325
30
86
106
262
39,1
61,4
5,7
16,2
20,0
49,4
Nguyên nhân gây vô sinh
 Do không rụng trứng
 Do tắc vòi tử cung
 Do bất thường tử cung
 Do bất thường tinh trùng
182
180
147
343
34,3
34,0
27,7
64,7
Bảng 5. Thái độ khi có trường hợp cặp vợ chồng vô sinh
Thái độ n %
Để khám và điều trị vô sinh
 Chi cần người vợ đi khám
 Vợ đi khám trước rồi tới chồng
 Cả 2 vợ chồng
 Không rõ
3
76
428
23
0,6
14,3
80,8
4,4
Để chữa vô sinh hiệu quả cần
 Đến chùa, nhà thờ cầu nguyện
 Đến thầy lang theo tin đồn
 Đến cơ sở y tế chuyên khoa
 Không làm gì vì không chữa được 
22
14
469
25
4,2
2,6
88,5
4,7
Cơ sở y tế có thể điều trị vô sinh
 Tuyến cao nhất (bệnh viện Trung ương)
 Bệnh viện bất kỳ có đơn vị điều trị vô sinh
 Bệnh viện bất kỳ
246
231
53
46,4
43,6
10,0
Chi phí cho điều trị vô sinh
 Rất tốn kém (cả trăm triệu)
 Tốn kém (vài chục triệu)
 Vừa phải (vài triệu)
 Tốn kém tùy trường hợp
99
179
10
242
18,7
33,8
1,9
45,6
Các phương pháp điều trị vô sinh
 Phẫu thuật
 Kích thích rụng trứng bằng thuốc
 Bơm tinh trùng vào tử cung
 Thụ tinh ống nghiệm
 Không biết
17
62
75
251
297
3,2
11,7
14,2
47,4
56,0
230 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bàn luận
Chẩn đoán và điều trị vô sinh không chỉ 
mang tính khoa học mà còn liên quan nhiều 
đến các mặt xã hội. Cặp vợ chồng đi điều trị 
vô sinh thường không mang nỗi đau thể xác 
do bệnh tật như những trường hợp bệnh lý 
khác. Họ có thể là những người hoàn toàn 
khỏe mạnh về thể chất chỉ duy nhất mong 
muốn có con chưa được thành hiện thực[6]. 
Nhiều rào cản tâm lý, kinh tế, xã hội và nhận 
thức có thể khiến họ trì hoãn việc điều trị. 
Vì nhiều lý do khác nhau, việc bỏ trị của các 
cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ lớn, trong 
đó có lý do là thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa 
thầy thuốc và bệnh nhân[1][7]. Người thầy 
thuốc tiếp cận cặp vợ chồng vô sinh không 
chỉ cần đảm bảo về mặt chuyên môn tốt mà 
phải cần có tiếp cận tâm lý và tư vấn giáo 
dục đầy đủ nhất.
Nghiên cứu này thực hiện đối với các 
phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại Tỉnh Thừa 
Thiên Huế nhằm mô tả kiến thức, thái độ 
của phụ nữ về sinh sản và vô sinh. Điều trở 
ngại ban đầu cho chúng tôi là không tìm 
được nghiên cứu tương tự trước đây tại 
Việt Nam để tham khảo, so sánh. Các câu 
hỏi kiến thức và thái độ về sinh sản và vô 
sinh được xây dựng dựa trên các thông tin 
xác định từ y văn cập nhật [4][9][10][12]
[15]. Bộ câu hỏi thiết kế đơn giản, có chọn 
lựa để người tham gia nghiên cứu dễ quyết 
định câu trả lời theo hiểu biết của mình. Đối 
tượng nghiên cứu tập trung ở độ tuổi sinh 
sản, với nhiều ngành nghề khác nhau và đa 
số có trình độ phổ thông (Bảng 1).
Khảo sát về kiến thức sinh sản, đến 64,3% 
cho rằng khả năng sinh sản của nữ giới tốt 
nhất ở độ tuổi 25-35. Đây có thể xem là độ 
tuổi hợp lý về mặt văn hóa và xã hội Việt 
Nam cho việc lập gia đình và sinh con. Tuy 
nhiên sinh lý học sinh sản người nữ, khả 
năng cao nhất quanh độ tuổi 20-22, từ 30 
tuổi khả năng sinh sản giảm dần và giảm đi 
nhanh chóng sau 35 tuổi. Tỷ lệ có thai trung 
bình của một phu nữ dưới 35 tuổi là 0,19 ± 
0,13 cho mỗi tháng, còn đối với phụ nữ trên 
35 tuổi tỷ lệ có thai chỉ còn 0,1 ± 0,12 cho mỗi 
tháng. Ngoài ra, tỷ lệ bất thường nhiễm sắc 
thể, khuyết tật bẩm sinh cũng cao hơn [15].
Đa số trường hợp có quan điểm đúng về 
độ tuổi có kinh bình thường từ 12-18 tuổi 
(95,7%) và thời điểm có khả năng thụ thai 
cao nhất vào giữa chu kỳ (65,8%). Tuy nhiên 
vẫn còn một tỷ lệ nhỏ chưa hiểu đúng về 
tầm quan trọng của hành kinh đúng độ tuổi 
(4,3%) cũng như ngày rụng trứng giữa chu 
kỳ (34,2%). Bình thường, hiện tượng phóng 
noãn xảy ra vào ngày thứ 14 của chu kỳ 28 
ngày. Khi estrogen đạt tới một nồng độ cao 
trong thời gian tương đối dài (gần giữa chu 
kỳ) sẽ kích thích tuyến yên sản xuất và giải 
phóng LH tạo nên đỉnh LH, giúp nang noãn 
trưởng thành và gây ra hiện tượng phóng 
noãn [10]. Điều đáng lưu ý là có đến 68,7% 
cho rằng khi người phụ nữ có kinh nguyệt 
tức là khả năng sinh sản bình thường. Khi 
chu kỳ không phóng noãn, nội mạc tử cung 
vẫn có thể bong ra không theo chu kỳ. Người 
phụ nữ có kinh thưa hơn, vòng kinh thường 
trên 35 ngày và không thể có thai trong chu 
kỳ đó.
Khảo sát kiến thức và thái độ về vô sinh, 
đặc biệt đáng ghi nhận là quan điểm đúng 
về khái niệm vô sinh với thời gian mong con 
sau 1 năm chỉ có 3,6%. Hầu hết đối tượng 
nghiên cứu cho rằng thời gian mong con 
trên 3 năm mới được xem là vô sinh (77,2%). 
Thời gian hiếm muộn được xem như là một 
chỉ điểm tiên lượng đối với cặp vợ chồng vô 
sinh. Khi thời gian hiếm muộn trên 3 năm, 
cơ hội thành công trong điều trị chỉ còn 50% 
so với các cặp vợ chồng vô sinh dưới 3 năm 
[15]. Chính vì thế, việc tiếp cận sớm với 
chẩn đoán và điều trị vô sinh có thể tăng cơ 
hội cho các cặp vợ chồng. 
Đa số trường hợp không biết được tỷ 
lệ vô sinh hiện nay tại Việt Nam (77,5%). 
Điều này chính là một hạn chế của công tác 
truyền thông giáo dục. Nếu người dân đều 
biết tỷ lệ vô sinh thực tế hiện nay đến 12-13% 
Lê Minh Tâm/Bùi Thị Thanh Hương/Cao Ngọc Thành l 231
thì việc tư vấn cho người thân đi khám và 
điều trị được dễ dàng hơn vì tình trạng của 
họ không phải là vấn đề cá biệt. Nguyên 
nhân vô sinh được cho là liên quan cả hai vợ 
chồng (53,8%), được xem là một quan điểm 
thuận lợi cho công tác điều trị vì thực tế tỷ 
lệ của vợ và chồng và tương đương trong 
nguyên nhân vô sinh.
Quan điểm một cặp vợ chồng đã từng có 
con vẫn có thể vô sinh được 55,1% đồng ý. 
Tuy nhiên đáng ghi nhận là vẫn có đến 27,4% 
cho rằng những trường hợp này không thể 
nào mắc vô sinh được. Điều này chính là 
một trở ngại lớn khiến những trường hợp 
vô sinh thứ phát chậm trễ điều trị vì vẫn tin 
là mình chắc chắn sẽ có thai tự nhiên.
Đánh giá kiến thức về nguy cơ và nguyên 
nhân gây vô sinh, thứ tự ưu tiên các yếu tố 
nguy cơ được đa số chọn lựa là tiền sử nạo 
phá thai (61,4%), mắc quai bị có viêm tinh 
hoàn (49,4%), viêm nhiễm sinh dục (39,1%). 
Các nguy cơ như nghiện rượu, thuốc lá và 
phẫu thuật vùng chậu không được đánh 
giá cao mặc dù theo y văn đây là các yếu tố 
nguy cơ trực tiếp[9][15]. Nguyên nhân bất 
thường tinh trùng được nhiều người biết 
đến (64,7%), tuy nhiên tắc vòi tử cung chỉ 
được đề cập ở 34% và không rụng trứng 
34,3% trường hợp.
Khảo sát thái độ thực hành khi có trường 
hợp vô sinh, đa số cho rằng cả hai vợ chồng 
cần đi khám (chiếm 80,8%) và cần đến cơ sở y 
tế chuyên khoa (88,5%). Mặc dù chỉ chiếm tỷ 
lệ nhỏ, nhưng rõ ràng vẫn còn một số người 
lựa chọn phương cách đi cầu nguyện (4,2%) 
hay tìm đến thầy lang theo tin đồn (2,6%) 
để mong muốn có con thành hiện thực. 25 
trường hợp khác (chiếm 4,7%) cho rằng bị 
vô sinh không thể chữa được nên không cần 
đi khám. Đây là những vấn đề liên quan đến 
thiếu sót trong việc cung cấp thông tin một 
cách khoa học và chính xác đến người dân 
để họ có thể tiếp cận điều trị một cách hiệu 
quả khi có nhu cầu chữa vô sinh. Vai trò của 
ngành y tế, của truyền thông và đặc biệt là 
những người làm công tác quản lý y tế tại 
địa phương cần được nâng cao.
Bên cạnh những hiểu biết về cách thức 
điều trị vô sinh, đa số các trường hợp được 
phỏng vấn đều cho rằng điều trị vô sinh tốn 
kém tùy theo trường hợp (chiếm 45,6%). 
Đây là một quan điểm đúng đắn vì nguyên 
nhân vô sinh khác nhau theo từng cặp vợ 
chồng và vì thế chi phí điều trị cũng rất 
khác nhau. Điều quan trọng là việc khảo 
sát ban đầu chỉ tốn kém rất ít nhưng có thể 
phát hiện và chẩn đoán được nguyên nhân 
trong phần lớn trường hợp vô sinh. Nhờ đó, 
người dân có thể được tư vấn cách thức tốt 
nhất để đạt được nguyện vọng có con. Tuy 
vậy, một tỷ lệ cao (52,2%) vẫn tin rằng điều 
trị vô sinh rất tốn kém, từ vài chục đến vài 
trăm triệu đồng. Điều này có thể là một yếu 
tố cản trở người dân có nhu cầu điều trị vô 
sinh tiếp cận cơ sở y tế. 
Hiện nay, mặc dù nhu cầu điều trị vô 
sinh thực sự rất lớn nhưng các trung tâm 
điều trị vô sinh chưa đáp ứng được nhu 
cầu này. Việc triển khai kỹ thuật cao trong 
hỗ trợ sinh sản chủ yếu các trung tâm lớn ở 
hai đầu đất nước. Bởi thế, về việc lựa chọn 
cơ sở y tế có thể điều trị vô sinh, đa số cho 
rằng để có kết quả tốt nhất nên đến tuyến 
cao nhất như bệnh viện tuyến Trung ương ở 
Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội. Tuy 
nhiên, như trình bày ở phần trên, vô sinh có 
thể do nhiều nguyên nhân khác nhau và vì 
thế, việc can thiệp cũng thay đổi tùy từng 
trường hợp. Nhiều trường hợp rối loạn mức 
độ nhẹ có thể được phát hiện, theo dõi và 
điều trị tại tuyến huyện, tuyến tỉnh với nhân 
lực đã qua đào tạo và trang thiết bị cơ bản, 
giúp điều trị ngay tại địa phương, tiết kiệm 
thời gian và chi phí điều trị mà vẫn đảm bảo 
hiệu quả. Công tác tư vấn tốt sẽ giúp người 
dân chủ động hơn trong chọn lựa dịch vụ, 
yên tâm điều trị và ổn định công việc. Điều 
này cũng thể hiện trong tỷ lệ 43,6% chọn lựa 
câu trả lời “đến bệnh viện bất kỳ có đơn vị 
điều trị vô sinh”, phản ánh phần nào quyết 
232 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
định hợp lý của người dân.
Để kết luận qua nghiên cứu này, chúng 
tôi nhận thấy khả năng hiểu biết của phụ nữ 
trong độ tuổi sinh sản ở Tỉnh Thừa Thiên 
Huế có tỷ lệ cao hiểu đúng về độ tuổi có kinh 
bình thường, thời điểm trong chu kỳ kinh 
nguyệt khả năng thụ thai cao nhất, nhưng 
tỷ lệ thấp biết được độ tuổi có khả năng sinh 
sản cao nhất từ 18-24 tuổi. Kiến thức về vô 
sinh đa số chưa biết được thời gian mong 
con 1 năm là hiếm muộn, không biết được 
tỷ lệ vô sinh hiện nay tại Việt Nam, chỉ một 
nửa trường hợp biết được vô sinh thứ phát. 
Tỷ lệ hiểu được các nguy cơ và nguyên nhân 
gây vô sinh chưa cao, cơ bản chỉ biết đến 
tiền sử nạo phá thai hay viêm nhiễm sinh 
dục, nguyên nhân vô sinh do bất thường 
tinh trùng được đề cập đến trong 2/3 trường 
hợp và không quá 1/3 trường hợp biết được 
các nguyên nhân vô sinh nữ. Khảo sát thái 
độ khi có cặp vợ chồng vô sinh, việc tìm 
đến cơ sở y tế chiếm tỷ lệ khá cao, nhưng 
vẫn còn một số nhỏ tin vào tâm linh và thầy 
lang, nhiều trường hợp cho rằng việc điều trị 
vô sinh sẽ rất tốn kém và đa số không biết 
được các phương pháp điều trị thường dùng. 
Nghiên cứu này khẳng định một lần nữa 
những thiếu sót trong việc cung cấp thông 
tin về sinh sản và vô sinh cho phụ nữ trong 
độ tuổi sinh sản để người dân có nhiều cơ hội 
tiếp cận và lựa chọn đúng đắn dịch vụ y tế 
hiệu quả và kịp thời. Đây là cơ sở trong công 
tác quản lý, chỉ đạo và đề ra những nhiệm 
vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công 
tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, đặc biệt 
trong lĩnh vực sinh sản và vô sinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aarts, JWM, van Empel, IWH, Boivin, J, 
Nelen, WL, Kremer, JAM, Verhaak CM. 
(2011). Relationship between quality of 
life and distress in infertility: a validation 
study of the Dutch FertiQoL. Human 
Reproduction 26(5):1112-1118.
2. Akyuz A, Seven M, Devran A, Demiralp 
M. (2010). Infertility history: is it a risk 
factor for postpartum depression in 
Turkish women? J Perinat Neonatal 
Nurs;24:137–145.
3. Anne M. Jequier. (2000). Male Infertility, 
A Guide For The Clinician. Blackwell 
Science Ltd.
4. Berek, Jonathan S. (2007). Berek & 
Novak’s Gynecology, Lippincott 
Williams & Wilkins. 
5. Boivin J, Domar A, Shapiro D, 
Wischmann T, Fauser B, Verhaak C. 
(2012) Tackling burden in ART: an 
integrated approach for medical staff. 
Hum Reprod;27(4):941-950.
6. Boivin J, Griffiths E, Venetis CA. (2011). 
Emotional distress in infertile women 
and failure of assisted reproductive 
technologies: meta-analysis of 
prospective psychosocial studies. Br 
Med J.;342:d223.
7. Boivin, J & Griffiths, E. (2011). A 
meta-analysis of prospective studies 
investigating pre-treatment anxiety and 
depression and their effect on the success 
of assisted conception. British Medical 
Journal; 342:223-31.
8. Boivin, J, Takefman, J, Braverman, A. 
(2011) Development and preliminary 
validation of the fertility quality of 
life (FertiQoL) tool. Simultaneous 
publication in Human Reproduction, 
26(8), 2084–2091 and Fertility and 
Sterility, 96, 409–15.
9. Botros R. M. B. Rizk, Juan A. Garcia-
velasco, Hassan N. Sallam, Antonis 
Makrigiannakis. (2008). Infertility and 
Assisted Reproduction. Cambridge 
University Press. 
10. Cao Ngọc Thành, Lê Minh Tâm. (2011) 
Nội tiết phụ khoa và y học sinh sản. Nhà 
xuất bản Đại học Huế.
11. Daniluk J. (1997). Helping patients cope 
Lê Minh Tâm/Bùi Thị Thanh Hương/Cao Ngọc Thành l 233
with infertility. Clin Obstet Gynecol; 
40:661–672
12. Gardner K. David, Ariel Weissman, 
Colin M Howles, Zeev Shoham. (2009). 
Textbook of Assisted Reproductive 
Technologies, Informa Health Care 3rd 
Edition.
13. Groh CJ, Wagner C. (2005). The art of 
communicating ART results: an analysis 
of infertile couples’ experience. J Reprod 
Infant Psychol;23:333–346.
14. McMahon CA, Boivin J, Gibson FL, 
Fisher J, Hammarberg K, Wynter 
K, Saunders D. (2011). Older first-
time mothers and early postpartum 
depression: A prospective cohort study 
of women conceiving spontaneously 
or with assisted reproductive 
technologies. Fertility and Sterility, 96, 
1218–24.
15. Speroff Leon, Fritz Marc A. (2005). 
Clinical Gynecologic Endocrinology 
& Infertility, 7th Edition. Lippincott 
Williams & Wilkins.

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kien_thuc_thai_do_cua_phu_nu_ve_sinh_san_va_vo_sinh.pdf