Khảo sát khả năng đáp ứng của IGE đặc hiệu với hải sản có vỏ và mối liên quan với dị ứng mạt bụi nhà, gián

Đặt vấn đề: Ngày nay tôm đóng vai trò quan trọng trong dị ứng hải sản bởi tôm được sử

dụng rất rộng rãi do giá trị dinh dưỡng cao của nó. Bốn loại dị nguyên từ tôm đã được xác

định thường hay gây ra dị ứng nhất là tropomyosin (TM), arginine kinase (AK), protein

liên kết canxi chất cơ (SCP) và myosin chuỗi nhẹ (MLC). Bên cạnh đó, sự phản ứng chéo

giữa tôm với protein của nhóm giáp xác, mạt bụi nhà và gián đã được ghi nhận, dị nguyên

gây phản ứng chéo phổ biến nhất là tropomyosin. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát

phản ứng các IgE đặc hiệu đối với các thành phần protein của tôm và đánh giá phản ứng

chéo giữa một số protein của tôm với protein của mạt bụi nhà, gián.

Phương pháp: Tôm thẻ chân trắng và tôm sú được sử dụng để tách chiết protein. Những

protein này được phân tách bằng kỹ thuật LDS-PAGE và sau đó thực hiện immunoblotting

bằng cách sử dụng huyết thanh từ những bệnh nhân có tiền sử dị ứng, test lẩy da dương

tính với tôm, cua, mạt bụi nhà và/hoặc gián.

Kết quả: Hầu hết các IgE đặc hiệu đáp ứng với các protein có trọng lượng phân tử 21

kDa, 45 kDa và 116 kDa, chủ yếu là từ các mẫu tôm được xử lý với nhiệt độ cao. Ở những

bệnh nhân dị ứng với mạt bụi nhà và/hoặc gián, không có hoặc có nồng độ thấp IgE đặc

hiệu với tôm thể hiện phản ứng chéo với những protein này và rõ nhất là với protein 36

kDa tương ứng với trọng lượng phân tử tropomyosin của tôm.

Kết luận: IgE đặc hiệu tăng phản ứng với các mẫu được xử lý ở nhiệt độ cao và có phản

ứng chéo xảy ra giữa một số protein của tôm với protein của mạt bụi nhà, gián

pdf 11 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát khả năng đáp ứng của IGE đặc hiệu với hải sản có vỏ và mối liên quan với dị ứng mạt bụi nhà, gián", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát khả năng đáp ứng của IGE đặc hiệu với hải sản có vỏ và mối liên quan với dị ứng mạt bụi nhà, gián

Khảo sát khả năng đáp ứng của IGE đặc hiệu với hải sản có vỏ và mối liên quan với dị ứng mạt bụi nhà, gián
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-60 
51 
Research Paper 
Investigating Ability of the Specific IgE Response Profile of 
Shellfish Allergy and Relationship with Houst Dust Mite, 
Cockroach Allergy 
Nguyen Thi Huyen*1, Tran Thi Bich Ngoc, Phan Thi Minh Phuong, Guido Forni, 
Giovanni Rolla 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 11 August 2020 
Revised 22 August 2020; Accepted 28 August 2020 
Abstract 
Background/Purposes: Nowadays shrimp plays an increasingly important role in allergy 
because it is widely consumed in the world due to its nutritional value. There are four 
allergens from shrimp that have been identified to be the common contributor to 
allergenicity including tropomyosin (TM), arginine kinase (AK), sarcoplasmic calcium-
binding protein (SCP) and myosin light chain (MLC). In addition, cross-reactivity among 
and between shrimp and crustaceans, house dust mite, cockroach was reported, the most 
common cross-reactive allergen is tropomyosin. The purpose of this study is to investigate 
the response of specific IgE profile to shrimp protein and evaluate cross-reactivity between 
some shrimp protein and house dust mite, cockroach proteins. 
Methods: White leg shrimps and black tiger shrimps were used to extract protein from 
them. Proteins were separated by the LDS-PAGE technique and then run Immunoblotting 
with serum of the patient who have history allergy as well as positive skin prick test to 
shrimp, crab, house dust mite and/or cockroach. 
Results: Most of specific IgE responsed to proteins at molecular weights of 21 kDa, 45 
kDa and 116 kDa, mainly shrimp samples were treated by high temperature processing. In 
patients allergic to house dust mites and / or cockroaches and without or with low shrimp-
specific IgE concentration occured cross-reactivity with these proteins and the most clearly 
was protein of 36 kDa that corresponding to weight molecule of shrimp tropomyosin. 
Conclusion: The specific IgE increasingly reacted with the proteins at the high heat-
treated samples, and there were the cross-reactions between some shrimp proteins and the 
house dust mite, cockroach proteins. 
Keywords: Shrimp allery, specific IgE, tropomyosin, arginine kinase, sarcoplasmic 
calcium-binding protein, cross-reactivity. 
_______ 
1* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.47973/jprp.v4i6.274 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
52 
Khảo sát khả năng đáp ứng của IGE đặc hiệu với hải sản có vỏ 
và mối liên quan với dị ứng mạt bụi nhà, gián 
Nguyễn Thị Huyền*, Trần Thị Bích Ngọc, Phan Thị Minh Phương, Guido Forni, 
Giovanni Rolla 
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 11 tháng 7 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 12 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Đặt vấn đề: Ngày nay tôm đóng vai trò quan trọng trong dị ứng hải sản bởi tôm được sử 
dụng rất rộng rãi do giá trị dinh dưỡng cao của nó. Bốn loại dị nguyên từ tôm đã được xác 
định thường hay gây ra dị ứng nhất là tropomyosin (TM), arginine kinase (AK), protein 
liên kết canxi chất cơ (SCP) và myosin chuỗi nhẹ (MLC). Bên cạnh đó, sự phản ứng chéo 
giữa tôm với protein của nhóm giáp xác, mạt bụi nhà và gián đã được ghi nhận, dị nguyên 
gây phản ứng chéo phổ biến nhất là tropomyosin. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát 
phản ứng các IgE đặc hiệu đối với các thành phần protein của tôm và đánh giá phản ứng 
chéo giữa một số protein của tôm với protein của mạt bụi nhà, gián. 
Phương pháp: Tôm thẻ chân trắng và tôm sú được sử dụng để tách chiết protein. Những 
protein này được phân tách bằng kỹ thuật LDS-PAGE và sau đó thực hiện immunoblotting 
bằng cách sử dụng huyết thanh từ những bệnh nhân có tiền sử dị ứng, test lẩy da dương 
tính với tôm, cua, mạt bụi nhà và/hoặc gián. 
Kết quả: Hầu hết các IgE đặc hiệu đáp ứng với các protein có trọng lượng phân tử 21 
kDa, 45 kDa và 116 kDa, chủ yếu là từ các mẫu tôm được xử lý với nhiệt độ cao. Ở những 
bệnh nhân dị ứng với mạt bụi nhà và/hoặc gián, không có hoặc có nồng độ thấp IgE đặc 
hiệu với tôm thể hiện phản ứng chéo với những protein này và rõ nhất là với protein 36 
kDa tương ứng với trọng lượng phân tử tropomyosin của tôm. 
Kết luận: IgE đặc hiệu tăng phản ứng với các mẫu được xử lý ở nhiệt độ cao và có phản 
ứng chéo xảy ra giữa một số protein của tôm với protein của mạt bụi nhà, gián. 
Từ khóa: dị ứng tôm, IgE đặc hiệu, tropomyosin, arginine kinase, protein liên kết canxi 
chất cơ, phản ứng chéo. 
1. Đặt vấn đề* 
Dị ứng thức ăn là một trong những 
bệnh lý phức tạp của lĩnh vực dị ứng. Bệnh 
lý này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe cá 
nhân bị dị ứng thức ăn mà còn là gánh nặng 
cho sức khoẻ cộng đồng ở hầu hết các nước 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.47973/jprp.v4i6.274 
trong vài thập kỷ gần đây [8]. Khoảng 2-4% 
dân số trên toàn thế giới [3,5], trong đó 
khoảng 5-8% trẻ em và tới 3% người lớn có 
dị ứng với thức ăn [5]. 
Hải sản có vỏ là một trong những 
loại thức ăn được sử dụng phổ biến và rộng 
rãi trên toàn thế giới bởi giá trị dinh dưỡng 
mà chúng mang lại. Do đó, sự gia tăng tình 
trạng dị ứng thức ăn qua trung gian kháng 
thể IgE do hải sản có vỏ gây ra đã được 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
53 
nhiều nghiên cứu báo cáo và tình trạng này 
ngày càng gia tăng ở cả người lớn và trẻ em 
[18,19]. Cục quản lý Dược phẩm và Thực 
phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã xếp hải sản có vỏ 
vào danh sách tám loại thực phẩm gây dị 
ứng phổ biến nhất. Tỷ lệ dị ứng hải sản có 
vỏ chiếm từ 0,5 đến 2,5% tùy thuộc vào vị 
trí địa lý, thói quen ăn uống và độ tuổi. 
Không giống như hầu hết các trường hợp dị 
ứng thức ăn khác, dị ứng hải sản có vỏ tồn 
tại kéo dài và có khi suốt đời, chiếm trên 
90% tổng số bệnh nhân bị dị ứng hải sản có 
vỏ và đồng thời thường liên quan đến phản 
ứng phản vệ toàn thân nghiêm trọng do 
chúng gây ra [10,14]. 
Hải sản có vỏ bao gồm động vật 
giáp xác và động vật thân mềm. Phần lớn 
động vật giáp xác là loài thường gây ra dị 
ứng [20]. Tôm là loại hải sản được sử dụng 
rộng rãi bởi hàm lượng dinh dưỡng mà 
chúng mang lại. Đó cũng là lý do tại sao tỷ 
lệ dị ứng với tôm ngày càng tăng. Có nhiều 
thành phần protein của tôm đã được xác 
định từ trọng lượng phân tử thấp đến cao 
(17 kDa đến 200 kDa). Tuy nhiên có bốn 
loại protein dị nguyên là thành phần gây dị 
ứng từ tôm đã được nhiều nghiên cứu trên 
thế giới ghi nhận bao gồm tropomyosin 
(TM), arginine kinase (AK), chuỗi nhẹ 
myosin và protein liên kết canxi chất cơ. 
Khi phân tích bằng SDS-PAGE, các thành 
phần này có trọng lượng phân tử lần lượt là 
34-38 kDa, 40-45 kDa, 17-20kDa và 20-25 
kDa [11]. Đồng thời, sự biểu hiện của các 
thành phần protein này bị hưởng bởi nhiệt 
độ. Một số nghiên cứu cho thấy ở những 
mẫu tôm được chế biến ở nhiệt độ càng cao 
thì nồng độ các protein hoà tan giảm và 
tăng nồng độ của các protein có trọng lượng 
phân tử lớn, dẫn đến sự thay đổi đáp ứng 
của IgE đặc hiệu đối với các loại dị nguyên 
protein này. 
TM là một loại protein có trong cơ, 
là thành phần gây dị ứng quan trọng được 
tìm thấy đầu tiên ở tôm [4,13]. Sự mẫn cảm 
với dị nguyên TM chiếm trên 80% ở những 
bệnh nhân dị ứng với tôm [1]. TM cũng là 
chất gây dị ứng của nhiều loài khác như tôm 
hùm, cua và động vật thân mềm như sò, 
hến. Theo bậc thang tiến hóa, có 78–98% 
axit amin của protein TM tương đồng giữa 
động vật giáp xác và mạt nhà; 80–97% 
tương đồng giữa động vật giáp xác và gián 
[16]. Do đó, TM không những là nguyên 
nhân gây ra tình trạng phản ứng chéo giữa 
các loài hải sản có vỏ với nhau mà còn là 
nguyên nhân gây ra phản ứng chéo giữa dị 
ứng thức ăn với các dị nguyên hô hấp có 
nguồn gốc từ mạt bụi nhà hoặc gián. Arlian 
L. và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu phản 
ứng chéo giữa mạt bụi nhà và tôm và đã 
chứng minh rằng IgE đặc hiệu dành cho TM 
của mạt bụi nhà (Der p10) phản ứng rất 
mạnh với TM của tôm [2]. Hay nghiên cứu 
của Fernandes J và cộng sự đã tiến hành 
trên những người tu hành bị dị ứng mạt bụi 
nhà có phản ứng với tôm mặc dù những 
người này chưa bao giờ tiếp xúc với tôm 
[7]. 
Đối với các thành phần arginine kinase 
(AK), chuỗi nhẹ myosin và protein liên kết 
canxi chất cơ cũng như nhiều thành phần 
protein khác chưa được nghiên cứu về tính 
gây dị ứng cũng như phản ứng chéo. Vì 
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo 
sát khả năng đáp ứng của IgE đặc hiệu với 
hải sản có vỏ và mối liên quan với dị ứng 
mạt bụi nhà, gián” với mục tiêu:(1) Khảo 
sát khả năng đáp ứng của IgE đặc hiệu với 
các protein tách chiết từ tôm,(2) Đánh giá 
mối liên quan giữa dị ứng hải sản có vỏ với 
dị ứng mạt bụi nhà, gián. 
2. Đối tượng và phương pháp 
2.1. Mẫu tôm 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
54 
Hai loại tôm thẻ chân trắng và tôm 
sú được mua ở chợ. Sau đó, bảo quản ở -
20°C cho đến khi được sử dụng để tiến 
hành nghiên cứu. 
2.2. Chủ thể dị ứng 
13 bệnh nhân đến khám tại Bệnh 
 viện Đại học Y Dược Huế được xác định dị 
ứng với tôm, cua và hoặc mạt, bụi nhà qua 
khai thác tiền sử dị ứng và thực hiện test lẩy 
da với chứng dương là histamine (1mg/ml), 
chứng âm là glycerin 50% (dị nguyên 
thương mại của hang ALK, US). Bệnh nhân 
có test lẩy da dương tính nếu kích thước sẩn 
>3mm so với chứng âm (Bảng 2.1). 
Bảng 1. Khai thác tiền sử và thực hiện test lẩy da 
ID 
mẫu 
HT 
Tuổi Hen 
phế 
quản dị 
ứng 
Viêm 
mũi dị 
ứng 
Dị ứng 
thức 
ăn 
Dị 
ứng 
côn 
trùng 
Kết quả test lẩy da 
Tôm Cua D. 
farinae 
D. 
pteronys-
sinus 
Gián 
1 38 Không Có Không Có Âm Âm 4 mm Âm Âm 
2 35 Không Có Không Có Âm Âm 5 mm 3 mm 4 mm 
3 34 Không Có Không Không Âm Âm 3 mm 6 mm Âm 
4 8 Có Có Không Không Âm Âm 8 mm 10 mm 6 mm 
5 6 Có Có Tôm Có 4 mm Âm 3 mm 5 mm Âm 
6 6 Có Có Không Không Âm 3 
mm 
4 mm 4 mm Âm 
7 24 Không Không Rạm Có Âm Âm 5 mm 8 mm 4 mm 
8 26 Không Không Cua Không Âm 6 
mm 
5 mm 4 mm Âm 
9 26 Không Có Tôm Có 4 mm Âm 4 mm 5 mm 4.5 
mm 
10 24 Không Có Không Có Âm Âm Âm Âm 5 mm 
11 45 Không Có Không Có 7 mm Âm Âm 6 mm Âm 
12 13 Có Có Tôm, 
cua 
Có 5 mm 4 
mm 
20x12 
mm 
7 mm Âm 
13 26 Không Không Hến Không Âm Âm 4 mm 5 mm Âm 
Sau đó, lấy huyết thanh để định 
lượng IgE đặc hiệu bằng ImmunoCAP và 
với giá trị cut off 0.35kUA/L là dương tính 
(Bảng 2.2). 
2.3. LDS-PAGE 
Các thành phần protein sau tách 
chiết được phân tách và xác định các 
protein bằng kỹ thuật điện di trên gel 
Lithium dodecyl sulfate-Polyacrylamide 
(LDS-PAGE). Sử dụng gel đúc sẵn 
(NuPAGE 4-12% Bis – Tris, Invitrogen 
Life Technologies Ltd., Paisley, UK) theo 
hướng dẫn của nhà sản xuất. Mỗi mẫu 
protein đã tách chiết được pha loãng bằng 
NuPage LDS Sample Buffer (Invitrogen) 
với thể tích bằng nhau. Sau khi chạy điện di 
với hệ thống Bio-Rad, gel được nhuộm 
bằng Colloidal Coomassie Blue (Candiano 
et al., 2004), sau đó được xác định mật độ 
bằng máy đo ChemiDoc MP System. 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
55 
2.5. Immuno Blotting 
Sau khi chạy xong LDS-PAGE, các 
protein ở trên gel được chuyển qua màng 
Nitrocellulose (0.2 µm) bằng module XCell 
II Blot. Để ngăn sự hấp thụ của các protein 
không đặc hiệu, màng được ủ với TBS có 
chứa 0,3% Tween 20 trong 30 phút và ủ 
O.N. ở 4 ° C với huyết thanh của bệnh nhân 
và một mẫu huyết thanh của người không 
có IgE đặc hiệu với dị nguyên hải sản để 
làm chứng âm được pha loãng ở tỷ lệ 1: 5. 
Sau khi ủ, màng được rửa ba lần bằng dung 
dịch rửa (TBS, 0,05% Tween 20) trong 10 
phút, và tiếp tục ủ trong 1 giờ ở nhiệt độ 
phòng với kháng thể kháng IgE của dê 
(Sera Care Life Sciences Inc., Milford, 
Massachusetts) được pha loãng 1:5000. Các 
màng được rửa ba lần và phức hợp protein-
IgE-anti-IgE được phát hiện bằng Alkaline 
Phosphatase (Bio-Rad). 
Bảng 2. Nồng độ của IgE toàn phần và IgE đặc hiệu 
ID 
IgE 
toàn 
phần 
(kU/L) 
Specific IgE (kUA/L) 
f24 
Tôm 
d202 
rDer p1 
d203 
rDer p2 
d205 
rDer p10 
Tropomyosin 
d209 
rDer p23 
1 277 0.18 0.01 0.00 0.00 0.00 
2 147 0.16 0.01 0.00 0.01 0.00 
3 97.9 0 27 0.00 0.00 0.00 0.9 
4 1849 20.40 0.06 5.54 0.06 0.04 
5 237 7.81 15.30 0.00 0.00 4.05 
6 346 0.25 0.01 0.00 0.00 0.00 
7 777 1.46 0.04 0.02 0.02 8.02 
8 560 1.61 32.30 12.30 0.02 5.35 
9 137 0.60 0.02 0.00 0.01 0.00 
10 2323 3.43 41.20 0.07 0.79 55.40 
11 834 2.91 0.04 0.02 0.02 0.02 
12 1309 2.99 0.08 0.17 4.35 0.02 
13 108 0.49 0.03 0.00 0.00 0.00 
3. Kết quả 
3.1. Kết quả LDS-PAGE của mẫu protein 
tách chiết từ tôm: 
6 mẫu protein từ tôm thẻ chân trắng 
và tôm sú ở dạng để sống, luộc và chiên 
được phân tách bằng LDS-PAGE. Khi thực 
hiện kỹ thuật này, các protein hòa tan và 
không hòa tan của mỗi loại mẫu được trộn 
thành một dịch huyền phù đồng nhất. 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
56 
Hình 3: Immunoblotting của RWL 
Kết quả LDS-PAGE cho thấy các 
thành phần tách chiết từ tôm có nhiều dải 
protein khác nhau, từ 17 đến 200 kDa. Thể 
hiện rõ nhất là protein 21 kDa và 36 kDa 
tương ứng với trọng lượng phân tử của 
protein liên kết canxi chất cơ và 
Tropomyosin. Điểm đáng chú ý có sự thể 
hiện khác nhau giữa tôm luộc và chiên so 
với tôm sống. Đó là ở tôm luộc và chiên có 
nhiều protein 21 kDa và 36 kDa hơn so với 
tôm sống. 
Bên cạnh đó, ở mẫu tôm chiên và 
luộc còn thể hiện nhiều protein trong khi ở 
tôm sống không thể hiện bao gồm các dải 
protein có trọng lượng phân tử xấp xỉ 17 
kDa, 40 kDa, 45kDa và nhiều dải khác có 
trọng lượng phân tử từ 55 đến 200 kDa. 
Protein 45 kDa tương ứng với trọng lượng 
phân tử của Arginine kinase. 
3.2. Kết quả Immunoblotting 
Sử dụng 13 mẫu huyết thanh của bệnh 
nhân được xác định có dị ứng với tôm, cua 
hoặc mạt nhà, gián với nồng độ IgE đặc hiệu 
khác nhau để thực hiện Immunobloting và kết 
quả như sau: 
3.2.1. Kết quả Immunoblotting với 
protein của tôm sống 
Hình 4: Immunoblotting của RWL 
IgE đặc hiệu của huyết thanh bệnh nhân số 
1 và số 10 cho phản ứng với protein 31 kDa 
ở trên cả tôm thẻ và tôm sú sống. Cũng với 
protein đó, trên mẫu tôm thẻ sống còn có 
thêm phản ứng ở bệnh nhân 11 và 12. 
Ngoài ra, trên mẫu tôm sú sống, thì còn 
thấy sự phản ứng với protein 66 kDa của 
các mẫu huyết thanh 1,3,4,7 (Hình 3.2, hình 
3.3). 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
57 
Hình 5: Immunoblotting của RBT 
3.2.1. Kết quả Immunoblotting với protein 
của tôm luộc 
Hình 6: Immunoblotting của BWL 
Hình 7: Immunoblotting của BBT 
Hầu hết IgE đặc hiệu của tất cả các 
mẫu huyết thanh phản ứng với protein 116 
kDa (trừ bệnh nhân 11,12 ở mẫu tôm thẻ). 
Điểm khác là với mẫu tôm sú luộc, 
còn cho thấy nhiều phản ứng của IgE đặc 
hiệu với các protein có trọng lượng phân tử 
trên 55 kDa, 66kDa, trong khi mẫu tôm thẻ 
luộc không thấy phản ứng ở những vị trí 
này (trừ ở bệnh nhân số 10). Đồng thời, trên 
mẫu tôm sú, có khá nhiều phản ứng xảy ra 
đối với protein 45 kDa như bệnh nhân 
4,6,7,8,9,11(Hình 3.4, hình 3.5). 
3.2.1. Kết quả Immunoblotting với protein 
từ tôm chiên 
Các IgE đặc hiệu phản ứng với nhiều vị trí 
trên cả mẫu tôm thẻ chiên và tôm sú chiên 
gồm protein 21kDa, 45 kDa và phản ứng rõ 
nhất thể hiện ở vị trí protein 116 kDa. Đồng 
thời một số mẫu huyết thanh còn phản ứng 
với các protein trong khoảng từ 55 đến 97 
kDa trên cả 2 loại tôm chiên như ở mẫu 
huyết thanh bệnh nhân 1,3,7,9 (Hình 3.6, 
hình 3.7). 
Hình 8: Immunoblotting của FWL 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
58 
 Hình 9: Immunoblotting của FBT 
4. Bản luận 
Với kỹ thuật điện di LDS-PAGE đã 
cho chúng ta thấy sự phân bổ các protein 
tách chiết từ tôm, với hai loại tôm thường 
được dùng nhiều ở Việt Nam là tôm thẻ 
chân trắng và tôm sú. Sự phân bổ các 
protein của hai loại này là giống nhau. Các 
dải được xác định ở các vị trí 21, 31, 36, 45, 
66, 97 và 116 kDa và mức độ biểu hiện của 
mỗi dải là khác nhau. Bên cạnh đó, theo kết 
quả điện di LDS-PAGE xuất hiện các dải 
protein ở các vị trí có trọng lượng phân tử 
cao (từ 55 đến 116 kDa) ở các mẫu tôm 
luộc và tôm chiên, trong khi ở các mẫu tôm 
sống thì không có sự biểu hiện. Có lẽ điều 
này là do ảnh hưởng của quy trình chế biến 
dẫn đến sự kết tủa protein. Kết quả này 
tương tự với kết quả nghiên cứu của 
Jarupalee và cộng sự [10] (2018) hay 
nghiên cứu của Sahabudin và cộng sự [17] 
(2011). 
Chúng tôi đã tiến khảo sát phản ứng 
IgE đặc hiệu với các protein tách chiết từ 
tôm bằng cách sử dụng huyết thanh của 13 
bệnh nhân có tiền sử dị ứng với tôm/cua, 
gián, mạt nhà kèm test lẩy da dương tính và 
định lượng IgE đặc hiệu bằng immunoCAP. 
Bằng cách sử dụng Immunoblotting, IgE 
đặc hiệu gắn lên các protein ở các vị trí 
khác nhau và qua đó thể hiện sự phản ứng 
của chúng. Kết quả cụ thể là IgE đặc hiệu ở 
hầu hết các mẫu huyết thanh của bệnh nhân 
phản ứng dương tính với protein của tôm có 
trọng lượng phân tử 21 kDa, 45 kDa và 116 
kDa. Các protein này lần lượt có thể là 
protein liên kết canxi chất cơ, Arginine 
kinase và Paramyosin. Hai thành phần là 
protein liên kết canxi chất cơ, Arginine 
kinase đã được biết đến như những chất gây 
dị ứng ở động vật không xương sống, bao 
gồm tôm, cua, gián và mạt bụi nhà. Kết quả 
này tương tự như nhiều nghiên cứu trước 
đây về các dị nguyên gây dị ứng của tôm 
hay của các loại hải sản có vỏ [6,10]. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy 
hầu hết không có sự phản ứng của IgE đặc 
hiệu với protein 36 kDa (chỉ có ở mẫu huyết 
thanh 10 và 12) tương ứng với trọng lượng 
phân tử của tropomysin, điều này có thể do 
số lượng mẫu huyết thanh còn quá ít nên 
chưa thể đánh giá. Trong khi đó, hầu hết các 
mẫu đều cho phản ứng với protein 116 kDa, 
đặc biệt là khi các mẫu protein được xử lý ở 
nhiệt độ càng cao thì phản ứng càng 
mạnh.Với loại protein này thì chưa được 
xác định cụ thể đó là loại protein nào, theo 
một vài nghiên cứu có thể là Paramyosin, vì 
vậy cần thực hiện các kỹ thuật khác để xác 
định chính xác loại nào bởi vì đây có thể 
cũng là loại dị nguyên gây dị ứng phổ biến 
trên tôm nói riêng và các loại hải sản nói 
chung. 
Qua nghiên cứu của chúng tôi còn 
ghi nhận rằng sự phản ứng của IgE đặc hiệu 
còn ảnh hưởng bởi giống loài và cách chế 
biến. Cụ thể là đa phần các phản ứng của 
IgE đặc hiệu với các protein từ tôm sú thể 
hiện phong phú và mạnh mẽ hơn so với các 
protein từ tôm thẻ chân trắng. Quá trình chế 
biến sử dụng nhiệt càng cao thì mức độ 
phản ứng càng tăng. Cho nên hầu hết các 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
59 
mẫu huyết thanh đều cho phản ứng với 
protein 21 kDa, 45kDa cũng như 116 kDa 
của tôm luộc và tôm chiên. Bởi các thành 
phần có thể là các protein bền với nhiệt 
hoặc cũng có thể là vẫn được IgE đặc hiệu 
kết hợp sau khi xử lý như ở một số nghiên 
cứu khác. Trên những bệnh nhân không có 
tiền sử dị ứng với hải sản có vỏ, có test lẩy 
da dương tính với mạt bụi nhà, gián; cũng 
như không có IgE đặc hiệu với tôm (bao 
gồm bệnh nhân số 1, 2, 3, 6) đều có phản 
ứng với protein 21 kDa, 45kDa, 116 kDa. 
Hay là những bệnh nhân có IgE đặc hiệu 
cho tôm thấp, nhưng IgE đặc hiệu cho mạt 
bụi nhà cao (bao gồm bệnh nhân số 8, 10, 
12) cũng cho phản ứng rất rõ với protein 21 
kDa, 45 kDa, 116 kDa đặc biệt là trên bệnh 
nhân số 12 có IgE đặc hiệu dành cho 
tropomyosin của rDer p10 4,35 kUA / L 
cho phản ứng với protein 36 kDa tương ứng 
với vị trí của tropomyosin từ tôm rất mạnh. 
Điều này có thể nghĩ đến là do phản ứng 
chéo xảy ra do một số protein của mạt bụi 
nhà hoặc gián với với một số protein của 
tôm vì chúng có sự tương đồng về cấu trúc. 
Thể hiện rõ nhất là qua sự phản ứng của IgE 
đặc hiệu với tropomyosin. Đây là thành 
phần được biết đến như một dị nguyên gây 
phản ứng chéo do trình tự acid amine tương 
đồng lên đến 95-100% giữa các loại hải sản 
có vỏ và 55-70% ở các loại động vật khác 
như mạt bụi nhà, gián. Bên cạnh đó, 
arginine kinase, protein gắn canxi chất cơ 
cũng liên quan đến phản ứng chéo giữa 
động vật giáp xác, mạt bụi nhà và côn trùng 
đã được xác định. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi còn phát hiện thêm phản ứng chéo 
với protein 116 kDa, tuy nhiên thành phần 
này vẫn chưa được xác định cụ thể. 
5. Kết luận 
Bằng kỹ thuật LDS-PAGE đã cho 
thấy sự phân bố của các protein của cả hai 
loại tôm thẻ chân trắng và tôm sú, từ 21kDa 
đế 200 kDa và sự phân bố này là tương tự 
nhau ở cả 2 loại tôm. Với các mẫu tôm 
được nấu chín thì cho thấy có sự gia tăng số 
lượng các dải protein ở trọng lượng phân tử 
cao (từ 66 đến 200 kDa) trong khi ở dạng 
tôm sống thì không thể hiện. 
Bằng kỹ thuật Immunoblotting đã 
cho thấy hầu hết IgE đặc hiệu của các bệnh 
nhân đều phản ứng với protein của tôm có 
trọng lượng phân tử 21 kDa, 45 kDa và 116 
kDa. Trong đó protein 21 kDa và 45 kDa 
tương ứng với vị trí của protein gắn canxi 
chất cơ và arginine kinase, là những dị 
nguyên gây dị ứng phổ biển, còn protein 
116 kDa chưa xác định cụ thể cần thực hiện 
các kỹ thuật khác như LC-MS/MS để xác 
định chính xác. Ởmẫu protein được xử lý 
nhiệt càng cao thì phản ứng IgE đặc hiệu 
càng thể hiện rõ. 
Ngoài ra, phản ứng chéo xảy ra giữa 
IgE đặc hiệu trên các bệnh nhân có dị ứng 
với mạt bụi nhà hoặc gián không có hoặc có 
nồng độ IgE đặc hiệu cho tôm thấp cũng 
cho phản ứng các protein của tôm, thể hiện 
rõ nét ở bệnh nhân có IgE đặc hiệu dành 
cho tropomyosin của mạt bụi nhà phản ứng 
với tropomysin của tôm. 
Sự kết hợp giữa LDS-PAGE với 
Immunoblotting rất hữu ích để xác định 
mức độ phản ứng của IgE đặc hiệu trong 
huyết thanh bệnh nhân với các thành phần 
gây dị ứng của tôm nói riêng và của các loại 
hải sản có vỏ nói chung, đồng thời giúp 
đánh giá khả năng phản ứng chéo giữa một 
dị nguyên của tôm trên những bệnh nhân dị 
ứng với mạt bụi nhà hoặc gián. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Albrecht M, Alessandri S, Conti A, 
Reuter A, Lauer I, Vieths S and Reese 
G (2008): High level expression, 
purification and physico- and 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
60 
immunochemical characterisation of 
recombinant Pen a 1: A major allergen 
of shrimp. Mol Nutr Food Res. 52 
(Suppl 2):S186–S195. 
[2] Arlian L, Morgan M, Vyszenski-Moher 
D, Sharra D (2009). Cross-reactivity 
between storage and dust mites and 
between mites and 
shrimp. Experimental and Applied 
Acarology. 47:159–72 
[3] Baumert, J. L. Detecting and 
Measuring Allergens in Food. Risk 
Management for Food Allergy 
(Elsevier, 2013). 
[4] Daul C, Slattery M, Reese G and 
Lehrer SB (1994): Identification of the 
major brown shrimp (Penaeus aztecus) 
allergen as the muscle protein 
tropomyosin. Int Arch Allergy 
Immunol. 105:49–55. 
[5] Eigenmann, P. A (2007). The spectrum 
of cow’s milk allergy. Pediatr. Allergy 
Immunol.18, 265-271. 
[6] Faber, M. A., Pascal, M., El 
Kharbouchi, O., Sabato, V., 
Hagendorens, M. M., Decuyper, I. I., 
Ebo, D. G. (2017a). Shellfish allergens: 
tropomyosin and beyond. Allergy: 
European Journal of Allergy and 
Clinical Immunology, 72(6), 842–848. 
[7] Fernandes J, Reshef A, Patton L, 
Ayuso R, Reese G, Lehrer SB (2003). 
Immunoglobulin E antibody reactivity 
to the major shrimp allergen, 
tropomyosin, in unexposed Orthodox 
Jews. Clinical and Experimental 
Allergy. ;33:956–61 
[8] Gelincik, A. et al.(2008). Confirmed 
prevalence of food allergy and non-
allergic food hypersensitivity in a 
Mediterranean population. Clin. Exp. 
Allergy38, 1333–1341 
[9] Jarupalee, T., Chatchatee, P., 
Komolpis, K., Suratannon, N., 
Roytrakul, S., Yingchutrakul, Y., 
Palaga, T. (2018). Detecting allergens 
from black tiger shrimp penaeus 
monodon that can bind and cross-link 
IgE by ELISA, western blot, and a 
humanized rat basophilic leukemia 
reporter cell line RS-ATL8. Allergy, 
Asthma and Immunology Research, 
10(1), 62–76. 
[10] Khora SS (2016): Seafood‑associated 
shellfish allergy: A comprehensive 
review. immunol invest 45: 504-530. 
[11] Liang, Y.L., Cao, M.J., Su, W.J., 
Zhang, L.J., Huang, Y.Y. and Liu, 
G.M. (2008). Identification and 
characterisation of the major allergen 
of Chinese mitten crab (Eriocheir 
sinensis). Food Chemistry 111: 998-
1003. 
[12] Lu, Y., Ohshima, T., Ushio, H., 
Hamada, Y. and Shiomi, K. (2007). 
Immunological characteristics of 
monoclonal antibodies against shellfish 
major allergen tropomyosin. Food 
Chemistry 100: 1093-1099 
[13] Naqpal S, Rajappa L, Metcalfe DD and 
Rao PV (1989): Isolation and 
characterization of heat-stable allergens 
from shrimp (Penaeus indicus). J 
Allergy Clin Immunol. 83:26–36. 
[14] Huong NTM, Hoa NPA, Ngoc ND. 
Application of Biotechnology in 
Detection ATP7B Gene Mutation in 
Vietnamese Children with Wilson 
Disease and Screening Target Mutation 
for Their Family Members. Journal of 
Pediatric Research and Practice 
2020;5:10-20. 
https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.227 
[15] Rona, R. J. et al. (2007). The 
prevalence of food allergy: A meta-
analysis. J. Allergy Clin. Immunol.120, 
638–646 
 N.T.Huyen et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 6 (2020) 51-61 
61 
[16] Ruethers T, Taki AC, Johnston EB, 
Nugraha R, Le TTK, Kalic T, McLean 
TR, Kamath SD and Lopata AL (2018): 
Seafood allergy: A comprehensive 
review of fish and shellfish allergens. 
Mol Immunol. 100:28–57. 
[17] Sahabudin, S., Misnan, R., Yadzir, Z. 
H. M., Mohamad, J., Abdullah, N., 
Bakhtiar, F., & Murad, S. (2011b). 
Identification of major and minor 
allergens of black tiger prawn (Penaeus 
monodon) and king prawn (Penaeus 
latisulcatus). Malaysian Journal of 
Medical Sciences, 18(3), 27–32. 
[18] Shek LPC, Cabrera-Morales EA, Soh 
SE, Gerez I, Ng PZ, Yi FC, et al 
(2010). A population-based 
questionnaire survey on the prevalence 
of peanut, tree nut, and shellfish allergy 
in 2 Asian populations. Journal of 
Allergy and Clinical 
Immunology ;126:324–U50. 
[19] Hoa NTM, Le NNQ, Huong LTM. 
Food Allergy in Ashtmatic Children. 
Journal of Pediatric Research and 
Practice 2018;6:37-43. 
https://doi.org/10.25073/jprp.v0i6.130 
[20] Woo, C.K. and Bahna, S.M. (2011) 
Not all shellfish “allergy” is allergy!. 
Clinical Translational Allergy 1: 1-7. 

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kha_nang_dap_ung_cua_ige_dac_hieu_voi_hai_san_co_vo.pdf