Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng

Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu lan tỏa là lo lắng thái quá, cường điệu về sức khỏe, tiền bạc, gia đình sẽ ảnh

hưởng đến sức lao động, giảm chất lượng cuộc sống. Biểu hiện là các triệu chứng cơ thể nên ít được chẩn đoán

sớm và điều trị đúng.

Mục tiêu: (1) Mô tả các đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị

tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. (2) So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, nghề nghiệp. (3) Mối tương

quan với trầm cảm.

Đối tượng và Phương pháp: 62 người bệnh từ 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà

Nẵng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Kết quả: Tỷ lệ rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ là 30,6%, trung bình 56,5% và nặng là 12,9%. Tỷ lệ lo âu của

nữ cao hơn nam, nhóm tuổi trên 65 khởi phát bệnh nặng là 100%.

Kết luận: Cần có nhiều biện pháp để phát hiện sớm rối loạn lo âu lan tỏa tại cộng đồng và cách điều trị thích

hợp cho người bệnh.

pdf 7 trang phuongnguyen 620
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng

Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 190 
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA 
TRÊN NGƯỜI BỆNH TỪ 18 TUỔI KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ 
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐÀ NẴNG 
Tống Thị Luyến1, Nguyễn Thị Mỹ Anh2, Nguyễn Phan Vân Anh2, Nguyễn Ngọc Thảo Ly2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu lan tỏa là lo lắng thái quá, cường điệu về sức khỏe, tiền bạc, gia đình sẽ ảnh 
hưởng đến sức lao động, giảm chất lượng cuộc sống. Biểu hiện là các triệu chứng cơ thể nên ít được chẩn đoán 
sớm và điều trị đúng. 
Mục tiêu: (1) Mô tả các đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị 
tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. (2) So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, nghề nghiệp. (3) Mối tương 
quan với trầm cảm. 
Đối tượng và Phương pháp: 62 người bệnh từ 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà 
Nẵng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Kết quả: Tỷ lệ rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ là 30,6%, trung bình 56,5% và nặng là 12,9%. Tỷ lệ lo âu của 
nữ cao hơn nam, nhóm tuổi trên 65 khởi phát bệnh nặng là 100%. 
Kết luận: Cần có nhiều biện pháp để phát hiện sớm rối loạn lo âu lan tỏa tại cộng đồng và cách điều trị thích 
hợp cho người bệnh. 
Từ khóa: rối loạn lo âu lan tỏa, người bệnh, bệnh viện tâm thần 
ABSTRACT 
RESEARCH ON THE CLINICAL FEATURES OF GENERALIZED ANXIETY DISORDER 
IN PATIENTS AGED 18 YEARS SEE AND RULED THE DOCTOR AT DA NANG PSYCHIATRIC 
HOSPITAL 
Tong Thi Luyen, Nguyen Thi My Anh, Nguyen Phan Van Anh, Nguyen Ngoc Thao Ly 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 190 - 196 
Background: Generalized anxiety disorder (GAD) is excessive anxiety, hypes about health, money and 
family which can affect the labor force, reduce the quality of life. GAD’s manifestations are multiple body 
symptoms so it is less early diagnosed and properly treated. Attention should be paid to this issue in Da 
Nang City. 
Objectives: Have 3 goals: (1) Described clinical features of generalized anxiety disorder in patients 18 years 
or older were examined and treated by the doctor at Da Nang Psychiatric Hospital. (2) Compare anxiety disorders 
on gender, age, occupation, (3) Correlation with depression. 
Methods: 62 patients 18 years or older were examined and treated by the doctor at Da Nang Psychiatric 
Hospital. Cross-sectional study. 
Results: The rate of anxiety disorder, mild was 30.6%, moderate was 56.5% and severe was 12.9%. The 
anxiety in women is higher than in men, age group over 65 onset of serious illness is 100%. 
Conclusion: There should be various measures for early detection of generalized anxiety disorder in the 
community and appropriate treatment for patients. 
Keywords: generalized anxiety disorder, the patients, psychiatric hospital 
1Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng 2Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng 
Tác giả liên lạc: BSCKII. Tống Thị Luyến ĐT: 0983457471 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 191 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) được đặc 
trưng bởi sự lo lắng thái quá, cường điệu và lo 
lắng về các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày 
mà không có lý do rõ ràng để lo lắng, họ có xu 
hướng luôn mong đợi thảm họa và không thể 
ngừng lo lắng về sức khỏe, tiền bạc, gia đình, 
công việc, có thể ảnh hưởng đến sức lao động, 
tăng nguy cơ mất việc làm, giảm chất lượng cuộc 
sống. Biểu hiện của RLLALT đa dạng bởi các 
triệu chứng cơ thể khác nhau khiến con người 
luôn có tâm lý khó chịu và nặng hơn có thể biểu 
hiện ở dạng bệnh lý(1). 
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc 
RLLALT ở lứa tuổi từ 18 trở lên là 10% - 18%. 
Tại Mỹ, tỷ lệ mắc RLLALT trong cả đời người 
là 5,7%, trong đó tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp 
đôi so với nam giới. Mặc dù RLLALT gặp ở 
mọi lứa tuổi, nhưng có đến 75% người bệnh 
phát bệnh trước 47 tuổi, tuổi trung bình phát 
bệnh là 31. Ở người lớn tuổi tỷ lệ bị RLLALT 
cũng tăng lên (7%)(2). 
Những năm gần đây tỉ lệ người bệnh mắc 
bệnh này đến khám và điều trị tại Bệnh viện 
tâm thần Đà Nẵng ngày càng nhiều nhưng 
hầu hết là người bệnh đã đi khám ở nhiều 
chuyên khoa khác, mất nhiều thời gian, công 
sức và tiền bạc, họ đến khám ở chuyên khoa 
tâm thần thường là giai đoạn muộn. Nên vấn 
đề điều trị khó khăn và kéo dài. Do đó chúng 
tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát đặc 
điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người 
bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại bệnh viện 
Tâm thần Đà Nẵng” với 3 mục tiêu: 
Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn lo âu 
lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều 
trị tại bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. 
So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, 
nghề nghiệp. 
Mối tương quan với trầm cảm. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Gồm 62 người bệnh đến khám và điều trị tại 
bệnh viện Tâm thần Thành phố Đà Nẵng từ 
tháng 03/2019-10/2019, được chẩn đoán rối loạn 
lo âu lan tỏa theo ICD10 được mô tả ở chương F4 
là “các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress 
và dạng cơ thể”, trong đó rối loạn lo âu lan tỏa 
thuộc mục F41.1. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Những người bệnh có bệnh lý nội khoa 
chuyển hóa, tổn thương thực thể não kèm theo 
mà không thể giải thích được các triệu chứng về 
lo âu; bệnh nghiện chất, lạm dụng chất. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
Chọn 62 mẫu dựa trên công thức tính cỡ 
mẫu (Nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc 
(2016)(3) thì p=0,04). 
Phương pháp chọn mẫu: 
Chọn mẫu thuận tiện. 
Công cụ đánh giá 
Bộ câu hỏi cấu trúc gồm 3 phần, bao gồm: 
đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội, tình trạng 
bệnh, thang đánh giá lo âu Zung (đã được chuẩn 
hóa với 5 mức độ: không lo âu ≤40 điểm; lo âu 
mức độ nhẹ: 41-50 điểm; lo âu mức độ trung 
bình: 51-60 điểm; lo âu mức độ nặng: 61-70 điểm; 
lo âu mức độ rất nặng: 71-80 điểm). 
Xử lý số liệu 
Số liệu thu thập được sẽ được xử lý theo 
phương pháp thống kê toán học bằng phần 
mềm SPSS. Các chỉ số, biến số đặc điểm kinh tế-
văn hóa-xã hội, tình trạng bệnh, và biến số về rối 
loạn lo âu lan tỏa được thống kê về tần số, tỷ lệ 
%, giá trị p, được kiểm định bằng các kiểm định 
Chi bình phương, mối tương quan pearson. 
KẾT QUẢ 
Nhóm tuổi từ 46-55 chiếm 33,9%, là nhóm có 
tỷ lệ cao nhất. Ít nhất là nhóm tuổi 18-25 và trên 
65 chiếm 3,2%. Độ tuổi trung bình của nhóm đối 
tượng nghiên cứu là 45,45±11,24 (Bảng 1). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 192 
Bảng 1: Phân bố nhóm tuổi 
Nhóm tuổi n=62 % Tuổi trung bình 
18-25 2 3,2 
45,45 ± 11,24 
26-35 12 19,4 
36-45 16 25,8 
46-55 21 33,9 
56-65 9 14,5 
>65 2 3,2 
Bảng 2: Triệu chứng khởi phát của RLLALT (n=62) 
Triệu chứng 
Nam 
(n=20) 
Nữ (n=42) Tổng 
P 
n % n % n % 
Khó ngủ 19 95 40 95,2 59 95,2 >0,05 
Hồi hộp, tim đập 
nhanh 
16 80 36 85,7 52 83,9 >0,05 
Khó chịu vùng 
thượng vị 
6 30 22 52,4 28 45,2 >0,05 
Cảm giác tê, châm 
chích 
11 55 19 45,2 30 48,4 >0,05 
Run tay chân 6 30 13 31 19 30,6 >0,05 
Căng thẳng, bồn chồn 5 25 18 42,9 23 37,1 >0,05 
Lo lắng quá mức 9 45 27 64,3 36 58,1 >0,05 
Các triệu chứng khởi phát là khó ngủ, chiếm 
95,2%. Các triệu chứng hồi hộp, tim đập nhanh 
83,9%, lo lắng quá mức 58,1%, cảm giác tê châm 
chích 48,4%, khó chịu vùng thượng vị 45,2%, 
căng thẳng bồn chồn chiếm tỷ lệ thấp và ít xuất 
hiện hơn 37,1%. Chỉ có khoảng 30,6% người 
bệnh có triệu chứng khởi phát run tay chân. 
Nhìn chung, không thấy sự khác biệt có ý nghĩa 
giữa hai giới p >0,05 (Bảng 2). 
Bảng 3: Các triệu chứng tâm thần của RLLALT 
(n=62) 
Các triệu chứng tâm thần n Tỷ lệ (%) 
Khó ngủ 54 87,1 
Dễ giật mình 56 90,3 
Bồn chồn 59 95,2 
Căng thẳng tâm thần 56 90,3 
Sợ mất kiềm chế 50 80,6 
Sợ chết 43 69,4 
Khó tập trung 53 85,5 
Cáu kỉnh dai dẳng 55 88,7 
Triệu chứng bồn chồn chiếm tỉ lệ cao nhất 
95,2%, căng thẳng tâm thần và dễ giật mình đều 
chiếm 90,3%, triệu chứng cáu kỉnh dai dẳng 
88,7%, khó ngủ 87,1%, khó tập trung hay sợ mất 
kiềm chế ít xuất hiện hơn. Ít gặp hơn là triệu 
chứng sợ chết 69,4% (Bảng 3). 
Bảng 4: Các triệu chứng tim mạch, tiêu hoá (n=62) 
Triệu chứng tim mạch, tiêu hóa n Tỷ lệ (%) 
Hồi hộp tim đập nhanh 57 91,9 
Cảm giác khó thở 51 82,3 
Cảm giác nuốt nghẹn 43 69,4 
Đau, khó chịu ở ngực 49 79 
Khô miệng 52 83,9 
Buồn nôn, đau bụng, khó chịu thượng vị 50 80,6 
Các triệu chứng tim mạch: hồi hộp, tim đập 
nhanh chiếm tỉ lệ cao nhất 91,9%, cảm giác khó 
thở 82,3%, đau, khó chịu ở ngực 79%, các triệu 
chứng tiêu hoá như: khô miệng 83,9%, buồn 
nôn, đau bụng, khó chịu thượng vị 80,6%. Triệu 
chứng cảm giác nuốt nghẹn ít gặp nhất 69,4% 
(Bảng 4). 
Bảng 5: Các triệu chứng cơ thể khác (n=62) 
Triệu chứng cơ thể khác n Tỷ lệ (%) 
Căng cơ, đau 42 67,7 
Tê cóng, kim châm 47 75,8 
Cơn nóng bừng, ớn lạnh 56 90,3 
Run 53 85,5 
Vã mồ hôi 52 83,9 
Chóng mặt, choáng váng, ngất xỉu 55 88,7 
Triệu chứng gặp nhiều nhất là cơn nóng 
bừng, ớn lạnh với tỷ lệ cao chiếm 90,3%. Tiếp 
đến là triệu chứng chóng mặt, choáng váng, ngất 
xỉu 88,7%, run, vã mồ hôi xuất hiện khá thường 
xuyên >80%. Triệu chứng căng cơ, đau ít gặp ở 
người bệnh nhất chỉ có 67,7% (Bảng 5). 
Bảng 6: Mức độ rối loạn lo âu theo thang điểm lo âu 
Zung (n=62) 
Mức độ rối loạn lo âu n Tỷ lệ (%) 
Nhẹ 19 30,6 
Trung bình 35 56,5 
Nặng 8 12,9 
Phần lớn người bệnh có tỷ lệ mức trung bình 
chiếm 56,5%. Tiếp theo là 30,6% người ở mức độ 
nhẹ và mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất với 
12,9% (Bảng 6). 
Bảng 7: Tỷ lệ giữa mức độ rối loạn lo âu và giới tính 
(n=62) 
Mức độ rối loạn 
Nam 
(n=20) 
Nữ (n=42) Tổng 
P 
n % n % n % 
Nhẹ 6 9,7 13 21 19 30,7 
P>0.0
5 
Trung bình 12 19,4 23 37,1 35 56,5 
Nặng 2 3,2 6 9,7 8 12,9 
Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 
Nhìn chung tỷ lệ bệnh của nữ gi
hơn so với nam. Lo âu ở nữ có mứ
bình chiếm tỷ lệ cao nhất 37,1%, tiếp theo là m
độ nhẹ 21% và chiếm tỷ lệ thấp nhất là m
nặng 9,7%. Nam giới có mức độ 
19,4%, nhẹ 9,7% và nặng chiếm ít 
(Bảng 7). 
Bảng 8: Tỷ lệ giữa nhóm tuổi khởi phát b
độ rối loạn lo âu (n=62) 
Nhóm 
tuổi 
Nhẹ 
(n=19) 
Trung 
bình 
(n=35) 
Nặng 
(n=8) 
T
(n=62)
n % n % n
18 - 25 0 0 2 100 0 0 2
26 - 35 6 50 6 50 0 0 12
36 - 45 5 31,2 10 62,5 1 6,2 16
46 - 55 8 38,1 10 47,6 3 14,3 21
56 – 65 0 0 7 77,8 2 22,2 9
>65 0 0 0 0 2 100 2
Mức độ rối loạn lo âu trung bình xu
hầu hết các nhóm tuổi. 100% nhóm tu
âu ở mức độ trung bình. Nhóm tuổ
mức độ lo âu trung bình chiếm 50%, nhóm tu
36-45 mức độ lo âu trung bình là 62,5%. Nhóm 
tuổi 46-55 lo âu trung bình là 47,6%. Nhóm tu
56-65 lo âu trung bình chiếm 77,8%. Ở
tượng trên 65 tuổi, lo âu ở mức độ n
100%. Tỷ lệ này ít hơn ở các nhóm tu
không xuất hiện ở nhóm từ 18-25 tuổ
từ 26-35 tuổi. Có sự khác biệt có ý ngh
kê giữa nhóm tuổi khởi phát bệnh và m
loạn lo âu (p <0,05) (Bảng 8). 
Bảng 9: Các chuyên khoa đã khám, điều tr
đến khám tâm thần (n=62) 
Các chuyên khoa n 
Tim mạch 60 
Hô hấp 19 
Thần kinh 28 
Nội tiết 15 
Tiêu hóa 44 
Cơ xương khớp 27 
Đông y 26 
Có đến 96,8% đối tượng nghiên c
khám chuyên khoa tim mạch trướ
khám tâm thần. Số người đến khám tiêu hóa 
trước khi đi khám chuyên khoa tâm th
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25
ới luôn cao 
c độ trung 
ức 
ức độ 
trung bình 
nhất 3,2% 
ệnh và mức 
ổng 
 P 
 % 
 3,2 
P<0,0
5 
 19,4 
 25,8 
 33,9 
 14,5 
 3,2 
ất hiện ở 
ổi 18-25 lo 
i 26-35 thì 
ổi 
ổi 
 nhóm đối 
ặng chiếm 
ổi khác, 
i và nhóm 
ĩa thống 
ức độ rối 
ị trước khi 
Tỷ lệ (%) 
96,8 
30,6 
45,2 
24,2 
71 
43,5 
41,9 
ứu đến 
c khi đến 
ần là 71%. 
Tiếp đến là các chuyên khoa thầ
khớp và đông y (Bảng 9). 
54,8% số người cho biết lý do không đ
khám chuyên khoa tâm thần là do s
tâm thần. Số người không biế
thần là nơi điều trị rối loạn lo âu lan t
27,4% và tỷ lệ người tham gia nghiên c
cảm với bệnh tâm thần là 17,7% 
Bảng 10: Lý do không đến khám chuyên khoa tâm 
thần sớm (n=62) 
Lý do 
Sợ mắc bệnh tâm thần 
Mặc cảm với bệnh tâm thần 
Không biết BVTT là nơi điều trị RLLALT
Bảng 11: Thời gian từ khi xuất hiệ
khi được điều trị CKTT (n=62) 
Thời gian n 
Dưới 1 năm 10 
1 - 2 năm 17 
>2 - 3 năm 7 
>3 - 4 năm 14 
>4 – 5 năm 6 
Trên 5 năm 8 
Phần lớn bệnh nhân sau 1-
triệu chứng thì mới đến khám và đi
chuyên khoa tâm thần, chiếm t
có 16,1% đối tượng được điều tr
tâm thần trong vòng 1 năm xu
chứng (Bảng 11). 
Bảng 12: Tiền sử gia đình (n=62) 
Gia đình có người mắc 
Trầm cả
RLLA
Người có tiền sử gia đình m
cảm lần lượt là 12,9% và 3,2% (B
Hình 1: Mối tương quan giữa mứ
lan toả với trầm cảm (n=62)
P<0,001, r = 0,46, 
 * Số 2 * 2021 
193 
n kinh, cơ xương 
ến 
ợ mắc bệnh 
t Bệnh viện Tâm 
ỏa chiếm 
ứu mặc 
(Bảng 10). 
n Tỷ lệ (%) 
34 54,8 
11 17,7 
 17 27,4 
n triệu chứng đến 
Tỷ lệ (%) 
16,1 
27,4 
11,3 
22,6 
9,7 
12,9 
2 năm xuất hiện 
ều trị 
ỷ lệ 27,4%. Chỉ 
ị chuyên khoa 
ất hiện triệu 
m 2 3,2 
P< 0,005 
 8 12,9 
ắc RLLA, trầm 
ảng 12). 
c độ rối loạn lo âu 
n=62 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 194 
Thống kê cho thấy có mối tương quan thuận 
giữa rối loạn lo âu lan tỏa với trầm cảm trên 
bệnh nhân (Hình 1). 
BÀN LUẬN 
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 
mắc bệnh chủ yếu từ 46-55 tuổi, chiếm 33,9%. 
Đây là nhóm người trong độ tuổi lao động, 
nên gặp nhiều sang chấn tâm lý trong cuộc 
sống và áp lực trong công việc. Tiếp theo là 
nhóm tuổi từ 36-45 chiếm 25,8%. Ít gặp nhất là 
nhóm đối tượng tuổi từ 18-25 và trên 65 tuổi, 
chỉ chiếm 3,2%. Nghiên cứu của chúng tôi 
cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần 
Nguyễn Ngọc-Nguyễn Kim Việt (2016)(2). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trung 
bình là 45,45±11,24 cao hơn so với nghiên cứu 
của Kessler RC (2005)(3) với tuổi trung bình là 
31. Sự khác biệt này có thể do sự khác nhau 
trong cách thu thập số liệu nghiên cứu. Kessler 
RC thực hiện nghiên cứu tại cộng đồng, còn 
chúng tôi nghiên cứu trên các đối tượng người 
bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện. 
Nghiên cứu cho thấy RLLALT thường gặp 
nhiều ở nữ giới hơn nam giới (67,8% và 32,2%). 
Điều này có thể được giải thích là do trong cuộc 
sống phụ nữ có nhiều giai đoạn thay đổi về nội 
tiết như thời kỳ mang thai, sinh đẻ, giai đoạn 
tiền mãn kinh. Ngoài ra, dưới sự tác động của 
các yếu tố tâm lý và văn hoá nên nữ giới thường 
than phiền về bệnh nhiều hơn nam giới, cũng có 
yếu tố di truyền liên quan đến lo âu của người 
bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp 
với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. 
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Bình (2010)(4) 
cho thấy rối loạn lo âu lan tỏa gặp ở nữ nhiều 
hơn nam (tỷ lệ nữ/nam là 8/1). Nghiên cứu của 
Trần Nguyễn Ngọc-Nguyễn Kim Việt (2016) cho 
thấy tỉ lệ mắc nữ cao hơn nam(57,78% và 
42,22%)(2). 
Người bệnh thường có nhiều hơn 1 triệu 
khởi phát, các triệu chứng khởi phát thường gặp 
của người bệnh nghiên cứu là triệu chứng khó 
ngủ 95,2%, hồi hộp, tim đập nhanh 83,9%, lo 
lắng quá mức 58,1%. Trong phần bệnh nguyên 
đã cho thấy nguyên nhân xuất hiện các triệu 
chứng của RLLALT là do rối loạn các chất dẫn 
truyền thần kinh và tăng kích hoạt thần kinh 
giao cảm(5). Sự tăng hoạt động thần kinh giao 
cảm làm tim đập nhanh mạnh, tăng hồi hộp, 
đánh trống ngực. Triệu chứng tim đập nhanh 
được người bệnh cảm nhận nhiều và luôn lo 
lắng về điều đó. Sự lo lắng liên tục càng làm xuất 
hiện tình trạng tim đập nhanh, mạnh và hồi hộp. 
Tiếp theo là các triệu chứng cảm giác tê, châm 
chích 48,4%, triệu chứng căng thẳng tâm thần 
37,1% và triệu chứng run tay chân ít gặp nhất 
30,6%. Tình huống người bệnh đã đi khám tại 
các chuyên khoa khác không phải chuyên khoa 
Tâm thần một phần vì các triệu chứng khởi phát 
của rối loạn lo âu lan tỏa rất dễ bị nhầm lẫn với 
các bệnh khác. Nghiên cứu này cũng phù hợp 
với nghiên cứu của Nguyễn Phước Bình, người 
bệnh RLLALT hầu hết thường gặp là triệu 
chứng khó ngủ chiếm 74%, tiếp đến là hồi hộp 
tim đập nhanh chiếm 62%(4). Triệu chứng bồn 
chồn, bất an chiếm tỉ lệ cao 95,2%, cảm giác tù 
túng hoặc căng thẳng tâm thần, dễ giật mình 
đều chiếm tỉ lệ 90,3%. Khi có RLLALT người 
bệnh rất khó thư giãn nên luôn bồn chồn, bất an, 
dễ giật mình, cảm nhận quá mức về các mối 
nguy hiểm, luôn chờ đợi những điều xấu xảy ra 
nên rất khó ngủ là 87,1%, rất dễ cáu kỉnh dai 
dẳng 88,7% và khó tập trung 85,5%. Kết quả trên 
cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Nguyễn 
Ngọc (2016)(2). 
Kết quả nghiên cứu cho thấy 91,9% biểu hiện 
hồi hộp tim đập nhanh, cảm giác khó thở 82,3%, 
đau, khó chịu ở ngực 79%. Theo tác giả 
Hocaoglu C (2011), khi lo lắng quá mức và căng 
thẳng thần kinh kéo dài, các phản ứng sinh lý 
trong cơ thể về thay đổi hóc môn và huy động 
năng lượng và chất béo xuất hiện liên tục, sẽ gây 
ra tình trạng tăng huyết áp và nhịp tim, gây rối 
loạn huyết động, biến đổi thành mạch, đặc biệt 
mạch vành. Hậu quả là người bệnh có các biểu 
hiện tương tự như một tình trạng thiếu máu cơ 
tim(6). Nghiên cứu này gần tương đồng với 
nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Bình, triệu 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 195 
chứng hồi hộp tim đập nhanh chiếm tỷ lệ cao 
nhất (89,6%)(4). Các triệu chứng về tiêu hóa là 
một trong số các triệu chứng cơ thể thường gặp 
trong rối loạn lo âu lan tỏa. Một số nghiên cứu 
cũng chỉ ra triệu chứng khô miệng, buồn nôn 
khó chịu thượng vị luôn chiếm tỷ lệ cao trong 
các rối loạn lo âu. Nghiên cứu của Lee S (2009), 
34% người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa có hội 
chứng ruột kích thích, tỷ lệ này cao gấp 4,7 lần so 
với những đối tượng không có rối loạn lo âu lan 
tỏa(7). Các triệu chứng về tiêu hóa như: khô 
miệng chiếm: 83,9%, buồn nôn khó chịu thượng 
vị chiếm 80,6%, nuốt nghẹn ít gặp nhất 69,4% 
cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Phước Bình, tỉ lệ triệu chứng khô miệng là 
82,8%. Trong tiêu chuẩn chẩn đoán RLLALT đây 
là một trong những tiêu chuẩn chính để chẩn 
đoán. 
Những triệu chứng cơ thể khác cũng rất 
thường gặp là: những cơn nóng bừng, nóng lạnh 
90,3%, chóng mặt, choáng váng 88,7%, vã mồ hôi 
83,9%, run tay chân 85,5%, tê cóng, kim châm 
75,8%., căng cơ, đau ít gặp nhất 67,7%. Các triệu 
chứng này gây nhiều phiền toái cho người bệnh 
và cũng thường là lý do người bệnh cho rằng 
mình mắc các bệnh thực thể nên họ không tới 
khám tại phòng khám chuyên khoa tâm thần 
thời gian đầu. Kết quả nghiên cứu tương đồng 
với kết quả của một số tác giả trong nước khi 
nhận thấy người bệnh RLLALT thường gặp 
triệu chứng chóng mặt, không vững, ngất xỉu 
những cơn nóng lạnh 84,14%, chóng mặt 80%, vã 
mồ hôi 77,78%, run tay chân 71,11%(2). 
Mức độ rối loạn lo âu trung bình xuất hiện ở 
hầu hết các nhóm tuổi. 100% nhóm tuổi 18-25 lo 
âu ở mức độ trung bình. Nhóm tuổi 56-65 thì 
mức độ lo âu trung bình chiếm 77,8%, nhóm tuổi 
36-45 mức độ lo âu trung bình là 62,5%. Nhóm 
tuổi 26-35 lo âu trung bình là 50%. Ở nhóm đối 
tượng trên 65 tuổi, lo âu ở mức độ nặng chiếm tỷ 
lệ cao 100%. Tỷ lệ này ít hơn ở các nhóm tuổi 
khác, không xuất hiện ở nhóm từ 18-25 tuổi và 
nhóm từ 26-35 tuổi. Điều này cho thấy rằng, 
nhóm tuổi càng trẻ thì khả năng đối phó với các 
sang chấn tốt hơn. Tuổi càng lớn, mức độ lo âu 
càng nặng. 
Hầu hết các bệnh nhân đến các chuyên khoa 
khác trước khi đến được chuyên khoa tâm thần, 
nơi có tỉ lệ bệnh nhân đến khám nhiều nhất đó là 
chuyên khoa tim mạch với 96,8%, chuyên khoa 
tiêu hoá 71%, thần kinh 45,2%, tiếp đến là các 
chuyên khoa cơ xương khớp, đông y, hô hấp và 
nội tiết Điều này có thể được giải thích bởi 
RLLALT không những đặc trưng bởi tình trạng 
lo âu quá mức không kiểm soát được mà còn 
kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể nổi trội. Bệnh 
nhân lo lắng vì các triệu chứng cơ thể hơn là các 
triệu chứng tâm thần. Rối loạn lo âu lan tỏa là rối 
loạn thường gặp ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban 
đầu, các triệu chứng cơ thể, đặc biệt là các biểu 
hiện tăng quá mức hoạt động thần kinh tự trị 
thường làm cho bệnh nhân đến khám tại các 
chuyên khoa thần kinh, tim mạch. Những than 
phiền về các rối loạn dạ dày ruột trên bệnh nhân 
rối loạn lo âu lan tỏa hay gặp ở chuyên khoa tiêu 
hóa Chính vì vậy, bệnh nhân thường tiếp cận 
với chuyên khoa tâm thần sau khi đã khám và 
điều trị tại các chuyên khoa khác một thời gian. 
Thêm vào đó, bệnh nhân thường mất nhiều thời 
gian để chẩn đoán bệnh và được dùng các loại 
thuốc, có thể gặp các tác dụng không mong 
muốn của thuốc làm tăng nặng các triệu chứng 
của rối loạn lo âu lan tỏa. Việc chậm trễ trong 
chẩn đoán gây trở ngại lớn cho điều trị và làm 
tăng gánh nặng về chi phí cho bệnh nhân. 
Nghiên cứu của Nguyễn Phước Bình trên 90 
bệnh nhân RLLALT được điều trị tại Viện Sức 
khỏe Tâm thần, bệnh viên Bạch Mai cũng cho 
kết quả khá tương đồng(4). 
Ở Bảng 4, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
54,8% đối tượng nghiên cứu không đến khám 
chuyên khoa tâm thần sớm với lý do là sợ mắc 
bệnh tâm thần, 27,4% số người không biết bệnh 
viện tâm thần là nơi điều trị rối loạn lo âu, 17,7% 
số người không đến khám sớm là do mặc cảm 
với bệnh tâm thần. Đại đa số người dân còn kỳ 
thị, mặc cảm với bệnh tâm thần. Do đó cần phải 
tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 196 
khoẻ tâm thần cho người dân ở cộng đồng. 
Kết quả Bảng 5 cho thấy chỉ có 16,1% các 
bệnh nhân đến đúng chuyên khoa tâm thần 
trong năm đầu tiên khởi phát bệnh. Phần lớn 
bệnh nhân sau 1-2 năm phát bệnh mới đến khám 
chuyên khoa tâm thần. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi 27,4% người bệnh khám sau 1-2 năm 
khởi phát. Điều này có thể được giải thích là do 
đặc điểm lâm sàng của RLLALT gồm triệu 
chứng lo âu và các triệu chứng cơ thể kèm theo. 
Bệnh nhân thường đi khám vì các triệu chứng cơ 
thể là chính ít khi đi khám vì triệu chứng lo âu. 
Bệnh nhân chỉ đi khám khi xuất nhiều triệu 
chứng và các triệu chứng ảnh hưởng chất lượng 
cuộc sống và công việc. Nghiên cứu của chúng 
tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn 
Phước Bình(4). 
Có mối tương quan thuận giữa mức độ rối 
loạn lo âu lan toả với mức độ trầm cảm theo thang 
điểm PHQ9. Nghĩa là người bệnh mắc RLLALT 
càng nặng thì có nguy cơ trầm cảm nặng. 
KẾT LUẬN 
Người bệnh thường có nhiều hơn một triệu 
chứng khởi phát, những triệu chứng khởi phát 
thường gặp của rối loạn này là khó ngủ, hồi hộp, 
tim đập nhanh, lo lắng quá mức. Các triệu 
chứng khác như cảm giác tê châm chích, khó 
chịu vùng thượng vị, căng thẳng bồn chồn cũng 
chiếm tỷ lệ cao trong rối loạn lo âu lan tỏa. 
RLLALT trên nữ giới nhiều hơn nam giới (67,7% 
và 32,2%) và nhóm tuổi từ 18-25 có biểu hiện 
khởi phát bệnh và từ 56 tuổi trở lên biểu hiện 
bệnh càng nặng, Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng 
cho thấy mối tương quan nhất định giữa rối loạn 
lo âu lan tỏa và trầm cảm (p <0,001, r=0,46). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đinh Đăng Hòe (2000). Rối loạn lo âu. Bài giảng chuyên đề tâm 
thần học. Bộ môn tâm thần – Đại học Y Hà Nội, pp.28. 
2. Trần Nguyễn Ngọc - Nguyễn Kim Việt (2016). Đặc điểm lâm 
sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh điều trị tại Viện sức 
khoẻ tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu Y học, 3(101):116-
172. 
3. Kessler RC, Berglund PA, Demler O et al (2005). Lifetime 
prevalence and age-of-onset distributions of DSM - IV disorders 
in the National Comorbidity Survey Replication (NCS- R). 
Archives of General Psychiatry, 62(6):593-602. 
4. Nguyễn Thị Phước Bình (2010). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 
và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ 
Chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội. 
5. Stein DJ (2009). Generalized axiety disorders. In: Dan J. Stein. 
Textbook of anxiety disorders, 2nd ed, pp.125-126. American 
Prychiatric Publishing, America. 
6. Hocaoglu C, Yeloglu CH, Polat S (2011). Cardiac Diseases and 
Anxiety Disorder. In: Ágnes Szirmai. Anxiety and Related 
Disorders, 1st ed, pp.32-36. InTech, Croatia. 
7. Lee S (2009). Irritable Bowel Syndrome is Strongly Associated 
with Generalized Anxiety Disorder: A Community Study. 
Alimentary Pharmacology & Therapeutics, 30(6):643-651. 
Ngày nhận bài báo: 16/06/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_dac_diem_lam_sang_roi_loan_lo_au_lan_toa_tren_nguoi.pdf