Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng
Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu lan tỏa là lo lắng thái quá, cường điệu về sức khỏe, tiền bạc, gia đình sẽ ảnh
hưởng đến sức lao động, giảm chất lượng cuộc sống. Biểu hiện là các triệu chứng cơ thể nên ít được chẩn đoán
sớm và điều trị đúng.
Mục tiêu: (1) Mô tả các đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị
tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. (2) So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, nghề nghiệp. (3) Mối tương
quan với trầm cảm.
Đối tượng và Phương pháp: 62 người bệnh từ 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà
Nẵng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: Tỷ lệ rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ là 30,6%, trung bình 56,5% và nặng là 12,9%. Tỷ lệ lo âu của
nữ cao hơn nam, nhóm tuổi trên 65 khởi phát bệnh nặng là 100%.
Kết luận: Cần có nhiều biện pháp để phát hiện sớm rối loạn lo âu lan tỏa tại cộng đồng và cách điều trị thích
hợp cho người bệnh.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 190 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA TRÊN NGƯỜI BỆNH TỪ 18 TUỔI KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐÀ NẴNG Tống Thị Luyến1, Nguyễn Thị Mỹ Anh2, Nguyễn Phan Vân Anh2, Nguyễn Ngọc Thảo Ly2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu lan tỏa là lo lắng thái quá, cường điệu về sức khỏe, tiền bạc, gia đình sẽ ảnh hưởng đến sức lao động, giảm chất lượng cuộc sống. Biểu hiện là các triệu chứng cơ thể nên ít được chẩn đoán sớm và điều trị đúng. Mục tiêu: (1) Mô tả các đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. (2) So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, nghề nghiệp. (3) Mối tương quan với trầm cảm. Đối tượng và Phương pháp: 62 người bệnh từ 18 tuổi đến khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Tỷ lệ rối loạn lo âu ở mức độ nhẹ là 30,6%, trung bình 56,5% và nặng là 12,9%. Tỷ lệ lo âu của nữ cao hơn nam, nhóm tuổi trên 65 khởi phát bệnh nặng là 100%. Kết luận: Cần có nhiều biện pháp để phát hiện sớm rối loạn lo âu lan tỏa tại cộng đồng và cách điều trị thích hợp cho người bệnh. Từ khóa: rối loạn lo âu lan tỏa, người bệnh, bệnh viện tâm thần ABSTRACT RESEARCH ON THE CLINICAL FEATURES OF GENERALIZED ANXIETY DISORDER IN PATIENTS AGED 18 YEARS SEE AND RULED THE DOCTOR AT DA NANG PSYCHIATRIC HOSPITAL Tong Thi Luyen, Nguyen Thi My Anh, Nguyen Phan Van Anh, Nguyen Ngoc Thao Ly * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 190 - 196 Background: Generalized anxiety disorder (GAD) is excessive anxiety, hypes about health, money and family which can affect the labor force, reduce the quality of life. GAD’s manifestations are multiple body symptoms so it is less early diagnosed and properly treated. Attention should be paid to this issue in Da Nang City. Objectives: Have 3 goals: (1) Described clinical features of generalized anxiety disorder in patients 18 years or older were examined and treated by the doctor at Da Nang Psychiatric Hospital. (2) Compare anxiety disorders on gender, age, occupation, (3) Correlation with depression. Methods: 62 patients 18 years or older were examined and treated by the doctor at Da Nang Psychiatric Hospital. Cross-sectional study. Results: The rate of anxiety disorder, mild was 30.6%, moderate was 56.5% and severe was 12.9%. The anxiety in women is higher than in men, age group over 65 onset of serious illness is 100%. Conclusion: There should be various measures for early detection of generalized anxiety disorder in the community and appropriate treatment for patients. Keywords: generalized anxiety disorder, the patients, psychiatric hospital 1Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng 2Trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng Tác giả liên lạc: BSCKII. Tống Thị Luyến ĐT: 0983457471 Email: [email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 191 ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) được đặc trưng bởi sự lo lắng thái quá, cường điệu và lo lắng về các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày mà không có lý do rõ ràng để lo lắng, họ có xu hướng luôn mong đợi thảm họa và không thể ngừng lo lắng về sức khỏe, tiền bạc, gia đình, công việc, có thể ảnh hưởng đến sức lao động, tăng nguy cơ mất việc làm, giảm chất lượng cuộc sống. Biểu hiện của RLLALT đa dạng bởi các triệu chứng cơ thể khác nhau khiến con người luôn có tâm lý khó chịu và nặng hơn có thể biểu hiện ở dạng bệnh lý(1). Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc RLLALT ở lứa tuổi từ 18 trở lên là 10% - 18%. Tại Mỹ, tỷ lệ mắc RLLALT trong cả đời người là 5,7%, trong đó tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp đôi so với nam giới. Mặc dù RLLALT gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng có đến 75% người bệnh phát bệnh trước 47 tuổi, tuổi trung bình phát bệnh là 31. Ở người lớn tuổi tỷ lệ bị RLLALT cũng tăng lên (7%)(2). Những năm gần đây tỉ lệ người bệnh mắc bệnh này đến khám và điều trị tại Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng ngày càng nhiều nhưng hầu hết là người bệnh đã đi khám ở nhiều chuyên khoa khác, mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, họ đến khám ở chuyên khoa tâm thần thường là giai đoạn muộn. Nên vấn đề điều trị khó khăn và kéo dài. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng” với 3 mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn lo âu lan tỏa trên người bệnh từ 18 tuổi khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng. So sánh rối loạn lo âu trên giới tính, tuổi, nghề nghiệp. Mối tương quan với trầm cảm. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Gồm 62 người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện Tâm thần Thành phố Đà Nẵng từ tháng 03/2019-10/2019, được chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa theo ICD10 được mô tả ở chương F4 là “các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể”, trong đó rối loạn lo âu lan tỏa thuộc mục F41.1. Tiêu chuẩn loại trừ Những người bệnh có bệnh lý nội khoa chuyển hóa, tổn thương thực thể não kèm theo mà không thể giải thích được các triệu chứng về lo âu; bệnh nghiện chất, lạm dụng chất. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu Chọn 62 mẫu dựa trên công thức tính cỡ mẫu (Nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc (2016)(3) thì p=0,04). Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Công cụ đánh giá Bộ câu hỏi cấu trúc gồm 3 phần, bao gồm: đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội, tình trạng bệnh, thang đánh giá lo âu Zung (đã được chuẩn hóa với 5 mức độ: không lo âu ≤40 điểm; lo âu mức độ nhẹ: 41-50 điểm; lo âu mức độ trung bình: 51-60 điểm; lo âu mức độ nặng: 61-70 điểm; lo âu mức độ rất nặng: 71-80 điểm). Xử lý số liệu Số liệu thu thập được sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm SPSS. Các chỉ số, biến số đặc điểm kinh tế- văn hóa-xã hội, tình trạng bệnh, và biến số về rối loạn lo âu lan tỏa được thống kê về tần số, tỷ lệ %, giá trị p, được kiểm định bằng các kiểm định Chi bình phương, mối tương quan pearson. KẾT QUẢ Nhóm tuổi từ 46-55 chiếm 33,9%, là nhóm có tỷ lệ cao nhất. Ít nhất là nhóm tuổi 18-25 và trên 65 chiếm 3,2%. Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 45,45±11,24 (Bảng 1). Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 192 Bảng 1: Phân bố nhóm tuổi Nhóm tuổi n=62 % Tuổi trung bình 18-25 2 3,2 45,45 ± 11,24 26-35 12 19,4 36-45 16 25,8 46-55 21 33,9 56-65 9 14,5 >65 2 3,2 Bảng 2: Triệu chứng khởi phát của RLLALT (n=62) Triệu chứng Nam (n=20) Nữ (n=42) Tổng P n % n % n % Khó ngủ 19 95 40 95,2 59 95,2 >0,05 Hồi hộp, tim đập nhanh 16 80 36 85,7 52 83,9 >0,05 Khó chịu vùng thượng vị 6 30 22 52,4 28 45,2 >0,05 Cảm giác tê, châm chích 11 55 19 45,2 30 48,4 >0,05 Run tay chân 6 30 13 31 19 30,6 >0,05 Căng thẳng, bồn chồn 5 25 18 42,9 23 37,1 >0,05 Lo lắng quá mức 9 45 27 64,3 36 58,1 >0,05 Các triệu chứng khởi phát là khó ngủ, chiếm 95,2%. Các triệu chứng hồi hộp, tim đập nhanh 83,9%, lo lắng quá mức 58,1%, cảm giác tê châm chích 48,4%, khó chịu vùng thượng vị 45,2%, căng thẳng bồn chồn chiếm tỷ lệ thấp và ít xuất hiện hơn 37,1%. Chỉ có khoảng 30,6% người bệnh có triệu chứng khởi phát run tay chân. Nhìn chung, không thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới p >0,05 (Bảng 2). Bảng 3: Các triệu chứng tâm thần của RLLALT (n=62) Các triệu chứng tâm thần n Tỷ lệ (%) Khó ngủ 54 87,1 Dễ giật mình 56 90,3 Bồn chồn 59 95,2 Căng thẳng tâm thần 56 90,3 Sợ mất kiềm chế 50 80,6 Sợ chết 43 69,4 Khó tập trung 53 85,5 Cáu kỉnh dai dẳng 55 88,7 Triệu chứng bồn chồn chiếm tỉ lệ cao nhất 95,2%, căng thẳng tâm thần và dễ giật mình đều chiếm 90,3%, triệu chứng cáu kỉnh dai dẳng 88,7%, khó ngủ 87,1%, khó tập trung hay sợ mất kiềm chế ít xuất hiện hơn. Ít gặp hơn là triệu chứng sợ chết 69,4% (Bảng 3). Bảng 4: Các triệu chứng tim mạch, tiêu hoá (n=62) Triệu chứng tim mạch, tiêu hóa n Tỷ lệ (%) Hồi hộp tim đập nhanh 57 91,9 Cảm giác khó thở 51 82,3 Cảm giác nuốt nghẹn 43 69,4 Đau, khó chịu ở ngực 49 79 Khô miệng 52 83,9 Buồn nôn, đau bụng, khó chịu thượng vị 50 80,6 Các triệu chứng tim mạch: hồi hộp, tim đập nhanh chiếm tỉ lệ cao nhất 91,9%, cảm giác khó thở 82,3%, đau, khó chịu ở ngực 79%, các triệu chứng tiêu hoá như: khô miệng 83,9%, buồn nôn, đau bụng, khó chịu thượng vị 80,6%. Triệu chứng cảm giác nuốt nghẹn ít gặp nhất 69,4% (Bảng 4). Bảng 5: Các triệu chứng cơ thể khác (n=62) Triệu chứng cơ thể khác n Tỷ lệ (%) Căng cơ, đau 42 67,7 Tê cóng, kim châm 47 75,8 Cơn nóng bừng, ớn lạnh 56 90,3 Run 53 85,5 Vã mồ hôi 52 83,9 Chóng mặt, choáng váng, ngất xỉu 55 88,7 Triệu chứng gặp nhiều nhất là cơn nóng bừng, ớn lạnh với tỷ lệ cao chiếm 90,3%. Tiếp đến là triệu chứng chóng mặt, choáng váng, ngất xỉu 88,7%, run, vã mồ hôi xuất hiện khá thường xuyên >80%. Triệu chứng căng cơ, đau ít gặp ở người bệnh nhất chỉ có 67,7% (Bảng 5). Bảng 6: Mức độ rối loạn lo âu theo thang điểm lo âu Zung (n=62) Mức độ rối loạn lo âu n Tỷ lệ (%) Nhẹ 19 30,6 Trung bình 35 56,5 Nặng 8 12,9 Phần lớn người bệnh có tỷ lệ mức trung bình chiếm 56,5%. Tiếp theo là 30,6% người ở mức độ nhẹ và mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp nhất với 12,9% (Bảng 6). Bảng 7: Tỷ lệ giữa mức độ rối loạn lo âu và giới tính (n=62) Mức độ rối loạn Nam (n=20) Nữ (n=42) Tổng P n % n % n % Nhẹ 6 9,7 13 21 19 30,7 P>0.0 5 Trung bình 12 19,4 23 37,1 35 56,5 Nặng 2 3,2 6 9,7 8 12,9 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa Nhìn chung tỷ lệ bệnh của nữ gi hơn so với nam. Lo âu ở nữ có mứ bình chiếm tỷ lệ cao nhất 37,1%, tiếp theo là m độ nhẹ 21% và chiếm tỷ lệ thấp nhất là m nặng 9,7%. Nam giới có mức độ 19,4%, nhẹ 9,7% và nặng chiếm ít (Bảng 7). Bảng 8: Tỷ lệ giữa nhóm tuổi khởi phát b độ rối loạn lo âu (n=62) Nhóm tuổi Nhẹ (n=19) Trung bình (n=35) Nặng (n=8) T (n=62) n % n % n 18 - 25 0 0 2 100 0 0 2 26 - 35 6 50 6 50 0 0 12 36 - 45 5 31,2 10 62,5 1 6,2 16 46 - 55 8 38,1 10 47,6 3 14,3 21 56 – 65 0 0 7 77,8 2 22,2 9 >65 0 0 0 0 2 100 2 Mức độ rối loạn lo âu trung bình xu hầu hết các nhóm tuổi. 100% nhóm tu âu ở mức độ trung bình. Nhóm tuổ mức độ lo âu trung bình chiếm 50%, nhóm tu 36-45 mức độ lo âu trung bình là 62,5%. Nhóm tuổi 46-55 lo âu trung bình là 47,6%. Nhóm tu 56-65 lo âu trung bình chiếm 77,8%. Ở tượng trên 65 tuổi, lo âu ở mức độ n 100%. Tỷ lệ này ít hơn ở các nhóm tu không xuất hiện ở nhóm từ 18-25 tuổ từ 26-35 tuổi. Có sự khác biệt có ý ngh kê giữa nhóm tuổi khởi phát bệnh và m loạn lo âu (p <0,05) (Bảng 8). Bảng 9: Các chuyên khoa đã khám, điều tr đến khám tâm thần (n=62) Các chuyên khoa n Tim mạch 60 Hô hấp 19 Thần kinh 28 Nội tiết 15 Tiêu hóa 44 Cơ xương khớp 27 Đông y 26 Có đến 96,8% đối tượng nghiên c khám chuyên khoa tim mạch trướ khám tâm thần. Số người đến khám tiêu hóa trước khi đi khám chuyên khoa tâm th Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 ới luôn cao c độ trung ức ức độ trung bình nhất 3,2% ệnh và mức ổng P % 3,2 P<0,0 5 19,4 25,8 33,9 14,5 3,2 ất hiện ở ổi 18-25 lo i 26-35 thì ổi ổi nhóm đối ặng chiếm ổi khác, i và nhóm ĩa thống ức độ rối ị trước khi Tỷ lệ (%) 96,8 30,6 45,2 24,2 71 43,5 41,9 ứu đến c khi đến ần là 71%. Tiếp đến là các chuyên khoa thầ khớp và đông y (Bảng 9). 54,8% số người cho biết lý do không đ khám chuyên khoa tâm thần là do s tâm thần. Số người không biế thần là nơi điều trị rối loạn lo âu lan t 27,4% và tỷ lệ người tham gia nghiên c cảm với bệnh tâm thần là 17,7% Bảng 10: Lý do không đến khám chuyên khoa tâm thần sớm (n=62) Lý do Sợ mắc bệnh tâm thần Mặc cảm với bệnh tâm thần Không biết BVTT là nơi điều trị RLLALT Bảng 11: Thời gian từ khi xuất hiệ khi được điều trị CKTT (n=62) Thời gian n Dưới 1 năm 10 1 - 2 năm 17 >2 - 3 năm 7 >3 - 4 năm 14 >4 – 5 năm 6 Trên 5 năm 8 Phần lớn bệnh nhân sau 1- triệu chứng thì mới đến khám và đi chuyên khoa tâm thần, chiếm t có 16,1% đối tượng được điều tr tâm thần trong vòng 1 năm xu chứng (Bảng 11). Bảng 12: Tiền sử gia đình (n=62) Gia đình có người mắc Trầm cả RLLA Người có tiền sử gia đình m cảm lần lượt là 12,9% và 3,2% (B Hình 1: Mối tương quan giữa mứ lan toả với trầm cảm (n=62) P<0,001, r = 0,46, * Số 2 * 2021 193 n kinh, cơ xương ến ợ mắc bệnh t Bệnh viện Tâm ỏa chiếm ứu mặc (Bảng 10). n Tỷ lệ (%) 34 54,8 11 17,7 17 27,4 n triệu chứng đến Tỷ lệ (%) 16,1 27,4 11,3 22,6 9,7 12,9 2 năm xuất hiện ều trị ỷ lệ 27,4%. Chỉ ị chuyên khoa ất hiện triệu m 2 3,2 P< 0,005 8 12,9 ắc RLLA, trầm ảng 12). c độ rối loạn lo âu n=62 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 194 Thống kê cho thấy có mối tương quan thuận giữa rối loạn lo âu lan tỏa với trầm cảm trên bệnh nhân (Hình 1). BÀN LUẬN Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi mắc bệnh chủ yếu từ 46-55 tuổi, chiếm 33,9%. Đây là nhóm người trong độ tuổi lao động, nên gặp nhiều sang chấn tâm lý trong cuộc sống và áp lực trong công việc. Tiếp theo là nhóm tuổi từ 36-45 chiếm 25,8%. Ít gặp nhất là nhóm đối tượng tuổi từ 18-25 và trên 65 tuổi, chỉ chiếm 3,2%. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc-Nguyễn Kim Việt (2016)(2). Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi trung bình là 45,45±11,24 cao hơn so với nghiên cứu của Kessler RC (2005)(3) với tuổi trung bình là 31. Sự khác biệt này có thể do sự khác nhau trong cách thu thập số liệu nghiên cứu. Kessler RC thực hiện nghiên cứu tại cộng đồng, còn chúng tôi nghiên cứu trên các đối tượng người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện. Nghiên cứu cho thấy RLLALT thường gặp nhiều ở nữ giới hơn nam giới (67,8% và 32,2%). Điều này có thể được giải thích là do trong cuộc sống phụ nữ có nhiều giai đoạn thay đổi về nội tiết như thời kỳ mang thai, sinh đẻ, giai đoạn tiền mãn kinh. Ngoài ra, dưới sự tác động của các yếu tố tâm lý và văn hoá nên nữ giới thường than phiền về bệnh nhiều hơn nam giới, cũng có yếu tố di truyền liên quan đến lo âu của người bệnh. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Bình (2010)(4) cho thấy rối loạn lo âu lan tỏa gặp ở nữ nhiều hơn nam (tỷ lệ nữ/nam là 8/1). Nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc-Nguyễn Kim Việt (2016) cho thấy tỉ lệ mắc nữ cao hơn nam(57,78% và 42,22%)(2). Người bệnh thường có nhiều hơn 1 triệu khởi phát, các triệu chứng khởi phát thường gặp của người bệnh nghiên cứu là triệu chứng khó ngủ 95,2%, hồi hộp, tim đập nhanh 83,9%, lo lắng quá mức 58,1%. Trong phần bệnh nguyên đã cho thấy nguyên nhân xuất hiện các triệu chứng của RLLALT là do rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh và tăng kích hoạt thần kinh giao cảm(5). Sự tăng hoạt động thần kinh giao cảm làm tim đập nhanh mạnh, tăng hồi hộp, đánh trống ngực. Triệu chứng tim đập nhanh được người bệnh cảm nhận nhiều và luôn lo lắng về điều đó. Sự lo lắng liên tục càng làm xuất hiện tình trạng tim đập nhanh, mạnh và hồi hộp. Tiếp theo là các triệu chứng cảm giác tê, châm chích 48,4%, triệu chứng căng thẳng tâm thần 37,1% và triệu chứng run tay chân ít gặp nhất 30,6%. Tình huống người bệnh đã đi khám tại các chuyên khoa khác không phải chuyên khoa Tâm thần một phần vì các triệu chứng khởi phát của rối loạn lo âu lan tỏa rất dễ bị nhầm lẫn với các bệnh khác. Nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Phước Bình, người bệnh RLLALT hầu hết thường gặp là triệu chứng khó ngủ chiếm 74%, tiếp đến là hồi hộp tim đập nhanh chiếm 62%(4). Triệu chứng bồn chồn, bất an chiếm tỉ lệ cao 95,2%, cảm giác tù túng hoặc căng thẳng tâm thần, dễ giật mình đều chiếm tỉ lệ 90,3%. Khi có RLLALT người bệnh rất khó thư giãn nên luôn bồn chồn, bất an, dễ giật mình, cảm nhận quá mức về các mối nguy hiểm, luôn chờ đợi những điều xấu xảy ra nên rất khó ngủ là 87,1%, rất dễ cáu kỉnh dai dẳng 88,7% và khó tập trung 85,5%. Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc (2016)(2). Kết quả nghiên cứu cho thấy 91,9% biểu hiện hồi hộp tim đập nhanh, cảm giác khó thở 82,3%, đau, khó chịu ở ngực 79%. Theo tác giả Hocaoglu C (2011), khi lo lắng quá mức và căng thẳng thần kinh kéo dài, các phản ứng sinh lý trong cơ thể về thay đổi hóc môn và huy động năng lượng và chất béo xuất hiện liên tục, sẽ gây ra tình trạng tăng huyết áp và nhịp tim, gây rối loạn huyết động, biến đổi thành mạch, đặc biệt mạch vành. Hậu quả là người bệnh có các biểu hiện tương tự như một tình trạng thiếu máu cơ tim(6). Nghiên cứu này gần tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Bình, triệu Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 195 chứng hồi hộp tim đập nhanh chiếm tỷ lệ cao nhất (89,6%)(4). Các triệu chứng về tiêu hóa là một trong số các triệu chứng cơ thể thường gặp trong rối loạn lo âu lan tỏa. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra triệu chứng khô miệng, buồn nôn khó chịu thượng vị luôn chiếm tỷ lệ cao trong các rối loạn lo âu. Nghiên cứu của Lee S (2009), 34% người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa có hội chứng ruột kích thích, tỷ lệ này cao gấp 4,7 lần so với những đối tượng không có rối loạn lo âu lan tỏa(7). Các triệu chứng về tiêu hóa như: khô miệng chiếm: 83,9%, buồn nôn khó chịu thượng vị chiếm 80,6%, nuốt nghẹn ít gặp nhất 69,4% cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Bình, tỉ lệ triệu chứng khô miệng là 82,8%. Trong tiêu chuẩn chẩn đoán RLLALT đây là một trong những tiêu chuẩn chính để chẩn đoán. Những triệu chứng cơ thể khác cũng rất thường gặp là: những cơn nóng bừng, nóng lạnh 90,3%, chóng mặt, choáng váng 88,7%, vã mồ hôi 83,9%, run tay chân 85,5%, tê cóng, kim châm 75,8%., căng cơ, đau ít gặp nhất 67,7%. Các triệu chứng này gây nhiều phiền toái cho người bệnh và cũng thường là lý do người bệnh cho rằng mình mắc các bệnh thực thể nên họ không tới khám tại phòng khám chuyên khoa tâm thần thời gian đầu. Kết quả nghiên cứu tương đồng với kết quả của một số tác giả trong nước khi nhận thấy người bệnh RLLALT thường gặp triệu chứng chóng mặt, không vững, ngất xỉu những cơn nóng lạnh 84,14%, chóng mặt 80%, vã mồ hôi 77,78%, run tay chân 71,11%(2). Mức độ rối loạn lo âu trung bình xuất hiện ở hầu hết các nhóm tuổi. 100% nhóm tuổi 18-25 lo âu ở mức độ trung bình. Nhóm tuổi 56-65 thì mức độ lo âu trung bình chiếm 77,8%, nhóm tuổi 36-45 mức độ lo âu trung bình là 62,5%. Nhóm tuổi 26-35 lo âu trung bình là 50%. Ở nhóm đối tượng trên 65 tuổi, lo âu ở mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao 100%. Tỷ lệ này ít hơn ở các nhóm tuổi khác, không xuất hiện ở nhóm từ 18-25 tuổi và nhóm từ 26-35 tuổi. Điều này cho thấy rằng, nhóm tuổi càng trẻ thì khả năng đối phó với các sang chấn tốt hơn. Tuổi càng lớn, mức độ lo âu càng nặng. Hầu hết các bệnh nhân đến các chuyên khoa khác trước khi đến được chuyên khoa tâm thần, nơi có tỉ lệ bệnh nhân đến khám nhiều nhất đó là chuyên khoa tim mạch với 96,8%, chuyên khoa tiêu hoá 71%, thần kinh 45,2%, tiếp đến là các chuyên khoa cơ xương khớp, đông y, hô hấp và nội tiết Điều này có thể được giải thích bởi RLLALT không những đặc trưng bởi tình trạng lo âu quá mức không kiểm soát được mà còn kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể nổi trội. Bệnh nhân lo lắng vì các triệu chứng cơ thể hơn là các triệu chứng tâm thần. Rối loạn lo âu lan tỏa là rối loạn thường gặp ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu, các triệu chứng cơ thể, đặc biệt là các biểu hiện tăng quá mức hoạt động thần kinh tự trị thường làm cho bệnh nhân đến khám tại các chuyên khoa thần kinh, tim mạch. Những than phiền về các rối loạn dạ dày ruột trên bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa hay gặp ở chuyên khoa tiêu hóa Chính vì vậy, bệnh nhân thường tiếp cận với chuyên khoa tâm thần sau khi đã khám và điều trị tại các chuyên khoa khác một thời gian. Thêm vào đó, bệnh nhân thường mất nhiều thời gian để chẩn đoán bệnh và được dùng các loại thuốc, có thể gặp các tác dụng không mong muốn của thuốc làm tăng nặng các triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa. Việc chậm trễ trong chẩn đoán gây trở ngại lớn cho điều trị và làm tăng gánh nặng về chi phí cho bệnh nhân. Nghiên cứu của Nguyễn Phước Bình trên 90 bệnh nhân RLLALT được điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, bệnh viên Bạch Mai cũng cho kết quả khá tương đồng(4). Ở Bảng 4, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 54,8% đối tượng nghiên cứu không đến khám chuyên khoa tâm thần sớm với lý do là sợ mắc bệnh tâm thần, 27,4% số người không biết bệnh viện tâm thần là nơi điều trị rối loạn lo âu, 17,7% số người không đến khám sớm là do mặc cảm với bệnh tâm thần. Đại đa số người dân còn kỳ thị, mặc cảm với bệnh tâm thần. Do đó cần phải tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 196 khoẻ tâm thần cho người dân ở cộng đồng. Kết quả Bảng 5 cho thấy chỉ có 16,1% các bệnh nhân đến đúng chuyên khoa tâm thần trong năm đầu tiên khởi phát bệnh. Phần lớn bệnh nhân sau 1-2 năm phát bệnh mới đến khám chuyên khoa tâm thần. Trong nghiên cứu của chúng tôi 27,4% người bệnh khám sau 1-2 năm khởi phát. Điều này có thể được giải thích là do đặc điểm lâm sàng của RLLALT gồm triệu chứng lo âu và các triệu chứng cơ thể kèm theo. Bệnh nhân thường đi khám vì các triệu chứng cơ thể là chính ít khi đi khám vì triệu chứng lo âu. Bệnh nhân chỉ đi khám khi xuất nhiều triệu chứng và các triệu chứng ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và công việc. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Phước Bình(4). Có mối tương quan thuận giữa mức độ rối loạn lo âu lan toả với mức độ trầm cảm theo thang điểm PHQ9. Nghĩa là người bệnh mắc RLLALT càng nặng thì có nguy cơ trầm cảm nặng. KẾT LUẬN Người bệnh thường có nhiều hơn một triệu chứng khởi phát, những triệu chứng khởi phát thường gặp của rối loạn này là khó ngủ, hồi hộp, tim đập nhanh, lo lắng quá mức. Các triệu chứng khác như cảm giác tê châm chích, khó chịu vùng thượng vị, căng thẳng bồn chồn cũng chiếm tỷ lệ cao trong rối loạn lo âu lan tỏa. RLLALT trên nữ giới nhiều hơn nam giới (67,7% và 32,2%) và nhóm tuổi từ 18-25 có biểu hiện khởi phát bệnh và từ 56 tuổi trở lên biểu hiện bệnh càng nặng, Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan nhất định giữa rối loạn lo âu lan tỏa và trầm cảm (p <0,001, r=0,46). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đinh Đăng Hòe (2000). Rối loạn lo âu. Bài giảng chuyên đề tâm thần học. Bộ môn tâm thần – Đại học Y Hà Nội, pp.28. 2. Trần Nguyễn Ngọc - Nguyễn Kim Việt (2016). Đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan toả trên người bệnh điều trị tại Viện sức khoẻ tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu Y học, 3(101):116- 172. 3. Kessler RC, Berglund PA, Demler O et al (2005). Lifetime prevalence and age-of-onset distributions of DSM - IV disorders in the National Comorbidity Survey Replication (NCS- R). Archives of General Psychiatry, 62(6):593-602. 4. Nguyễn Thị Phước Bình (2010). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội. 5. Stein DJ (2009). Generalized axiety disorders. In: Dan J. Stein. Textbook of anxiety disorders, 2nd ed, pp.125-126. American Prychiatric Publishing, America. 6. Hocaoglu C, Yeloglu CH, Polat S (2011). Cardiac Diseases and Anxiety Disorder. In: Ágnes Szirmai. Anxiety and Related Disorders, 1st ed, pp.32-36. InTech, Croatia. 7. Lee S (2009). Irritable Bowel Syndrome is Strongly Associated with Generalized Anxiety Disorder: A Community Study. Alimentary Pharmacology & Therapeutics, 30(6):643-651. Ngày nhận bài báo: 16/06/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
khao_sat_dac_diem_lam_sang_roi_loan_lo_au_lan_toa_tren_nguoi.pdf

