Kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2015

Mục tiêu: Nhận xét kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản

Trương ương trong năm 2015.

Đối tượng nghiên cứu: Trong năm 2015 có 402 trường hợp đủ tiêu

chuẩn nghiên cứu được lấy vào nghiên cứu đủ để đảm bảo độ tin cậy.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu.

Kết quả: Tiền sản giật có 3,5% gây chuyển dạ, 6,2% chuyển dạ tự

nhiên và 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do những biến chứng

của tiền sản giật. Trong số bệnh nhân chuyển dạ tự nhiên có 72% đẻ

thường. Nhóm có chỉ định gây chuyển dạ là 3,5%. Có 91,7% là mổ lấy

thai chủ động khi tuổi thai từ 29-32 tuần và 93,8% ở tuổi thai 33-37 tuần.

Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều nhất là chảy máu, chiếm 9,0%; hội

chứng HELLP 6,7%; biến chứng suy thận có 3,7%; rau bong non 2,7%;

phù phổi cấp 0,2%; nhiễm trùng sau mổ chiếm tỷ lệ 2,2%. Truyền 1 – 2

đơn vị máu chiếm 27,8%; truyền 3 – 4 đơn vị, chiếm 55,6%; truyền từ 5

đơn vị trở lên, chiếm 16,6%.

Kết luận: Tiền sản giật tới 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do

những biến chứng của tiền sản giật. Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều

nhất là chảy máu, chiếm 9,0%; hội chứng HELLP 6,7%; biến chứng suy

thận có 3,7%; rau bong non 2,7%

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2015

Kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong năm 2015
NGUYỄN VIẾT TIẾN, NGUYỄN THANH HÀ
24
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Nguyễn Viết Tiến(1), Nguyễn Thanh Hà(2) 
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh
KẾT QUẢ XỬ TRÍ TIỀN SẢN GIẬT
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
TRONG NĂM 2015
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thanh Hà, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: Tiền sản giật, kết quả 
xử trí.
Keywords: management, pre-
eclampsia.
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét kết quả xử trí tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ Sản 
Trương ương trong năm 2015. 
Đối tượng nghiên cứu: Trong năm 2015 có 402 trường hợp đủ tiêu 
chuẩn nghiên cứu được lấy vào nghiên cứu đủ để đảm bảo độ tin cậy. 
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu. 
Kết quả: Tiền sản giật có 3,5% gây chuyển dạ, 6,2% chuyển dạ tự 
nhiên và 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do những biến chứng 
của tiền sản giật. Trong số bệnh nhân chuyển dạ tự nhiên có 72% đẻ 
thường. Nhóm có chỉ định gây chuyển dạ là 3,5%. Có 91,7% là mổ lấy 
thai chủ động khi tuổi thai từ 29-32 tuần và 93,8% ở tuổi thai 33-37 tuần. 
Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều nhất là chảy máu, chiếm 9,0%; hội 
chứng HELLP 6,7%; biến chứng suy thận có 3,7%; rau bong non 2,7%; 
phù phổi cấp 0,2%; nhiễm trùng sau mổ chiếm tỷ lệ 2,2%. Truyền 1 – 2 
đơn vị máu chiếm 27,8%; truyền 3 – 4 đơn vị, chiếm 55,6%; truyền từ 5 
đơn vị trở lên, chiếm 16,6%.
Kết luận: Tiền sản giật tới 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do 
những biến chứng của tiền sản giật. Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều 
nhất là chảy máu, chiếm 9,0%; hội chứng HELLP 6,7%; biến chứng suy 
thận có 3,7%; rau bong non 2,7%.
Từ khóa: Tiền sản giật, kết quả xử trí.
Abstract 
REVIEW THE MANAGEMENT OF PRE-ECLAMPSIA 
PATIENTS AT THE NATIONAL HOSPITAL OF 
OBSTETRICS AND GYNECOLOGY IN 2015 
Objectives: Review the management of pre-eclampsia patients at the 
National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2015.
Sujects and method: We performed a describe retrospective study 
included 402 eligible cases, which was sufficient to guaranteed the 
reliability of the research. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 24 - 29, 2017
25
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
1. Đặt vấn đề
Tiền sản giật (TSG) là một hội chứng bệnh lý toàn 
thân phức tạp, nằm trong nhóm các rối loạn tăng 
huyết áp xảy ra trong thai kỳ [1]. Bệnh chỉ xảy ra 
ở người phụ nữ mang thai và thường xảy ra ở nửa 
sau của thai kỳ (theo hướng dẫn dịch vụ chăm sóc 
sức khỏe sinh sản quốc gia là từ tuần thứ 21 của quá 
trình mang thai). Tiền sản giật cơ chế bệnh sinh đến 
nay chưa rõ ràng nên việc điều trị hiện còn gặp nhiều 
khó khăn, thường phải quyết định đình chỉ thai nghén 
nhằm đảm bảo an toàn cho mẹ và cho con.
Trước những nguy cơ và hậu quả nặng nề của 
tiền sản giật, cũng như các bất cập trong công tác 
điều trị, cần có những nghiên cứu để giúp tìm ra 
giải pháp tránh những biến chứng nặng nề cho 
mẹ và cho con là điều rất cần thiết. Từ lý do đó 
chúng tôi tiến hành đề tài với Mục tiêu: Nhận xét 
kết quả xử trí TSG tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương (BVPSTW) trong năm 2015.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân có hồ sơ bệnh án chẩn đoán 
TSG được điều trị tại BVPSTW trong năm 2015.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tuổi thai từ 20 tuần trở lên.
- Đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: 
- Tuổi thai < 20 tuần.
- Những hồ sơ không rõ ràng, không đủ thông 
tin về mẹ và tình trạng sơ sinh.
- Đẻ ở nơi khác chuyển đến.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu mô tả
Nghiên cứu theo phương pháp, dựa trên các hồ 
sơ bệnh án sản phụ đã được chẩn đoán TSG, đẻ trị 
tại BVPSTW trong năm 2015.
Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu sẽ được chọn dựa theo công thức tính 
cỡ mẫu cho việc ước tính 1 tỷ lệ trong quần thể 
như sau:
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có.
- Z(1-α/2) là hệ số tin cậy. 
Nếu lấy Z = 95% (độ tin cậy 95%) thì Z(1-ỏ/2) = 1,96 
Results: In the pre-eclampsial management category, elective caesarean section was the major 
method made up 90.3%, mainly due to complications of pre-eclampsia. Induction of labor was only 
3.5%. 6.2% patients had spontaneous labor, 72% of those successed in normal delivery. 91.7% of 
patients had C-section at gestational age between 29-32 weeks and 93.8% at gestational age 33-37 
weeks. The major complication was bleeding which accounted for 9.0%. Others complications were: 
HELLP syndrome (6.7%),renal insufficiency(3.7%),placental abruption(2.7%); Acute pulmonary 
edema (0.2%). Postoperative infections accounted for only 2.2%. In group of patients received blood 
transfusion, 27.8% had 1 to 2 units of blood while 3-4 units made up to the highest percentage, 
55.6%. Under 17% of patients had 5 or more units. 
Conclusion: 90.3% of pre-eclampsial patients had elective caesarean section, primarily due 
to the complications.The major complication was bleeding which accounted for 9.0%. HELLP 
syndrome,renal insufficiency, and placental abruption were 6.7%, 3.7% and 2,7% respectively. 
Key words: management, pre-eclampsia.
Bệnh nhân tiền sản giật chủ yếu được mổ lấy 
thai với tỷ lệ 90,3% mổ lấy thai chủ động. Trong mổ 
lấy thai chủ động chủ yếu do những biến chứng của 
tiền sản giật, ngoài ra mổ lấy thai chủ động ở bệnh 
nhân tiền sản giật tỷ lệ mổ vì vết mổ cũ chiếm 20%, 
và tỷ lệ mổ vì các chỉ định khác chiếm tỷ lệ gần 20% 
Trong số bệnh nhân chuyển dạ tự nhiên có 72% đẻ 
thường, còn lại đẻ Forceps. Nhóm có chỉ định gây 
chuyển dạ chiếm tỷ lệ thấp, chiếm tỷ lệ 3,5%. 
3.3. Phân bố phương thức kết thúc 
thai kỳ theo tuổi thai
Mổ lấy thai chủ động chiếm tỷ lệ cao nhất trong 
các phương thức đẻ ở cả 4 nhóm tuổi thai. Chiếm 
tỷ lệ cao nhất, có 91,7% là mổ lấy thai chủ động 
khi tuổi thai từ 29-32 tuần và 93,8% ở tuổi thai 
33-37 tuần.
3.4. Biến chứng với mẹ
Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều nhất là biến 
chứng chảy máu, chiếm 9,0%; hội chứng HELLP 
6,7%; biến chứng suy thận có 3,7%; rau bong non 
có 10 trường hợp với tỷ lệ 2,7%; chỉ có 1 trường 
hợp được xác định phù phổi cấp, chiếm 0,2%; có 9 
trường hợp bị nhiễm trùng sau mổ chiếm tỷ lệ 2,2%. 
3.5. Truyền máu và các chế phẩm 
của máu
NGUYỄN VIẾT TIẾN, NGUYỄN THANH HÀ
26
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
- p: Tỷ lệ biến chứng chung của thai phụ bị TSG 
theo nghiên cứu của Chan. P và cộng sự là 34% [2].
- δ là sai số nghiên cứu, ước tính là 15%.
Dựa vào công thức trên cỡ mẫu nghiên cứu sẽ là:
n =(1,962. 0,34. 0,66): (0,34. 0,15)2
n = 331
Trong năm 2015 có 402 trường hợp đủ tiêu 
chuẩn nghiên cứu được lấy vào nghiên cứu. 
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Điều trị nội khoa
Có 10,7% trường hợp có sử dụng thuốc Magie 
sunfat; 11,9% trường hợp có sử dụng 1 loại thuốc hạ 
HA, số trường hợp phải phối hợp từ 2 loại thuốc hạ 
HA trở lên là 5,2%. Trong 402 bệnh nhân nghiên cứu 
chỉ có 8 trường hợp phải sử dụng thuốc lợi tiểu trước 
khi đình chỉ thai nghén. Số trường hợp phải sử dụng 
thuốc an thần trước khi kết thúc thai kỳ là 6,2%. Có 96 
trường hợp truyền Albumin chiếm tỷ lệ 23,9%.
3.2. Xử trí sản khoa
Loại thuốc Số lượng Tỷ lệ %
Magie sunfat 43 10,7
1 loại thuốc hạ HA* 48 11,9
≥ 2 loại thuốc hạ HA 21 5,2
Lợi tiểu 8 2,0
Thuốc an thần 25 6,2
Truyền Albumin 96 23,9
* HA: huyết áp
Bảng 1. Các thuốc được sử dụng điều trị TSG trước khi đình chỉ thai nghén
Phương pháp Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Chuyển dạ tự nhiên
N = 25 (6,2%)
Đẻ thường 18 72,0
Forceps 7 28,0
Tổng 25 100
Gây chuyển dạ
N = 14 (3,5%)
Truyền Oxytocin
N =2
Đẻ thường 1 50,0
Mổ lấy thai 1 50,0
Tổng 2 100
Dùng thuốc 
Misoprostol
N=11
Đẻ thường 5 46,0
Forceps 3 27,0
Mổ lấy thai 3 27,0
Tổng 11 100
Đặt bóng Đẻ đường âm đạo 1 100,0
Tổng 14 100
Mổ lấy thai chủ 
động
N = 363 (90,3%)
Vết mổ cũ 73 20,1
Điều trị nội không kết quả 32 8,8
TSG nặng, TSG có biến chứng 198 54,6
Suy thai 28 7,7
Nguyên nhân khác 32 8,8
Tổng 363 100
Tổng 402 100
Bảng 2. Xử trí sản khoa
Phương thức đẻ
≤ 28 tuần 29-32 tuần 33-37 tuần ≥ 38 tuần
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Gây chuyển dạ 6 19,3 6 6,4 2 1,1 0 0,0
Chuyển dạ tự nhiên 2 6,5 2 2,2 9 5,1 12 12,0
Mổ lấy thai chủ động 23 74,2 85 91,4 167 93,8 88 88,0
Tổng 31 100 93 100 178 100 100 100
Bảng 3. Phân bố phương thức kết thúc thai kỳ theo tuổi thai
Biến chứng Số lượng Tỷ lệ %
Sản giật 7 1,7
Rau bong non 10 2,7
Suy thận 15 3,7
Phù phổi cấp 1 0,2
Chảy máu 36 9,0
Nhiễm trùng 9 2,2
HELLP 27 6,7
Bảng 4. Biến chứng đối với mẹ
Số lượng máu truyền Số lượng Tỷ lệ %
1 - 2 đơn vị 10 27,8
3 - 4 đơn vị 20 55,6
≥ 5 đơn vị 6 16,6
Tổng 36 100
Bảng 5. Tinh hình truyền máu và các chế phẩm của máu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 24 - 29, 2017
27
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Có 36 trường hợp phải truyền máu và các chế 
phẩm của máu, trong đó có 10 trường hợp truyền 
1 – 2 đơn vị, chiếm 27,8%; 20 trường hợp truyền 3 
– 4 đơn vị, chiếm 55,6%; và có 6 trường hợp truyền 
từ 5 đơn vị trở lên, chiếm 16,6%.
4. Bàn luận
4.1. Điều trị nội khoa
Điều trị TSG hiệu quả nhất là đình chỉ thai 
nghén, song không phải lúc nào cũng có thể đưa 
ra quyết định định đình chỉ thai nghén ngay được 
mà phải điều trị nội khoa nhằm duy trì tình trạng 
thai nghén và hạn chế tối đa các biến chứng của 
bệnh đối với mẹ và con. 
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 63,7% bệnh 
nhân có sử dụng Magie sunfat trước khi kết thúc 
thai kỳ, qua đó cho thấy vai trò của Magie sunfat 
trong điều trị TSG. Trong nghiên cứu này chúng tôi 
thấy Magie sunfat chủ yếu được pha loãng truyền 
TM chậm với liều 2 - 4g/24h, có trường hợp phải 
dùng liều 6g/l do có biến chứng sản giật. Theo 
nghiên cứu của Trần Thị Thu Hường (2011) có 
66,7% được dùng Magie sunfat [3]. Magie sunfat 
gây giãn mạch, giãn các mao động mạch dẫn đến 
có tác dụng hạ HA. 
Theo Noor. S và cộng sự Magie sunfat là 
thuốc chống co giật lý tưởng được sử dụng trong 
99% trường hợp TSG ở Bắc Mỹ. Magie sunfat có 
tác dụng làm tăng lưu lượng dòng máu tử cung, 
tăng lưu lượng dòng máu thận, tăng giải phóng 
Prostacyclin bởi tế bào nội mô, giảm hoạt động 
của các renin huyết tương, giảm enzym chuyển 
Angiotensin, giảm sự đáp ứng của mạc máu với 
các chất tăng áp, giảm kết tụ tiểu cầu [4], Magie 
sunfat không những khống chế cơn giật mà còn 
giảm đượccác biến chứng khác cho me, giảm đáng 
kể tỷ lệ tử vong mẹ [5].
Kết quả nghiên cứu cho thấy 54,2% thai 
phụ có sử dụng 1 loại thuốc hạ huyết áp đó là 
Methyldopa. Có 3,7% bệnh nhân dùng phối hợp từ 
2 loại thuốc hạ HA trở lên. Có 23,9% bệnh nhân 
có truyền Albumin trước khi chấm dứt thai kỳ vì có 
Albumin máu giảm thấp. Việc truyền Albumin giúp 
tăng Albumin nâng áp lực keo trong huyết tương, 
giảm được triệu chứng phù. 
4.2. Phương pháp xử trí sản khoa
Phương pháp đình chỉ thai nghén luôn luôn phụ 
thuộc vào tình trạng bệnh. Uzan S và Sibai B.M 
đưa ra quan điểm rằng đình chỉ thai nghén có giá 
trị giảm thiểu nguy cơ cho mẹ và lấy thai ra khỏi 
môi trường thiếu dinh dưỡng trong tử cung [6]. Vì 
vậy, cách thức đình chỉ thai nghén cũng liên quan 
đến yếu tố nguy cơ cho mẹ và yếu tố nguy cơ cho 
con. Điển hình trong nghiên cứu của Phan Thị Thu 
Huyền chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa phương 
pháp đình chỉ thai nghén và tình trạng trẻ sinh ra 
sống hay tử vong [7].
Trong kết quả nghiên cứu này, đa phần các 
hình thức đình chỉ thai nghén cho thai phụ tập 
trung vào phương pháp mổ lấy thai (90,3%). Kết 
quả của tác giả Phan Thị Thu Huyền với tỷ lệ mổ 
lấy thai là 88,9% (1997) và 96,2% (2007) [7]; 
tác giả Trương Thị Hà Khuyên 83,3% (2014) 
[8]. Điều này cho thấy mổ lấy thai là phương 
pháp mà các thầy thuốc đang chỉ định rộng rãi 
trong điều trị tiền sản giật cho bẹnh nhân. Có thể 
phương pháp mổ lấy thai là một phương pháp 
an toàn, không tốn thời gian theo dõi và cho 
kết quả nhanh chóng. Trong khi đó các phương 
pháp đình chỉ thai nghén khác đòi hỏi sự theo 
dõi sát sao và có thể xuất hiện biến chứng. Có 
một số kết quả nghiên cứu ở Mỹ củng cố thêm 
cho nhận định trên như nhóm bệnh nhân tiền 
sản giật có nhiều yếu tố nguy cơ gây chuyển dạ 
thất bại và tỷ lệ mổ lấy thai cũng cao hơn rõ rệt 
so với nhóm không bị tiền sản giật [9]; những 
bệnh nhân tiền sản giật có nguy cơ mổ lấy thai 
cao hơn đẻ đường âm đạo khi gây chuyển dạ 
so với những bệnh nhân không bị tiền sản giật 
ở cùng độ tuổi thai và ở cả nhóm con so, con 
rạ [10]. Ngoài ra, chỉ định mổ lấy thai là bắt 
buộc đối với những sản phụ nhóm tiền sản giật 
nặng, tiền sản giật có biến chứng dù chưa có 
dấu hiệu chuyển dạ nhằm mục đích bảo vệ tính 
mạng mẹ. Mặt khác mổ lấy thai cũng được chỉ 
định chủ động với những trường hợp có dấu hiệu 
suy thai. Còn các phương pháp như chuyển dạ 
tự nhiên 6,2%; sử dụng các phương pháp gây 
chuyển dạ như Misoprotol; truyền oxytocin hay 
đặt bóng gây chuyển dạ có tỷ lệ rất thấp chỉ với 
3,5% mà trong đó không phải trường hợp gây 
chuyển dạ nào cũng kết thúc thai kỳ bằng đẻ đẻ 
đường âm đạo được. Những trường hợp này chủ 
yếu là các trường hợp tiền sản giật nhẹ tiến triển 
NGUYỄN VIẾT TIẾN, NGUYỄN THANH HÀ
28
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
thuận lợi, hoặc thai lưu, hoặc thai non tháng. 
Kết quả của Phan Thị Thu Huyền cũng chỉ ra 
rằng có 11,1% (1997) và 3,8% (2007) sử dụng 
các phương pháp đình chỉ thai nghén khác mà 
không phải là mổ lấy thai [7]. 
Qua bảng 3 cho ta thấy gây chuyển dạ chủ 
yếu ở tuổi thai cực non, chiếm 19,3%; còn những 
trường hợp thai lớn hơn thì chủ yếu mổ lấy thai 
chủ động. Có thể do hạn chế của các phương 
pháp gây chuyển dạ là ảnh hưởng đến sức khỏe 
của bà mẹ hoặc trẻ nên ít được sử dụng phổ biến, 
trừ một số trường hợp đặc biệt khi thai quá non 
tháng không sống được và đình chỉ thai nghén 
để cứu mẹ.
4.3. Biến chứng tiền sản giật đối với 
thai phụ 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, 
số lượng thai phụ gặp biến chứng là 70 thai phụ 
trong tổng số 402 thai phụ chiếm tỷ lệ 17,4%. 
Trong đó, HELLP (6,7%) chiếm tỷ lệ cao hơn so 
với các biến chứng khác. Biến chứng HELLP là 
biến chứng ảnh hưởng nhiều đến sản phụ và 
thai nhi. Điều này được minh chứng trong một 
nghiên cứu ở Hà Lan, tỷ lệ tử vong mẹ trong thời 
gian vừa qua không giảm với nguyên nhân chính 
là tiền sản giật, sản giật [11]. Trong đó có hơn 
50% trường hợp được chẩn đoán có xuất hiện 
hội chứng HELLP. Đồng thời nghiên cứu tại Hà 
Lan cũng chỉ ra các biến chứng nặng nề của hội 
chứng HELLP như rau bong non 15% - 20%, đông 
máu rải rác trong lòng mạch 20% - 38%, suy 
thận cấp 8%, phù phổi cấp 6%, suy gan 1,8%, 
phù não 1% và xuất huyết 5% [11]. Trong một 
nghiên cứu khác, tác giả Sibai B.M và Anderson 
G.D cho rằng nguyên nhân gây tử vong mẹ là 
phù phổi cấp, hội chứng HELLP với các rối loạn 
chảy máu và đông máu rải rác trong lòng mạch 
[12]. Từ các số liệu trên cho thấy hội chứng HELLP 
là biến chứng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức 
khỏe, tính mạng bà mẹ và thai nhi nên các cần 
theo dõi sát sao và đưa ra chỉ định đình chỉ thai 
nghén kịp thời.
Các biến chứng bao gồm rau bong non, sản 
giật và phù phổi cấp đều đạt tỷ lệ chưa tới 3%. 
Điều này được lý giải do những năm gần đây, hiểu 
biết của các bà mẹ cao hơn, sự quản lý thai nghén 
các cơ sở y tế tốt hơn, quá trình theo dõi và tầm 
soát các thai phụ tiền sản giật tốt hơn, các thuốc 
điều trị có tác dụng tốt cùng với thầy thuốc có trình 
độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm đã hạn chế 
được biến chứng sản giật và tử vong.
Nhìn chung, số lượng sản phụ gặp biến chứng 
thấp và tỷ lệ các biến chứng xảy ra đối với các 
sản phụ bị tiền sản giật thấp là một dấu hiệu 
đáng mừng. Phản ánh chất lượng khám chữa 
bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương ngày 
càng tiến bộ.
4.4. Tình hình truyền máu và các chế 
phẩm của máu
Qua bảng 5 ta thấy có có 36 trường hợp phải 
truyền máu và các chế phẩm của máu. Trong đó 
có 16,6% phải truyền từ 5 đơn vị trở lên, đây là 
những trường hợp chảy máu, gây ra thiếu máu 
nặng nề, đe dọa tử vong cho sản phụ. Nhưng 
do bệnh viện phụ sản trung ương đã phối hợp 
tốt với trung tâm huyết học và truyền máu nên 
đã ứng phó kịp thời và giữ được tính mạng cho 
bệnh nhân. Cũng trong nghiên cứa này cho thấy 
có 55,6% trường hợp truyền 3 – 4 đơn vị máu và 
các chế phẩm của máu, là những trường hợp thiếu 
máu trung bình, những trường hợp này nếu không 
được truyền máu kịp thời sẽ dẫn đến thiếu máu 
nặng và phức tạp.
Về nguyên tắc truyền máu, nếu thiếu thành 
phần nào thì bổ sung thành phần đó, nhưng 
thiếu máu trong TSG do vừa thiếu cả huyết cầu 
vừa thiếu cả các yếu tố đông máu nên việc truyền 
máu toàn phần cũng rất quan trọng.
5. Kết luận
Tiền sản giật có 3,5% gây chuyển dạ, 6,2% 
chuyển dạ tự nhiên và 90,3% mổ lấy thai chủ 
động, chủ yếu do những biến chứng của tiền sản 
giật. Trong số bệnh nhân chuyển dạ tự nhiên có 
72% đẻ thường. Nhóm có chỉ định gây chuyển 
dạ là 3,5%. Có 91,7% là mổ lấy thai chủ động 
khi tuổi thai từ 29-32 tuần và 93,8% ở tuổi thai 
33-37 tuần. Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều nhất 
là chảy máu, chiếm 9,0%; hội chứng HELLP 6,7%; 
biến chứng suy thận có 3,7%; rau bong non 2,7%; 
phù phổi cấp 0,2%; nhiễm trùng sau mổ chiếm tỷ 
lệ 2,2%. Truyền 1 – 2 đơn vị máu chiếm 27,8%; 
truyền 3 – 4 đơn vị, chiếm 55,6%; truyền từ 5 đơn 
vị trở lên, chiếm 16,6%.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 24 - 29, 2017
29
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Tài liệu tham khảo
1. Trần Hán Chúc. Nhiễm độc thai nghén. Bài giảng sản phụ khoa. 
Nhà xuất bản Y học. 1999.
2. Chan P., Brown M, Simpson JM et al. Protein uria in pre-eclampsia: 
how much watters. BTOG. 2008; 112(3), pp. 285.
3. Trần Thị Thu Hường. Nghiên cứu về sản giật tại BVPSTW trong 3 năm 
từ 01/1/2008 – 31/12/201. Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Hà Nội. 2011.
4. Noor-S, Halimi M, Faiz NR et al. Magnesiumsunfat in propply lasix and 
treatment of eclampsia. J Ayub Med Coll Abbottabad. 2004; 16(2), pp. 54.
5. Zeeman G.G, Fleckenstein JL, Twich Dm et al. Cerebrail in farction in 
eclampsia. AmJ Obstet Gynecol. 2004; 15(2), pp. 214.
6. SibaiB.M . Management and counseling of patients with pree-clampsia 
remote from term. Clin Obstet Gynecol. 1992; 35,2, pp. 426 - 435.
7. Phan Thị Thu Huyền. Nghiên cứu những chỉ định đình chỉ thai nghén 
ở những thai phụ tiền sản giật tại bệnh viện Trung ương trong hai năm 
1997 và 2007, Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Hà Nội. 2008
8. Trương Thị Hà Khuyên. Nghiên cứu hoạt độ LDH huyết thanh trong 
bệnh lý tiền sản giật tại bệnh viện Phụ sản Trung ương. Luận văn tốt 
nghiệp bác sĩ nội trú, Sản phụ khoa. Đại học Y Hà Nội. 2015
9. XenakisE.M-etal. Pre-eclampsia: Is induction of Labor More 
successfull?”, Obstetrics and Gynecology. 1997; Vol 89/4, pp. 600-603.
10. KimLena-etal. Pre-eclampsia is a risk factor for cesarean delivery in 
the setting of induction of labor. am J Obstet Gynecol S105. 2007.
11. OnrustSimone-SantemaJ.G. Pre-eclampsia and the HELLP 
syndrome still cause maternal mortality in the Netherlands and other 
developed countries, can we reduce it?. European Journal of Obstetrics 
and Gynecology and reprodutive Biology. 1999; 82, pp. 41-46.
12. SibaiB.M-AndersonG.D. Hypertension in pregnancy. Obstetric 
normal and problem pregnancy. 2th edition- Edited by Steven G- Gabble. 
1991; 30, pp. 993 - 1020.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_xu_tri_tien_san_giat_tai_benh_vien_phu_san_trung_uon.pdf