Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học hỗ trợ điều trị nâng cao sức khỏe cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị suy giảm miễn dịch

I. MỞ ĐẦU

Như đã được nghiên cứu trước đây [3], chế phẩm peptit điều hoà sinh học

(ĐHSH) do Liên bang Nga sản xuất dùng trong hỗ trợ điều trị cho cựu chiến binh

(CCB) bị phơi nhiễm chất độc Da cam/Dioxin mắc bệnh phì đại lành tính tuyến tiền

liệt đạt kết quả tốt và không gây tác dụng phụ. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đã tiếp

tục nghiên cứu hỗ trợ điều trị cho CCB bị phơi nhiễm với chất độc Da cam/Dioxin

mắc bệnh suy giảm miễn dịch (SGMD) [1] bằng các chế phẩm peptit ĐHSH thích hợp

cũng trên 150 đối tượng và thiết kế nghiên cứu như được nêu trong [3] với việc sử

dụng 3 loại chế phẩm peptit ĐHSH là Vezugen 0,2 g, Kristagen 0,2 g và Vladoniks

0,2 g được uống trong thời gian 20 ngày.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học hỗ trợ điều trị nâng cao sức khỏe cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị suy giảm miễn dịch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học hỗ trợ điều trị nâng cao sức khỏe cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị suy giảm miễn dịch

Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học hỗ trợ điều trị nâng cao sức khỏe cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị suy giảm miễn dịch
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 78 
KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM PEPTIT ĐIỀU HÒA SINH HỌC 
HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NÂNG CAO SỨC KHỎE CHO NẠN NHÂN 
CHẤT ĐỘC DA CAM / DIOXIN BỊ SUY GIẢM MIỄN DỊCH 
HOÀNG VĂN HUẤN, PHẠM KHẮC LINH, NGUYỄN NHƯ NGHĨA VÀ CS 
I. MỞ ĐẦU 
Như đã được nghiên cứu trước đây [3], chế phẩm peptit điều hoà sinh học 
(ĐHSH) do Liên bang Nga sản xuất dùng trong hỗ trợ điều trị cho cựu chiến binh 
(CCB) bị phơi nhiễm chất độc Da cam/Dioxin mắc bệnh phì đại lành tính tuyến tiền 
liệt đạt kết quả tốt và không gây tác dụng phụ. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng đã tiếp 
tục nghiên cứu hỗ trợ điều trị cho CCB bị phơi nhiễm với chất độc Da cam/Dioxin 
mắc bệnh suy giảm miễn dịch (SGMD) [1] bằng các chế phẩm peptit ĐHSH thích hợp 
cũng trên 150 đối tượng và thiết kế nghiên cứu như được nêu trong [3] với việc sử 
dụng 3 loại chế phẩm peptit ĐHSH là Vezugen 0,2 g, Kristagen 0,2 g và Vladoniks 
0,2 g được uống trong thời gian 20 ngày. Các chỉ tiêu nghiên cứu được quan tâm là: 
- Chỉ số BMI. 
- Chỉ số miễn dịch dịch thể: IgA, IgG và IgM [4], [5]. 
- Chỉ số miễn dịch tế bào: CD3, CD4, CD8, CD19 và tỷ lệ CD4/CD8 [2], [5]. 
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh học: Huyết học; sinh hóa  [3]. 
II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 
2.1. Tác dụng hỗ trợ điều trị SGMD của chế phẩm peptit ĐHSH 
Chỉ số BMI của CCB trước và sau điều trị SGMD được đưa ra tại bảng 1. 
Bảng 1. Chỉ số BMI trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước HTĐT (n = 150) Sau HTĐT (n = 150) 
Chỉ số BMI 
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
Nhẹ cân (BMI: < 18,5) 64 42,7 46 30,7 
Bình thường (BMI: 18,5 - 22,9) 86 57,3 104 69,3 
X ± SD 18,85 ± 2,05 19,15 ± 1,81 
 p < 0,01 
Kết quả bảng 1 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị, chỉ số BMI của CCB tăng từ 18,85 
± 2,05 kg/m2 lên 19,15 ± 1,81 kg/m2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. 
Tỷ lệ CCB nhóm nhẹ cân giảm từ 42,7% xuống 30,7% và tỷ lệ CCB có thể trạng 
bình thường tăng từ 57,3% lên 69,3%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. 
Kết quả nghiên cứu về chỉ số miễn dịch dịch thể của CCB trước và sau hỗ trợ 
điều trị được đưa ra tại các bảng 2 và 3. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 79 
Bảng 2. Các chỉ số miễn dịch dịch thể trước và sau hỗ trợ điều trị 
Chỉ số 
Người trưởng 
thành* (n = 56) 
( X ± SD) 
Trước hỗ trợ ĐT 
(n = 150) 
( X ± SD) 
Sau hỗ trợ ĐT 
(n = 150) 
( X ± SD) 
p 
IgA (mg/dl) 363 ± 30 224,19 ± 79,61 227,0 ± 84,09 > 0,05 
IgG (mg/dl) 1780 ± 202 1202,27 ± 253,44 1445,20 ± 274,66 < 0,01 
IgM (mg/dl) 238 ± 48 126,56 ± 56,47 132,46 ± 60,70 < 0,01 
* Giá trị sinh học người Việt Nam (nam 60 - 85 tuổi). 
Kết quả bảng 2 cho thấy, trước và sau hỗ trợ điều trị, nồng độ IgA biến đổi 
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 
Sau hỗ trợ điều trị, các chỉ số IgG và IgM tăng từ 1202,27 ± 253,44 mg/dl và 
126,56 ± 56,47 mg/dl lên 1445,20 ± 274,66 mg/dl và 132.46 ± 60,70 mg/dl, sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). 
Trước và sau hỗ trợ điều trị, nồng độ IgA, IgG và IgM thấp hơn so với giá trị 
sinh học của người Việt Nam. Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu trước đây của 
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga [6]. 
Bảng 3. Phân bố các chỉ số miễn dịch dịch thể trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước HTĐT (n=150) Sau HTĐT (n=150) Chỉ số 
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
≤ 200 73 48,7 60 40,0 
> 200 77 51,3 90 60,0 IgA (mg/dl) 
p p > 0,05 
≤ 1500 133 88,7 87 58,0 
> 1500 17 11,3 63 42,0 IgG (mg/dl) 
p < 0,01 
≤ 150 109 72,7 105 70,0 
> 150 41 27,3 45 30,0 IgM (mg/dl) 
p p > 0,05 
Kết quả bảng 3 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị tỷ lệ CCB có nồng độ IgA > 200 
mg/dl, nồng độ IgM > 150 mg/dl tăng từ 51,3% và 27,3% lên 60,0% và 30,0%, 
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 
Tỷ lệ CCB có nồng độ IgG > 1500 mg/dl tăng từ 11,3% lên 42,0%, sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. 
Kết quả nghiên cứu về chỉ số miễn dịch tế bào của CCB trước và sau điều trị 
được đưa ra tại các bảng 4 và bảng 5. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 80 
Bảng 4. Sự thay đổi các chỉ số miễn dịch tế bào 
Chỉ số 
Người trưởng 
thành* (n=56) 
( X ± SD) 
Trước điều trị 
(n= 150) 
( X ± SD) 
Sau điều trị 
(n= 150) 
( X ± SD) 
P 
CD3 (TB/μl) 1282,0 ± 415,0 963,01 ± 299,49 1088,78 ± 308,41 < 0,01 
CD4 (TB/μl) 643,0 ± 199,0 501,96 ± 122,77 569,33 ± 150,75 < 0,01 
CD8 (TB/μl) 601,0 ± 220,0 389,72 ± 202,24 438,10 ± 203,81 < 0,05 
CD19 (TB/μl) 419,02 ± 207,0 235,39 ± 136,93 217,50 ± 103,13 > 0,05 
CD4/CD8 1,36 ± 0,57 1,54 ± 0,71 1,58 ± 0,87 > 0,05 
* Giá trị sinh học người Việt Nam (nam 60 - 85 tuổi). 
Kết quả bảng 4 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị, các chỉ số đánh giá khả năng đáp 
ứng miễn dịch tế bào dòng lympho T như: CD3, CD4, CD8 tăng có ý nghĩa thống 
kê (p < 0,05 - 0,01). 
Chỉ số tế bào miễn dịch CD19 và tỷ lệ CD4/CD8 sau hỗ trợ điều trị biến đổi 
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 
Trước và sau hỗ trợ điều trị, các chỉ số CD3, CD4, CD8 và CD19 thấp hơn so 
với giá trị sinh học của người Việt Nam. Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu 
trước đây của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga [6]. 
Bảng 5. Phân bố các chỉ số miễn dịch tế bào trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước hỗ trợ ĐT (n = 150) Sau hỗ trợ ĐT (n = 150) Chỉ số Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
≤ 1000 91 60,7 62 41,3 
> 1000 59 39,3 88 58,7 CD3 (TB/μl) p < 0,01 
≤ 500 75 50,0 46 30,7 
> 500 75 50,0 104 69,3 CD4 (TB/μl) p < 0,01 
≤ 350 75 50,0 58 38,7 
> 350 75 50,0 92 61,3 CD8 (TB/μl) < 0,05 
> 200 79 52,7 73 48,7 
≤ 200 71 47,3 77 51,3 CD19 (TB/μl) p > 0,05 
Kết quả bảng 5 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị tỷ lệ CCB có số lượng tế bào 
CD3>1000 TB/μl tăng từ 39,3% lên 58,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p 500 TB/μl tăng từ 50,0% lên 69,3%, 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,01. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 81 
Tỷ lệ CCB có số lượng tế bào CD8 > 350 TB/μl tăng từ 50,0% lên 61,3%, sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. 
Tỷ lệ CCB có số lượng tế bào CD19 >200 TB/μl giảm từ 52,7% xuống 48,7%, 
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với (p > 0,05). 
Đánh giá chung: 
 Dựa vào sự cải thiện của các chỉ tiêu khám lâm sàng: các triệu chứng toàn thân, 
các chỉ tiêu xét nghiệm miễn dịch: IgA, IgG, IgM, CD3, CD4, CD8và các chỉ số hóa 
sinh máu đánh giá chức năng gan, chức năng thận. Chúng tôi đánh giá kết quả chung 
sau hỗ trợ điều trị suy giảm miễn dịch làm 3 mức độ là: kết quả tốt, kết quả khá và 
kết quả kém (bảng 6). 
Bảng 6. Kết quả chung sau hỗ trợ điều trị suy giảm miễn dịch (n = 150) 
Kết quả hỗ trợ điều trị Số lượng Tỷ lệ (%) 
Tốt 105 70,0 
Khá 45 30,0 
Kém 0 0 
Kết quả bảng 6 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị có 70,0% số CCB suy giảm miễn dịch 
đạt kết quả tốt, 30,0% đạt kết quả khá và không có trường hợp nào đạt kết quả kém. 
2.2. Tính an toàn của chế phẩm peptit ĐHSH thông qua một số chỉ tiêu 
sinh học ở CCB 
 Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi các chỉ số huyết học được đưa ra tại bảng 7 
Bảng 7. Các chỉ số huyết học trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước HT ĐT (n = 150) Sau HT ĐT (n = 150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
4,61 ± 0,54 4,70 ± 0,54 
Số lượng hồng cầu (T/l) 
p > 0,05 
13,40 ± 1,52 13,06 ± 1,3 
Hemoglobin (g/dl) 
p > 0,05 
41,02 ± 4,53 39,78 ± 4,34 
Hematocrit (%) 
p > 0,05 
6,00 ± 1,43 6,07 ± 1,68 
Số lượng bạch cầu G/l) 
p > 0,05 
Kết quả bảng 7 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị số lượng hồng cầu, nồng độ 
hemoglobin, tỷ lệ hematocrit và số lượng bạch cầu thay đổi không đáng kể và vẫn 
nằm trong giới hạn sinh lý. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 82 
Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi các chỉ số sinh hóa chức năng gan được đưa 
ra tại bảng 8. 
Bảng 8. Chức năng gan trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước HT điều trị (n=150) Sau HT điều trị (n=150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
42,03 ± 16,55 35,34 ± 14,88 
AST (U/L) 
p > 0,05 
27,46 ± 12,34 27,17 ± 13,32 
ALT (U/L) 
p > 0,05 
13,66 ± 7,17 12,36 ± 6,63 
Bilirubin TP (μmol/l) 
p > 0,05 
Kết quả bảng 8 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị, chỉ số chức năng gan đều có xu 
hướng giảm, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
Kết quả nghiên cứu sự biến đổi các chỉ số sinh hóa chức năng thận được đưa ra 
tại bảng 9. 
Bảng 9. Chức năng thận trước và sau hỗ trợ điều trị 
 Trước HT điều trị (n= 150) Sau HT điều trị (n= 150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
7,61 ± 1,58 5,82 ± 1,56 
Ure (mmol/l) 
p > 0,05 
91,30 ± 19,16 85,64 ± 16,41 
Creatinin (μmol/l) 
p > 0,05 
Kết quả bảng 9 cho thấy, sau hỗ trợ điều trị các chỉ số đánh giá chức năng thận 
đều có xu hướng giảm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
Kết quả nghiên cứu ở bảng 7, bảng 8 và bảng 9 cho thấy sau hỗ trợ điều trị 
bằng các chế phẩm peptit ĐHSH các chỉ số sinh học trong máu của các CCB biến 
đổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, các chỉ số này vẫn nằm trong giới hạn 
sinh lý. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của chúng tôi đối với CCB bị phì 
đại lành tính tuyến tiền liệt [3]. 
Theo dõi trong quá trình hỗ trợ điều trị cho thấy các chế phẩm peptit ĐHSH 
không gây buồn nôn và nôn, không gây đau bụng và rối loạn tiêu hóa; không thấy các 
dấu hiệu chóng mặt, nhức đầu, mất ngủ Do vậy các chế phẩm peptit ĐHSH không 
gây tác dụng phụ khi hỗ trợ điều trị. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước 
đây của Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga về độc tính của các chế phẩm peptit 
ĐHSH [7], [8], [9]. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 83 
III. KẾT LUẬN 
1. Các chế phẩm peptit ĐHSH hỗ trợ điều trị cho những CCB bị phơi nhiễm 
với chất độc Da cam/Dioxin có biểu hiện SGMD đạt kết quả tốt chiếm hơn 70%, kết 
quả khá 30%, không có kết quả kém. 
2. Các triệu chứng toàn thân của CCB được cải thiện: tinh thần thoải mái, ăn, 
ngủ tốt hơn, chỉ số BMI tăng từ 18,85 ± 2,05 lên 19,15 ± 1,81 kg/m2, tỷ lệ nhóm nhẹ 
cân giảm từ 42,7% xuống 30,7% và tỷ lệ nhóm bình thường tăng từ 57,3% lên 69,3%. 
3. Các chế phẩm peptit ĐHSH đã tác động lên hệ miễn dịch, làm tăng các chỉ 
số miễn dịch dịch thể IgG, IgM và tăng chỉ số miễn dịch tế bào CD3, CD4, CD8. Do 
vậy đã nâng cao được sức khỏe và tăng cường khả năng miễn dịch cho CCB. 
4. Các chế phẩm peptit ĐHSH dùng trong hỗ trợ điều trị không gây tác dụng 
phụ trong quá trình hỗ trợ điều trị, có thể ứng dụng hỗ trợ điều trị cho CCB bị phơi 
nhiễm với chất độc Da cam/Dioxin và các đối tượng khác. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Vũ Triệu An, Jean Claude Homberg, 2001, Miễn dịch học, Nhà xuất bản y học 
Hà Nội, tr.488. 
2. Đào Văn Chinh, Nguyễn Quốc Tuấn, Phạm Văn Thức, 2002, Miễn dịch học lâm 
sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 
3. Hoàng văn Huấn, Phạm Khắc Linh, Nguyễn Như Nghĩa và cs., (2012), “Kết 
quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học hỗ trợ điều trị cho những 
người có tiền sử tiếp xúc với chất độc Da cam/Dioxin bị phì đại lành tính 
tuyến tiền liệt”, Tạp chí KH&CN Nhiệt đới số 01, TTNĐ Việt-Nga, tr.85-93. 
4. Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Đình Hường, Đặng Đức Trạch và cs., 1992, Các khía 
cạnh Miễn dịch học trong bệnh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 260 - 262. 
5. Nguyễn Ngọc Lanh, Văn Đình Hoa, Phan Thị Phi Phi và cs., 2003, Miễn dịch 
học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.376. 
6. Ngô Thanh Nam, Nguyễn Quốc Ân, Vũ Hồng Diệp và cs., (2007), “Một số kết 
quả nghiên cứu sử dụng chế phẩm peptit điều hòa sinh học để hỗ trợ nâng cao sức 
khỏe của các cựu chiến binh tiền sử có tiếp xúc với chất độc hóa học/dioxin”, Kỷ 
yếu HTKH hướng Y sinh nhiệt đới, TTNĐ Việt - Nga, tr.248 -249. 
7. Khavinson V. Kh., 2002, Peptides and Ageing, Neuroendocrinol Letters, 23(3), 
p.11-144. 
8. Khavinson V.Kh. & Morozov V.G., 2003, Peptides of pineal gland and thymus 
prolong human life, Neuroendocrinology Letter, 24 (3/4), p.233-240. 
9. Korkushko O.V. et al., 2007, Normalizing effect of the pineal gland peptides 
on the daily melatonin rhythm in old monkeys and elderly people, Adv. 
Gerontol., 20(1), p.74-85. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 02, 03 - 2013 84 
SUMMARY 
THE RESULT OF USING PEPTIDES BIOREGULATORS 
SUPPORTING THE TREATMENT FOR THE PERSON WHO GET 
IMMUNE DEFICIENCY DUE TO EXPOSING TO AGENT ORANGE 
 The article provides some results of researching in supporting the treatment and 
rehabilitation for verterans who get immune deficiency because of exposing to Agent 
Orange by the peptides bioregulator produced by Russia Federation. The research 
shows that the good result of peptides bioregulator application occupies 70%, the 
goodish one account for 30% and there is complete no negative result. The peptides 
bioregulator products effect to immune system to increase the immune indexes: IgG, 
IgM, CD3, CD4 and CD8. The peptides bioregulator products assist veterans treat 
and improve their health and raise immune ability up without any side effect. 
 Keywords: Agent Orange, supporting treatment, peptide bioregulator, 
immune deficiency 
Nhận bài ngày 04 tháng 02 năm 2013 
Hoàn thiện ngày 18 tháng 02 năm 2013 
Viện Y sinh nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_ung_dung_che_pham_peptit_dieu_hoa_sinh_hoc_ho_tro_di.pdf