Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hoà sinh học hỗ trợ điều trị cho những người có tiền sử tiếp xúc với chất độc da cam/dioxin bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Dioxin hiện được biết đến là một chất độc mạnh nhất do con người tạo ra, có

thể gây ra nhiều bệnh nan y như dị tật bẩm sinh và tai biến sinh sản, biến đổi về di

truyền và ung thư, biến đổi về máu và hệ men chuyển hoá, biến đổi về hệ miễn dịch

và chỉ số thông minh. Một hướng nghiên cứu được Viện Y sinh Nhiệt đới thuộc

Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga quan tâm và triển khai nghiên cứu hỗ trợ điều trị,

phục hồi sức khỏe cho nạn nhân da cam/dioxin bằng các chế phẩm peptit điều hoà

sinh học (ĐHSH) do Liên Bang Nga sản xuất.

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hoà sinh học hỗ trợ điều trị cho những người có tiền sử tiếp xúc với chất độc da cam/dioxin bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hoà sinh học hỗ trợ điều trị cho những người có tiền sử tiếp xúc với chất độc da cam/dioxin bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt

Kết quả ứng dụng chế phẩm peptit điều hoà sinh học hỗ trợ điều trị cho những người có tiền sử tiếp xúc với chất độc da cam/dioxin bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 85 
KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM PEPTIT ĐIỀU HOÀ SINH HỌC 
HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ TIỀN SỬ TIẾP XÚC VỚI 
CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN BỊ PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT 
HOÀNG VĂN HUẤN, PHẠM KHẮC LINH, NGUYỄN NHƯ NGHĨA, 
NGUYỄN QUỐC ÂN, PHẠM XUÂN NINH, NGÔ THANH NAM, PHẠM NGỌC QUANG 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Dioxin hiện được biết đến là một chất độc mạnh nhất do con người tạo ra, có 
thể gây ra nhiều bệnh nan y như dị tật bẩm sinh và tai biến sinh sản, biến đổi về di 
truyền và ung thư, biến đổi về máu và hệ men chuyển hoá, biến đổi về hệ miễn dịch 
và chỉ số thông minh... Một hướng nghiên cứu được Viện Y sinh Nhiệt đới thuộc 
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga quan tâm và triển khai nghiên cứu hỗ trợ điều trị, 
phục hồi sức khỏe cho nạn nhân da cam/dioxin bằng các chế phẩm peptit điều hoà 
sinh học (ĐHSH) do Liên Bang Nga sản xuất. 
Các peptit điều hoà sinh học thường là chất có hoạt tính sinh học có cấu trúc 
dưới 10 acid amin, có trong các tế bào của động vật và người. Các chế phẩm peptit 
ĐHSH đầu tiên đã được tách chiết từ các mô của động vật. Thành phần hóa học của 
các chế phẩm peptit ĐHSH gồm các acid amin dạng dễ hấp thu, các loại khoáng chất 
(magiê, sắt, photpho, kali, canxi, natri...), các nguyên tố vi lượng (đồng, mangan, 
cobal, molipden...) và các vitamin (B1, B2, A, E...) [8]. Tác dụng của peptit ĐHSH 
đều thông qua hoạt động của bộ gen tế bào. Trong tế bào các peptit ĐHSH kết hợp 
với ADN tạo thành các phức hợp interpolymer có khả năng điều hoà quá trình biểu 
thị gen, hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình tổng hợp protein của tế bào, nhờ đó mà 
giúp ổn định chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể [8], [9]. 
Bài báo cung cấp một số kết quả ứng dụng các chế phẩm peptit điều hoà sinh 
học do Liên Bang Nga sản xuất trong hỗ trợ điều trị cho những người có tiền sử 
tiếp xúc với chất độc da cam/dioxin tại tỉnh Thái Bình mắc bệnh phì đại lành tính 
tuyến tiền liệt (PĐLTTTL). 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu là 150 cựu chiến binh (CCB) có tiền sử tiếp xúc với chất 
độc da cam/dioxin đang sinh sống tại tỉnh Thái Bình có tuổi đời từ 55 đến 75 tuổi 
mắc bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt đã được điều tra dịch tễ học, khám lâm 
sàng, xét nghiệm sàng lọc theo tiêu chuẩn chẩn đoán để tham gia hỗ trợ điều trị bằng 
các chế phẩm peptit điều hòa sinh học. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu lâm sàng, tiến cứu, theo chiều dọc. Đánh giá so sánh các 
chỉ tiêu nghiên cứu trước và sau hỗ trợ điều trị. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 86 
2.2.2. Phác đồ điều trị 
Theo phác đồ điều trị của Viện Lão khoa và Điều hoà sinh học Saint-
Petersburg Liên Bang Nga. Sử dụng 4 loại chế phẩm peptit ĐHSH là: Veziliut 0,2g; 
Vezugen 0,2g; Kristagen 0,2g và Ventfort 0,2g/ngày, uống trong thời gian 20 ngày. 
2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu 
- Đánh giá mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm triệu chứng tuyến tiền liệt 
quốc tế IPSS và điểm chất lượng cuộc sống Q0L; lưu lượng nước tiểu; thể tích nước 
tiểu tồn dư; thể tích tuyến tiền liệt [2], [3], [5], [6], [11]. 
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh học: Huyết học (HC, Hb, bạch cầu...); sinh hóa 
chức năng gan (AST, ALT, bilirubin toàn phần), chức năng thận (ure, creatinin). 
2.3. Xử lý số liệu 
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 9.0 
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 
3.1. Tác dụng hỗ trợ điều trị PĐLTTTL của chế phẩm peptit ĐHSH 
Bảng 1. Mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước hỗ trợ điều trị 
(n = 150) 
Sau hỗ trợ điều trị 
(n = 150) Mức độ rối loạn tiểu tiện 
theo thang điểm IPSS Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
Nhẹ (1- 7 điểm) 8 5,3 36 24,0 
Trung bình (8 - 19 điểm) 81 54,0 100 66,7 
Nặng (20 - 35 điểm) 61 40,7 14 9,3 
Điểm IPSS ( X ± SD) 20,94 ± 8,49 8,46 ± 2,78 
 p < 0,01 
Sau hỗ trợ điều trị, điểm IPSS trung bình của các CCB giảm từ 20,94 ± 8,49 
điểm xuống 8,46 ± 2,78 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Kết quả 
này giảm 12,48 điểm, giảm nhiều hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn 
Thị Tú Anh ở bệnh nhân PĐLTTTL điều trị bài “Thận khí hoàn gia giảm” giảm 9,29 
điểm [1] và của Nguyễn Bá Quế sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch 
vĩ, Kim ngân hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, 
Ngải tượng, Ích trí nhân) giảm 5,03 điểm [7]. 
Tỷ lệ CCB có rối loạn tiểu tiện mức độ nặng giảm từ 40,7% xuống 9,3%. 
Trong khi đó tỷ lệ CCB có rối loạn tiểu tiện mức độ nhẹ và trung binh lại tăng từ 
5,3% và 54% lên 24,0% và 66,7%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 
(biểu đồ 1). 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 87 
5.3
54
40.7
24
66.7
9.3
0
10
20
30
40
50
60
70
Tỷ lệ (%)
Trước điều trị Sau điều trị
Nhẹ Trung bình Nặng 
Biểu đồ 1. Mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS trước và sau hỗ trợ điều trị 
Bảng 2. Mức độ rối loạn tiểu tiện theo điểm chất lượng cuộc sống (Q0L) 
Trước hỗ trợ điều trị 
(n = 150) 
Sau hỗ trợ điều trị 
(n = 150) 
Mức độ rối loạn tiểu tiện 
theo điểm chất lượng 
cuộc sống Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
Nhẹ (0 - 2 điểm) 10 6,7 71 47,3 
Trung bình (3 - 4 điểm) 92 61,3 79 52,7 
Nặng (5 - 6 điểm) 48 32,0 0 0 
Điểm Q0L ( X ± SD) 4,10 ± 1,01 2,53 ± 0,61 
 p < 0,001 
Sau hỗ trợ điều trị, điểm chất lượng cuộc sống trung bình của các CCB bị 
PĐLTTTL giảm từ 4,10 ± 1,01 điểm xuống 2,53 ± 0,61 điểm, sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu 
Nguyễn Thị Tú Anh ở bệnh nhân PĐLTTTL điều trị bài “Thận khí hoàn gia giảm” 
[1] và nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 
(Thạch vĩ, Kim ngân hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, 
Tam thất, Ngải tượng, Ích trí nhân) [7]. 
Tỷ lệ CCB có rối loạn tiểu tiện mức độ nặng theo thang điểm chất lượng cuộc 
sống giảm từ 32,0% xuống 0%. Ngược lại, tỷ lệ CCB có rối loạn tiểu tiện mức độ 
nhẹ lại tăng từ 6,7% lên 47,3%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. 
Bảng 3. Lưu lượng nước tiểu của CCB trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước HT điều trị (n = 150) Sau HT điều trị (n = 150) Lưu lượng 
nước tiểu (ml/giây) n % n % 
< 2 ml/giây 20 13,3 0 0 
2 ÷ < 5 ml/giây 55 36,7 40 26,7 
5 ÷ < 10 ml/giây 54 36,0 76 50,7 
≥ 10 ml/giây 21 14,0 34 22,6 
X ± SD 4,9 ± 2,3 9,1 ± 2,5 
 p < 0,001 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 88 
Sau hỗ trợ điều trị lưu lượng nước tiểu trung bình của các CCB mắc bệnh 
PĐLTTL tăng từ 4,9 ± 2,3 ml/giây lên 9,1 ± 2,5 ml/giây, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,001. Lưu lượng nước tiểu trong nghiên cứu này tăng 4,2 ml/giây 
tương đương với kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Tú Anh ở bệnh nhân PĐLTTTL 
điều trị bài thuốc “Thận khí hoàn gia giảm” tăng 4,42 ml/giây [1] và tăng hơn so với 
nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch 
vĩ, Kim ngân hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, 
Ngải tượng, Ích trí nhân) tăng 2,57 ml/giây [7]. 
Tỷ lệ CCB có lưu lượng nước tiểu < 2 ml/giây và từ 2 đến < 5 ml/giây giảm từ 
13.3% và 36,7% xuống 0% và 26,7%. Trong khi đó các CCB có lưu lượng nước tiểu 
từ 5 đến 10ml/giây lại tăng từ 36% và 14% lên 50,7% và 22,6%, 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 (biểu đồ 2). 
27.3
36.7 36
0
0
33.3
54
12.7
0
10
20
30
40
50
60
Tỷ lệ (%)
Trước điều trị Sau điều trị
<2 ml/giây 2 - <5 ml/giây 5 - <10 ml/giây ≥10 ml/giây
Biểu đồ 2. Lưu lượng nước tiểu của CCB trước và sau hỗ trợ điều trị 
Bảng 4. Thể tích nước tiểu tồn dư trung bình trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước hỗ trợ điều trị 
(n = 150) 
Sau hỗ trợ điều trị 
(n = 150) Thể tích nước tiểu
tồn dư (ml) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 
0 0 0 18 12,0 
< 10ml 9 6,0 22 14,7 
10 ÷ 40 ml 48 32,0 99 66,0 
> 40ml 93 62,0 11 7,3 
X ± SD 38,8 ± 11,9 16,3 ± 9,4 
 p < 0,001 
Sau hỗ trợ điều trị thể tích nước tiểu tồn dư của các CCB mắc bệnh PĐLTTL 
giảm từ 38,8 ± 11,9 ml xuống còn 16,3 ± 9,4 ml, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với p < 0,001. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 89 
Tỷ lệ CCB có thể tích nước tiểu tồn dư > 40 ml giảm từ 62,0% xuống 7,3%. 
Có 12,0% CCB không còn nước tiểu tồn dư, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 
p<0,001 (biểu đồ 3). 
0
6
32
62
12
14.7
66
7.3
0
10
20
30
40
50
60
70
Tỷ lệ (%)
Trước điều trị Sau điều trị
0 40ml 
Biểu đồ 3. Thể tích nước tiểu tồn dư của CCB trước và sau hỗ trợ điều trị 
 Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu Nguyễn Thị Tú Anh ở bệnh nhân 
PĐLTTTL điều trị bài thuốc “Thận khí hoàn gia giảm” [1] và nghiên cứu của 
Nguyễn Bá Quế sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch vĩ, Kim ngân 
hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, Ngải tượng, 
Ích trí nhân) [7]. 
Bảng 5. Phân loại thể tích tuyến tiền liệt trước và sau hỗ trợ điều trị 
Trước điều trị (n = 150) Sau điều trị (n = 150) Thể tích 
tuyến tiền liệt (cm3) n % n % 
> 45 51 34,0 26 17,3 
> 35 ÷ 45 69 46,0 58 38,7 
> 25 ÷ 35 30 20,0 63 42,0 
< 25 0 0 3 2,0 
X ± SD 43,57 ± 12,72 37,91 ± 9,79 
 p < 0,01 
Sau hỗ trợ điều trị, thể tích trung bình tuyến tiền liệt của các CCB mắc bệnh 
PĐLTTTL giảm từ 43,57 ± 12,72 cm3 xuống còn 37,91 ± 9,79 cm3, với p < 0,01. 
Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tân sau hai tháng điều trị 
bằng cốm tan Tiền liệt thanh giải [3] và nghiên cứu của Nguyễn Bá Quế sau một 
tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch vĩ, Kim ngân hoa, Bạch hoa xà thiệt 
thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, Ngải tượng, Ích trí nhân) [7]. 
Tỷ lệ CCB có thể tích tuyến tiền liệt > 45 cm3 giảm từ 34,0% xuống 17,3%. Tỷ 
lệ CCB có thể tích tuyến tiền liệt từ > 25÷35 cm3 lại tăng từ 20,0% lên 42,0%, với 
p<0,01 (biểu đồ 4). 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 90 
34
46
20
0
17.3
38.7
42
2
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
Tỷ lệ (%)
Trước điều trị Sau điều trị
>45 >35 - 45 >25 - 35 <25
Biểu đồ 4. Thể tích tuyến tiền liệt của CCB trước và sau hỗ trợ điều trị 
Bảng 6. Kết quả chung hỗ trợ điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt 
Kết quả điều trị Số CCB (n = 150) Tỷ lệ (%) 
Tốt 120 80,0 
Khá 30 20,0 
Kém 0 0 
Sau hỗ trợ điều trị có 80,0% số CCB đạt kết quả tốt, 20,0% đạt kết quả khá và 
không có trường hợp nào đạt kết quả kém. Kết quả điều trị tốt và khá trong nghiên 
cứu này là 100%, tương tự kết quả nghiên cứu của Lê Anh Thư sau một tháng điều 
trị bằng viên nang trinh nữ hoàng cung là 98,26% [4], cao hơn nghiên cứu của 
Nguyễn Bá Quế sau một tháng điều trị bằng bài thuốc MP05 (Thạch vĩ, Kim ngân 
hoa, Bạch hoa xà thiệt thảo, Ngưu tất, Vương bất lưu hành, Tam thất, Ngải tượng, 
Ích trí nhân) là 91,4% [7] (biểu đồ 5). 
80
20
Tốt Khá
Biểu đồ 5. Kết quả hỗ trợ điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 91 
3.2. Tính an toàn của chế phẩm peptit ĐHSH thông qua một số chỉ tiêu 
sinh học ở CCB 
3.2.1. Biến đổi các chỉ số huyết học 
Bảng 7. Các chỉ số huyết học trước và sau hỗ trợ điều trị 
 Trước HT điều trị (n = 150) Sau HT điều trị (n = 150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
4,70 ± 0,56 4,73 ± 0,53 Số lượng hồng cầu 
(T/l) p > 0,05 
13,80 ± 1,65 13,30 ± 1,14 Hemoglobin 
(g/dl) p > 0,05 
42,2 ± 4,26 40,29 ± 3,29 Hematocrit 
(%) p > 0,05 
6,30 ± 1,72 6,54 ± 3,12 Số lượng bạch cầu 
(G/l) p > 0,05 
Sau hỗ trợ điều trị số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, tỷ lệ hematocrit và 
số lượng bạch cầu thay đổi không đáng kể và vẫn nằm trong giới hạn sinh lý. 
3.2.2. Biến đổi các chỉ số sinh hóa chức năng thận 
Bảng 8. Chức năng thận trước và sau hỗ trợ điều trị 
 Trước HT điều trị (n = 150) Sau HT điều trị (n = 150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
6,68 ± 1,7 5,88 ± 1,40 Ure (mmol/l) 
p > 0,05 
92,94 ± 12,50 89,47 ± 12,73 Creatinin (μmol/l) 
p > 0,05 
Sau hỗ trợ điều trị các chỉ số đánh giá chức năng thận đều có xu hướng giảm, 
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
3.2.3. Biến đổi các chỉ số sinh hóa chức năng gan 
Bảng 9. Chức năng gan trước và sau hỗ trợ điều trị 
 Trước HT điều trị (n = 150) Sau HT điều trị (n = 150) 
Chỉ số 
X ± SD X ± SD 
32,78 ± 11,03 30,44 ± 12,59 AST (U/L) 
p > 0,05 
26,85 ± 10,33 25,10 ± 9,30 ALT (U/L) 
p > 0,05 
13,44 ± 5,31 12,26 ± 8,68 Bilirubin TP (μmol/l) 
p > 0,05 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 92 
Sau hỗ trợ điều trị, chỉ số chức năng gan đều có xu hướng giảm (khả năng khử 
độc) của gan tăng lên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. 
Kết quả nghiên cứu ở bảng 7, 8 và 9 cho thấy sau liệu trình hỗ trợ điều trị bằng 
các chế phẩm peptit ĐHSH các chỉ số sinh học trong máu của các CCB biến đổi 
không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, các chỉ số này vẫn nằm trong giới hạn sinh lý. 
Theo dõi trong quá trình hỗ trợ điều trị cho thấy các chế phẩm peptid ĐHSH 
không gây buồn nôn và nôn, không gây đau bụng và rối loạn tiêu hóa; không thấy 
các dấu hiệu chóng mặt, nhức đầu, mất ngủ. Do vậy các chế phẩm peptit điều hoà 
sinh học không gây tác dụng phụ khi hỗ trợ điều trị, Kết quả này cũng phù hợp với 
các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga về độc tính của các chế 
phẩm peptit ĐHSH [8], [9], [10]. 
IV. KẾT LUẬN 
- Các chế phẩm peptit điều hoà sinh học do Liên bang Nga dùng trong hỗ trợ 
điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt cho những cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất 
độc da cam/dioxin đạt kết quả tốt chiếm 80%, kết quả khá chiếm 20%, không có kết 
quả kém: Mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS giảm từ 20,94 ± 8,49 điểm 
xuống 8,46 ± 2,78 điểm; tổng điểm chất lượng cuộc sống giảm từ 4,10 ± 1,01 điểm 
xuống 2,53 ± 0,61 điểm. Hạn chế đáng kể những rối loạn tiểu tiện gây khó chịu cho 
người bệnh như: Đau tức bàng quang, tiểu đêm nhiều lần, bí tiểu, tia tiểu nhỏ, tiểu 
không hết. Tỷ lệ CCB có thể tích tuyến tiền liệt giảm sau hỗ trợ điều trị chiếm 80%, 
lượng nước tiểu tồn dư giảm > 50% hoặc hết chiếm tỷ lệ trên 82,66%. 
- Các chế phẩm peptit điều hòa sinh học dùng trong hỗ trợ điều trị không gây 
tác dụng phụ trong quá trình hỗ trợ điều trị, có thể ứng dụng hỗ trợ điều trị cho CCB 
phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin và các đối tượng khác. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Thị Tú Anh (2003), Đánh giá tác dụng bài thuốc Thận khí hoàn gia 
giảm trong điều trị PĐLLTTL, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II. 
Đại học Y Hà Nội. 
2. Trần Đức, Trần Đức Hòe (2000), “Sử dụng IPSS, QOL và đo lưu lượng nước 
tiểu trong đánh giá kết quả phẫu thuật u phì đại lành tính tuyến tiền liệt”, Tạp 
chí Y học thực hành, 7/2000, tr. 32-35. 
3. Nguyễn Thị Tân (2009), Nghiên cứu tác dụng của Cốm tan tiền liệt thanh giải 
trong điều trị bệnh PĐLTTTL, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội. 
4. Lê Anh Thư (2004), “Đánh giá tác dụng của viên nang trinh nữ hoàng cung 
trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt”, Luận văn thạc sỹ khoa học Y 
Dược, Trường Đại học Y Hà Nội. 
5. Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ (2003), “U phì đại lành tính tuyến tiền liệt”, 
Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 400- 498. 
 Nghiên cứu khoa học công nghệ 
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 01, 12 - 2012 93 
6. Nguyễn Bửu Triều (2000), “U xơ tuyến tiền liệt”, Bách khoa thư bệnh học, Nhà 
xuất bản Từ điển Bách khoa, tr. 291- 294. 
7. Nguyễn Bá Quế (2006), Nghiên cứu tác dụng điều trị PĐLTTTL của bài thuốc 
MP05, Luận văn bác sĩ chuyên khoa 2, Học viện Quân y. 
8. Khavinson V. Kh. (2002), “Peptides and Ageing”, Neuro. Endocrinol. Letters., 
23 (3),11-144. 
9. Khavinson V. Kh. & Morozov V.G. (2003), “Peptides of pineal gland and 
thymus prolong human life”, Neuroendocrinology Letter, 24 (3/4), 233-240. 
10. Korkushko O.V. et al. (2007), “Normalizing effect of the pineal gland peptides 
on the daily melatonin rhythm in old monkeys and elderly people”, Adv. 
Gerontol., 20(1),74-85. 
11. Matzkin H., Braf Z. (1991), “Endocrine treatment of benign prostatic 
hypertrophy: Current concepts”, Urology, 37(1):1-16. 
SUMMARY 
THE APPLICATION’S RESULT OF PEPTIDES BIOREGULATORS 
SUPPORTINGTHE TREATMENT FOR THE PERSON WHO GET BENIGN 
PROSTATIC HYPERPLASIA DUE TO EXPOSING TO AGENT ORANG 
Because of highly exposure to Agent Orange, veterans highly suffer from 
benign prostatic hyperplasia (BPH). The article is researched aiming to indicate 
some of the findings relating to the treating and rehabilitating methods for veterans 
by the peptide bioregulators (PB), which are produced by Russian Federation. The 
research shows that the good result of PB application occupies 80%, the goodish one 
account for 20% and there is complete no negative result. Besides, depending on 
IPSS scale the level of urinary disorders decreases from 20.94 ± 8.49 to 8.46 ± 2.78 
points; the total quality of life score decrease from 4.10 ± 1.01 to 2.53 ± 0.61 points. 
Remarkably, the method limits significantly agents causing urinary disorders which 
challenged veterans a lots such as: Bladder pain, night several times to urinate, urine 
retention, decreased size of the urinary stream, nocturia due to incomplete emptying. 
After receiving treatment, the veterans rate reducing the prostate volume up to about 
80%, residual urine volume decreased by > 50% or all achieve for 82.66%. Actually, 
the Peptide Bioregulators assists veterans rehabilitate and improve their health 
without any side effect. 
Từ khóa: Chất độc da cam/dioxin, hỗ trợ điều trị, peptit điều hòa sinh học, phì 
đại lành tính tuyến tiền liệt 
Nhận bài ngày 12 tháng 10 năm 2012 
Hoàn thiện ngày 14 tháng 11 năm 2012 
Viện Y sinh nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_ung_dung_che_pham_peptit_dieu_hoa_sinh_hoc_ho_tro_di.pdf