Kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss

có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực

bẩm sinh. Nghiên cứu mô tả trên 308 bệnh nhân

lõm ngực bẩm sinh được phẫu thuật tại Trung

tâm Tim mạch - Lồng ngực, Bệnh viện hữu nghị

Việt Đức từ năm 2015 đến năm 2018. Kết quả

cho thấy, tuổi trung bình là 15,44 ± 3,14 (từ 5 -

24 tuổi); tỉ lệ nam : nữ là 6/1; tỉ lệ lõm ngực nặng

là 54,78%; lõm ngực trung bình là 24,03%; lõm

ngực nhẹ là 21,10%; thời gian mổ trung bình là

48,16 ± 15,55 phút (20 - 140 phút); thời gian nằm

viện trung bình sau mổ là 5,18 ± 1,65 ngày (1 -

13 ngày). Biến chứng sớm sau mổ gồm: tràn khí

màng phổi 1,62%; tràn dịch màng phổi 0,65%; tụ

dịch vết mổ 0,97%; nhiễm trùng vết mổ 0,32%;

nhiễm trùng thanh kim loại 0,32%; xẹp phổi

0,97%; không có trường hợp nào tử vong. Biến

chứng muộn gồm: nhiễm trùng vết mổ 0,65%; di

lệch thanh kim loại 1,62%; dị ứng thanh kim loại

0,65%; lõm ngực tái phát 0,65%; lõm ngực tồn

lưu 1,62%. Kết quả trung hạn: tỉ lệ bệnh nhân

tăng cân 81,90%; cải thiện sức khỏe, thể lực

100%; tỉ lệ bệnh nhân rất hài lòng là 81,45%; hài

lòng là 16,13%; không hài lòng là 2,42%. Phẫu

thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái an toàn,

hiệu quả, ít biến chứng, bệnh nhân hài lòng sau

phẫu thuật chiếm tỉ lệ cao

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực bẩm sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 168 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT NUSS CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ 
QUA NGỰC TRÁI ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC BẨM SINH 
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Nguyễn Thế May*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT: 
Đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật Nuss 
có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm ngực 
bẩm sinh. Nghiên cứu mô tả trên 308 bệnh nhân 
lõm ngực bẩm sinh được phẫu thuật tại Trung 
tâm Tim mạch - Lồng ngực, Bệnh viện hữu nghị 
Việt Đức từ năm 2015 đến năm 2018. Kết quả 
cho thấy, tuổi trung bình là 15,44 ± 3,14 (từ 5 - 
24 tuổi); tỉ lệ nam : nữ là 6/1; tỉ lệ lõm ngực nặng 
là 54,78%; lõm ngực trung bình là 24,03%; lõm 
ngực nhẹ là 21,10%; thời gian mổ trung bình là 
48,16 ± 15,55 phút (20 - 140 phút); thời gian nằm 
viện trung bình sau mổ là 5,18 ± 1,65 ngày (1 - 
13 ngày). Biến chứng sớm sau mổ gồm: tràn khí 
màng phổi 1,62%; tràn dịch màng phổi 0,65%; tụ 
dịch vết mổ 0,97%; nhiễm trùng vết mổ 0,32%; 
nhiễm trùng thanh kim loại 0,32%; xẹp phổi 
0,97%; không có trường hợp nào tử vong. Biến 
chứng muộn gồm: nhiễm trùng vết mổ 0,65%; di 
lệch thanh kim loại 1,62%; dị ứng thanh kim loại 
0,65%; lõm ngực tái phát 0,65%; lõm ngực tồn 
lưu 1,62%. Kết quả trung hạn: tỉ lệ bệnh nhân 
tăng cân 81,90%; cải thiện sức khỏe, thể lực 
100%; tỉ lệ bệnh nhân rất hài lòng là 81,45%; hài 
lòng là 16,13%; không hài lòng là 2,42%. Phẫu 
thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái an toàn, 
hiệu quả, ít biến chứng, bệnh nhân hài lòng sau 
phẫu thuật chiếm tỉ lệ cao. 
SUMMARY: 
Mid-term postoperative outcome results in 
PE patients after undergoing left Video-Assisted 
Thoracoscopic Surgery for the NUSS Procedure: 
From 2015 to 2018, 308 patients with pectus 
excavatum underwent video-assisted 
thoracoscopy in left-to-right Nuss procedure at 
Centre of Cardiovascular and Thoracic surgery in 
Viet Duc Hospital: age ranged from 5 – 24 years 
old (mean ± standard deviation: 15.44 ± 3.14 
years old); male/female ratio:6/1; Moderate 
pectus excavatum accounted to 24,03% of our 
study cohort; rate of severe pectus excavatum was 
54,78%; rate of mild pectus excavatum was 
21,10%; mean operating time was 48,16±15,55 
minutes (20 - 40 ms); mean length of stay after 
surgery was 5,18±1,65 days (1 - 13ds). Early 
postoperative complications: Pneumothorax 
1,62%; Pleural bleeding / pleural fluid 0,65%; 
Incision fluid accumulation 0,97%; Surgical 
wound infection 0,32%; Metal bar infection 
0,32%; Atelectasis 0,97%. Late postoperative 
complications: Surgical wound infection 0,65%; 
Metal bar deviation 1,62%; Metal bar allergy 
0,65%; Recurrent PE 0,65%; Persistent PE 
1,62%. Mid-term to long-term outcome in PE 
patients undergoing left VATS-NUSS: Most 
patients had body weight gain 81,90%; increased 
physical activity and improved health 
100%.Video-assisted thoracoscopic surgery in 
left-to-right Nuss procedure for pectus excavatum 
is a safe and effective therapy with high success 
rate and low risk of complications.1 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Lõm ngực (Pectus Excavatum) là một dị 
dạng bẩm sinh của thành ngực trước, trong đó 
* Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng 
** Bệnh viện HN Việt Đức, Trường Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Thế May 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT NUSS CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ QUA NGỰC TRÁI ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC... 
 169 
xương ức và một vài sụn sườn hai bên xương ức 
phát triển bất thường làm cho thành ngực trước 
lõm xuống. Đây là dị dạng thành ngực phổ biến 
nhất trong số các dị dạng bẩm sinh của thành 
ngực (khoảng 90%). Tỉ lệ trẻ bị dị tật lõm ngực 
bẩm sinh ước tính khoảng 1/1000 đến 1/400 trẻ 
sinh ra sống, tỉ lệ nam : nữ khoảng 4 : 
1[1],[2],[3],[4]. 
Điều trị ngoại khoa dị tật lõm ngực bẩm 
sinh mới chỉ được thực hiện từ đầu thế kỷ 20. 
Trước đây, trên thế giới có nhiều tác giả cố gắng 
phẫu thuật chỉnh sửa dị tật lõm ngực nhưng kết 
quả còn hạn chế, những di chứng để lại nặng nề 
[5]. Năm 1986, trong khi phẫu thuật 1 trường hợp 
trẻ bị lõm ngực, Donald Nuss phát hiện ra khả 
năng uốn cong của sụn sườn, tác giả tự hỏi: “Tại 
sao phải cắt bỏ các sụn sườn trong khi có thể uốn 
cong chúng theo ý muốn? Xuất phát từ ý nghĩ đó, 
phẫu thuật Nuss ra đời” [3]. 
Tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức, phẫu 
thuật Nuss kết hợp nội soi lồng ngực hỗ trợ trong 
điều trị lõm ngực bẩm sinh đã được thực hiện từ 
tháng 6 năm 2010. Đến nay, đã có một số lượng 
lớn bệnh nhân lõm ngực được phẫu thuật theo 
phương pháp Nuss có nội soi hỗ trợ. Trong đó, đa 
số phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực 
trái. Các báo cáo cho thấy kết quả phẫu thuật 
bước đầu rất tốt. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu 
này nhằm đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật 
Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái điều trị lõm 
ngực bẩm sinh trong những năm qua tại bệnh 
viện hữu nghị Việt Đức. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Gồm tất cả những bệnh nhân được phẫu thuật 
sửa chữa dị tật lõm ngực bẩm sinh bằng phương 
pháp Nuss có nội soi hỗ trợ qua ngực trái tại Trung 
tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện hữu nghị 
Việt Đức từ năm 2015 đến năm 2018. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả, hồi cứu 
kết hợp tiến cứu. 
2.2.2. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu thuận tiện. 
2.2.3. Phương pháp tiến hành: 
* Chỉ định phẫu thuật 
Chỉ định phẫu thuật cho bệnh nhân lõm 
ngực bẩm sinh khi có 2 trong số các đặc điểm sau 
đây [6],[7]: 
- Chỉ số Haller trên CT ngực > 3,25 
- Lõm ngực đang tiến triển, có triệu chứng: 
đau ngực, khó thở, hụt hơi khi gắng sức, vận động 
- Ảnh hưởng chức năng hô hấp: khó thở 
khi vận động, gắng sức, viêm nhiễm đường hô 
hấp tái diễn 
- Ảnh hưởng chức năng tim mạch: trên siêu 
âm doppler tim, chụp cắt lớp vi tính có chèn ép tim, 
tim bị đẩy lệch, sa van 2 lá, rối loạn dẫn truyền 
- Ảnh hưởng tâm lý, thẩm mỹ: bệnh nhân 
xấu hổ, tự ti về hình dạng lồng ngực của mình 
có nhu cầu phẫu thuật 
- Lõm ngực tái phát: sau phẫu thuật Nuss 
hoặc phẫu thuật theo phương pháp khác như phẫu 
thuật Ravitch 
* Quy trình phẫu thuật 
Hình 1. Sơ đồ bố trí kíp phẫu thuật 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 170 
- Gây mê và chuẩn bị bệnh nhân: Bệnh 
nhân nằm ngửa, dạng hai tay vuông góc với thân 
mình, gây mê nội khí quản một nòng, đệm gối 
dưới lưng. 
- Rạch da: Rạch da ở trên hoặc dưới vị trí 
dự định đặt thanh kim loại 1 khoang liên sườn, 
đường rạch da dài khoảng 2cm mỗi bên thành 
ngực (ở đường nách giữa), vết mổ theo chiều 
trước sau của lồng ngực. 
- Đặt trocar: Đặt Trocar 5mm ở vị trí 
khoang liên sườn VI – VII đường nách trước bên 
trái bệnh nhân. Không đặt trocar quá thấp sẽ khó 
quan sát trong lồng ngực vì trường mổ chủ yếu ở 
trung thất trước. Đưa ống kính nội soi 30 độ vào 
khoang màng phổi qua Trocar. 
- Tạo đường hầm xuyên qua trung thất: 
+ Dùng kẹp hình tim chọc vào khoang 
màng phổi trái ngay vị trí bờ cao nhất của hố lõm, 
từ từ đi sát thành ngực trước hướng vào trung thất 
nơi sâu nhất hố lõm, tách dần màng tim ra khỏi 
mặt sau xương ức. Sau đó, tiếp tục đi sang 
khoang màng phổi bên phải. 
+ Luồn “thanh dẫn đường” theo đường hầm 
đã tạo ở trên theo chiều từ trái qua phải một cách 
nhẹ nhàng, tránh gây chảy máu và sang chấn. 
+ Quá trình tạo đường hầm xuyên qua 
trung thất và luồn thanh dẫn đường có sự hỗ trợ 
của nội soi. 
- Luồn thanh kim loại (nâng xương ức) 
+ Dùng một sợi chỉ chắc Perlon (hoặc dây 
mềm) buộc vào thanh kim loại rồi buộc nối vào 
thanh dẫn đường. 
+ Rút thanh dẫn đường rồi luồn thanh kim 
loại qua trung thất trước theo hướng đi từ phải 
sang trái dưới hướng dẫn của nội soi, mặt lõm của 
thanh kim loại luôn hướng về phía sau. 
- Nâng xương ức 
+ Sau khi thanh kim loại luồn qua trung thất 
trước và mặt lõm hướng ra sau. Tiếp tục dùng 
dụng cụ uốn thanh kim loại cho phù hợp với lồng 
ngực bệnh nhân. 
+ Sau đó, ta dùng dụng cụ xoay thanh kim 
loại 180 độ theo chiều hướng lên trên, phối hợp 
nhịp nhàng hai bên, đẩy ngực lõm ra trước đúng 
vị trí mong muốn. Dưới màn hình nội soi, kiểm 
tra chảy máu và xem có kẹt phổi vào thanh kim 
loại hay không. 
- Cố định thanh kim loại 
+ Dùng chỉ thép khâu vòng qua xương sườn 
rồi buộc cố định vào đầu thanh kim loại. Dưới sự 
quan sát của nội soi, quá trình khâu chỉ thép rất 
an toàn, tránh khâu vào phổi, kiểm tra được chảy 
máu. Chúng tôi không dùng nẹp vít để cố định 
thanh kim loại như phẫu thuật Nuss nguyên bản. 
2.3. Xử lý số liệu: 
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y 
học, sử dụng phần mềm STATA. 
2.4. Đạo đức nghiên cứu 
Bệnh nhân và người nhà đều được giải 
thích rõ về phương pháp mổ (lợi ích và nguy cơ), 
tự nguyện tham gia nghiên cứu. Thông tin của 
bệnh nhân hoàn toàn được bảo mật và chỉ được 
sử dụng cho mục đích nghiên cứu nhằm nâng cao 
chất lượng điều trị. 
III. KẾT QUẢ 
Trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2018, 
tại Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh 
viện hữu nghị Việt Đức có 308 trường hợp lõm 
ngực bẩm sinh được điều trị bằng phẫu thuật 
Nuss có nội soi hỗ trợ qua đường ngực trái đủ 
tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Kết quả nghiên 
cứu được ghi nhận như sau: 
Giới tính: 
Nam giới: 264 Nữ giới: 44 
Tỉ lệ Nam/nữ: 6/1 
Tuổi: Tuổi trung bình: 15,44 ± 3,14; nhỏ 
nhất là 5 tuổi, lớn nhất là 24 tuổi. 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT NUSS CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ QUA NGỰC TRÁI ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC... 
 171 
Bảng 1. Mức độ lõm ngực theo chỉ số Haller 
Chỉ số Haller (CLVT) Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Nhẹ (HI < 3,2) 65 21,10 
Trung bình (HI: 3,2 - 3,5) 74 24,03 
Nặng (HI: 3,6 - 6) 169 54,78 
Rất nặng (HI > 6) 0 0,00 
Tổng 308 100 
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân lõm ngực nặng chiếm tỉ lệ cao nhất (54,78%); lõm ngực trung bình 
có tỉ lệ 24,03%; lõm ngực nhẹ có tỉ lệ là 21,10 
Bảng 2. Thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện sau phẫu thuật 
Thời gian Trung bình Giá trị nhỏ nhất - lớn nhất 
Thời gian phẫu thuật (phút) 48,16 ± 15,55 20 – 140 
Thời gian nằm viện sau phẫu thuật (ngày) 5,18 ± 1,65 1 - 13 
Bảng 3. Biến chứng sớm (xảy ra trong quá trình nằm viện) 
Biến chứng sớm Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Tràn khí màng phổi 5 1,62 
Tràn máu/dịch màng phổi 2 0,65 
Viêm phổi 1 0,32 
Nhiễm trùng vết mổ 1 0,32 
Tụ dịch vết mổ 3 0,97 
Nhiễm trùng thanh kim loại 1 0,32 
Xẹp phổi 3 0,97 
Sốt 8 2,60 
Tử vong 0 0 
Nhận xét: Có 5 bệnh nhân tràn khí khoang màng phổi (1,37%); có 2 bệnh nhân tràn dịch 
khoang màng phổi (0,65%); có 1 bệnh nhân viêm phổi, 1 bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ và 1 bệnh 
nhân nhiễm trùng thanh kim loại (0,32%); có 3 bệnh nhân xẹp phổi sau mổ (0,97%); có 8 bệnh 
nhân sốt sau mổ (2,6%) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 172 
Bảng 4. Biến chứng muộn (xảy ra sau khi bệnh nhân ra viện) (n = 282) 
Biến chứng muộn Số bệnh nhân Tỉ lệ % 
Nhiễm trùng vết mổ 2 0,65 
Di lệch thanh kim loại 5 1.62 
Dị ứng thanh kim loại 2 0,65 
Lõm ngực tái phát 2 0,65 
Lõm ngực tồn lưu 5 1,62 
Tử vong 0 0 
Nhận xét: Có 5 bệnh nhân di lệch thanh kim loại muộn (1,62%); có 5 bệnh nhân lõm ngực tồn 
lưu (1,62%); có 2 bệnh nhân lõm ngực tái phát (0,65%); có 2 bệnh nhân dị ứng thanh kim loại và 2 
bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ (0,65%) 
Bảng 5. Kết quả trung hạn (n = 122) 
Số bệnh nhân 
phản hồi 
Đã rút thanh 
(n=3) 
Chưa rút thanh 
(n=119) 
Tỉ lệ % 
chung 
Biến số 
n n % n % N (%) 
Tăng cân 116 3 100 92 81,42 81,90 
Cải thiện sức khỏe, tăng 
hoạt động thể lực 
113 
3 100 110 100 100 
HI 2,5 1 33,33 93 83,04 81,74 
2,5 < HI < 3,25 2 66,67 19 16,96 18,26 
HI 3,25 0 0 0 
HI/X-
quang 
ngực 
Giá trị TB 
115 
2,5 0,17 2,43 0,15 2,44 0,15 
Rất hài lòng 3 100 93 80,87 81,45 
Hài lòng 0 0 20 17,39 16,13 
Mức 
độ 
hài 
lòng Không hài lòng 
118 
0 0 2 1,74 2,42 
Nhận xét: Kết quả trung hạn cho thấy: có 95 bệnh nhân tăng cân sau mổ (81,90%); 100% bệnh 
nhân cải thiện sức khỏe, tăng hoạt động thể lực; nhóm bệnh nhân có HI 2,5 chiếm tỉ lệ cao nhất (n = 
94, 81,74%); đa số bệnh nhân rất hài lòng về phẫu thuật (81,45%). 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT NUSS CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ QUA NGỰC TRÁI ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC... 
 173 
IV. BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ 
nam/nữ là 6/1, tỉ lệ này tương đồng với kết quả 
nghiên cứu của các tác giả Kelly (2010) [8] và 
Pilegaard H .K và cộng sự (2008) [9]. Về độ 
tuổi, tuổi trung bình trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 15,44 ± 3,14; nhỏ nhất là 5 tuổi, 
lớn nhất là 24 tuổi. Quan điểm về độ tuổi tốt 
nhất cho phẫu thuật lõm ngực bẩm sinh còn 
nhiều tranh cãi, phần lớn các tác giả vẫn thống 
nhất nên mổ ở độ tuổi từ 5 đến 18 tuổi và có lẽ 
tốt nhất là ở lứa tuổi từ 8 - 12 tuổi theo tác giả 
Donald Nuss [3]. Tuổi trung bình trong nghiên 
cứu của chúng tôi còn cao nhưng vẫn nằm trong 
độ tuổi tốt để phẫu thuật. 
Phân loại mức độ lõm ngực theo chỉ số 
Haller, trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm 
bệnh nhân lõm ngực nặng chiếm tỉ lệ cao nhất 
(54,78%); lõm ngực trung bình có tỉ lệ 24,03%; 
lõm ngực nhẹ có tỉ lệ là 21,10%. Không có 
trường hợp nào lõm ngực rất nặng. Như vậy, 
trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân bị lõm 
ngực nặng chiếm tỉ lệ khá cao. Kết quả này tương 
đồng với kết quả trong nghiên cứu của Zhang 
(2015) trên 639 bệnh nhân lõm ngực cho thấy có 
61,5% bệnh nhân lõm ngực nặng theo phân độ 
dựa vào chỉ số HI trên CLVT ngực [10]. Trong 
nghiên cứu của Trần Thanh Vỹ (2019), tỉ lệ bệnh 
nhân lõm ngực nặng gặp nhiều nhất (63,3%), tỉ lệ 
bệnh nhân lõm ngực rất nặng chiếm 1,7% [11] 
Hình 2. Tạo đường hầm xuyên qua trung thất trước có nội soi hỗ trợ 
“Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Thái S., sinh năm 2002, Mã hồ sơ: 26164” 
Thời gian phẫu thuật trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 48,16 ± 15,55 phút; ngắn nhất 
là 20 phút; dài nhất là 140 phút. Thời gian nằm viện trung bình là 5,18 ± 1,65 ngày, ngắn nhất là 1 
ngày, dài nhất là 13 ngày do nhiễm trùng vết mổ phải điều trị kháng sinh dài ngày. Thời gian phẫu 
thuật và nằm viện sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trần 
Thanh Vỹ (2019) [11]. 
Hình 3. Cố định thanh kim loại bằng chỉ thép 
“Nguồn: Bệnh nhân Lê Quốc T,. sinh năm 1999, Mã hồ sơ: 30764 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 174 
Hình 4. Hình dáng lồng ngực sau đặt thanh kim loại 
“Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Văn Tr., sinh năm 2003, Mã hồ sơ: 26168” 
Về biến chứng sau mổ, biến chứng sớm 
chúng tôi gặp 5 bệnh nhân tràn khí khoang màng 
phổi (1,37%); 2 bệnh nhân tràn dịch khoang 
màng phổi (0,65%); 1 bệnh nhân viêm phổi; 1 
bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ và 1 bệnh nhân 
nhiễm trùng thanh kim loại (0,32%); 3 bệnh nhân 
xẹp phổi sau mổ (0,97%). Tỉ lệ biến chứng sớm 
trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với 
kết quả nghiên cứu của tác giả Nuss D. và cộng 
sự (2008) nghiên cứu trên 1015 bệnh nhi lõm 
ngực được phẫu thuật ít xâm lấn tại Virginia 
(Mỹ) trong 20 năm (từ năm 1998 đến năm 2008): 
có 31 trường hợp tràn khí khoang màng phổi 
(3%) phải đặt dẫn lưu màng phổi; 2 trường hợp 
tràn máu màng phổi (0,2%) phải đặt dẫn lưu màng 
phổi; 11 trường hợp nhiễm trùng vết mổ (1,1%); 6 
trường hợp viêm phổi (0,6%); 4 trường hợp viêm 
màng tim (0,4%); 29 trường hợp dị ứng thanh kim 
loại (2,9%); 58 trường hợp di lệch thanh kim loại 
(5,8%); nâng ngực quá mức có 32 trường hợp 
(3,2%); tái phát có 8 trường hợp (0,8%) [4]. 
Biến chứng muộn chúng tôi gặp 5 bệnh 
nhân di lệch thanh kim loại muộn (1,62%), 5 
bệnh nhân lõm ngực tồn lưu (1,62%), 2 bệnh 
nhân lõm ngực tái phát (0,65%), 2 bệnh nhân dị 
ứng thanh kim loại và 2 bệnh nhân nhiễm trùng 
vết mổ (0,65%). Tỉ lệ biến chứng muộn trong 
nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết 
quả nghiên cứu của các tác giả Lâm Văn Nút 
(2014) [11] và tác giả Park H.J (2010) 
Đánh giá kết quả giai đoạn trung hạn sau 
phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ qua đường ngực 
trái điều trị lõm ngực bẩm sinh, chúng tôi ghi 
nhận: tỉ lệ bệnh nhân tăng cân sau mổ khá cao 
(81,90%); 100% bệnh nhân cải thiện sức khỏe, 
tăng hoạt động thể lực và có kết quả lâm sàng tốt. 
Hầu hết bệnh nhân có chỉ số Haller trở về giới 
hạn bình thường (HI 2,5) (81,74%). Tỉ lệ bệnh 
nhân rất hài lòng về phẫu thuật là 81,45%; hài 
lòng là 16,13%. Chỉ có 2,42% bệnh nhân không 
hài lòng sau phẫu thuật do biến chứng nhiễm 
trùng vết mổ, do dị ứng thanh kim loại. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật 308 bệnh nhân lõm ngực bẩm 
sinh theo phương pháp Nuss có nội soi hỗ trợ qua 
đường ngực trái an toàn, hiệu quả, tỉ lệ thành 
công cao, ít biến chứng, kết quả trung hạn tốt. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nuss D. (2004), "History of Pectus 
Excavatum". Ann Surg, 240, pp. 231–235 
2. Nuss D. (2005), "Recent experiences 
with minimally invasive pectus 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT NUSS CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ QUA NGỰC TRÁI ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC... 
 175 
excavatum repair "Nuss procedure"". Jpn J 
Thorac Cardiovasc Surg, 
53, (7), pp. 338-44. 
3. Nuss D., Kelly R. E., Croitoru D. P., Katz 
M. E. (1998), "A 10-year review of a minimally 
invasive technique for the correction of pectus 
excavatum", J Pediatr Surg, 33 (4), pp.545-552. 
4. Nuss D. (2008), "Minimally invasive 
surgical repair of pectus excavatum". Semin 
Pediatr Surg, 17, (3), pp. 209-17 
5. Creswick H.A., Stacey M.W., Kelly R.E., 
Gustin T., Nuss D., Harvey H., Goretsky M.J., 
Vasser E., Welch J.C., Mitchell K., Proud V.K. 
(2006), "Family study of the inheritance of pectus 
excavatum". J Pediatr Surg, 41, (10), pp. 1699-703. 
6. Nuss D., Kelly R. E. (2010), "Indications 
and technique of Nuss procedure for pectus 
excavatum", Thorac Surg Clin, 20 (4), pp.583- 
597. (Vỹ 81 = Nút 73) 
7. Kelly R. E. (2008), "Pectus excavatum: 
historical background, clinical picture, preoperative 
evaluation and criteria for operation", Semin Pediatr 
Surg, 17 (3), pp.181-193. 
8. Kelly R. E., Goretsky M. J., Obermeyer 
R., et al. (2010), "Twenty-one years of experience 
with minimally invasive repair of pectus 
excavatum by the Nuss procedure in 1215 
patients", Ann Surg, 252 (6), pp.1072-1081. 
9. Pilegaard H. K., Licht P. B. (2008), 
"Early results following the Nuss operation for 
pectus excavatum--a single-institution experience 
of 383 patients". Interact Cardiovasc Thorac 
Surg, 7 (1), pp.54-57. (Vỹ 96) 
10. Zhang D. K., Tang J. M., Ben X. S., et 
al. (2015), "Surgical correction of 639 pectus 
excavatum cases via the Nuss procedure", J 
Thorac Dis, 7 (9), pp.1595-1605. 
11. Trần Thanh Vỹ (2019). Xác định độ tuổi 
phù hợp chỉ định phẫu thuật Nuss điều trị dị dạng 
lõm ngực bẩm sinh, Luận án tiến sĩ y học, Trường 
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
12. Park H.J., Jeong J.Y., Jo W.M., Shin 
J.S., Lee I.S., Kim K.T., Choi Y.H. (2010), 
"Minimally invasive repair of pectus excavatum: 
a novel morphology-tailored, patient-specific 
approach". J Thorac Cardiovasc Surg, 139, (2), 
pp. 379-86 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_trung_han_phau_thuat_nuss_co_noi_soi_ho_tro_qua_nguc.pdf