Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E

Phẫu thuật Fontan là tạo đƣờng đƣa máu trực

tiếp từ tĩnh mạch hệ thống lên phổi mà không qua

tâm thất phải. Đƣợc coi là phẫu thuật thí cuối cho

bệnh nhân tim bẩm sinh dạng một tâm thất. Đã có

rất nhiều thay đổi về kỹ thuật thực hiện phẫu

thuật fontan. Ngày nay chủ yếu các trung tâm

phẫu thuật tim trên thế giới thực hiện phẫu thuật

fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo.

Phƣơng pháp nghiên c u: mô tả.Tại Trung tâm

tim mạch bệnh viện E, từ tháng 8/2012 đến tháng

12/2015 đã phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài

tim cho 61 bệnh nhi (BN) bị tim bẩm sinh dạng

một tâm thất.

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E

Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện E
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 16 - THÁNG 3/2017 
 36 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM 
TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH – BỆNH VIỆN E 
Đỗ Anh Tiến*, Đoàn Quốc Hưng**, Lê Ngọc Thành* 
TÓM TẮT: 
Phẫu thuật Fontan là tạo đƣờng đƣa máu trực 
tiếp từ tĩnh mạch hệ thống lên phổi mà không qua 
tâm thất phải. Đƣợc coi là phẫu thuật thí cuối cho 
bệnh nhân tim bẩm sinh dạng một tâm thất. Đã có 
rất nhiều thay đổi về kỹ thuật thực hiện phẫu 
thuật fontan. Ngày nay chủ yếu các trung tâm 
phẫu thuật tim trên thế giới thực hiện phẫu thuật 
fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo. 
Phƣơng pháp nghiên c u: mô tả.Tại Trung tâm 
tim mạch bệnh viện E, từ tháng 8/2012 đến tháng 
12/2015 đã phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài 
tim cho 61 bệnh nhi (BN) bị tim bẩm sinh dạng 
một tâm thất. Kết quả nghiên c u: 59 BN 
(96,72%) sống sau mổ, đƣợc theo dõi với thời 
gian trung bính 18 ± 10,28 tháng, ngắn nhất là 6 
tháng và dài nhất là 45 tháng. Không có BN tử 
vong; 88,14% BN không bị tìm môi và đầu chi; 
94,92% BN suy tim độ I và II. Biến chứng gặp 
phải trong quá trính theo dõi: loạn nhịp sau mổ 
(3,39%), tai biến mạch não (3,39%), hội chứng 
mất protein ruột (3,39%), thất bại Fontan 
5,08%.Kết luận: kết quả trung hạn tốt của phẫu 
thuật Fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch 
nhân tạo Gore-Tex. 
THE MIDTERM RESULTS OF 
EXTRACARDIAC FONTAN IN 
CARDIOVASCULAR CENTER – E HOSPITAL 
Background: The Fontan procedure is total 
cavopulmonary connection, this technique is the 
end stage that application for all forms of single 
ventricle hearts. There are a lot of modified Fontan 
procedure, but now the extracadiac fontan 
technique is used popular in the world. Method: 
descriptive research was performed in 
Cardiovascular center- Ehospital: from August 
2012 to December 2015, 61 consecutive pediatric 
patients with single ventricle who underwent 
extracardiac Fontan operation. Result: Survival 
rate was 96,72%. The mean time follow up was 18 
months( range from 6 months to 45 months). No 
late death; 84,14 % without bluish coloration of 
the skin; 94,92 % at the stage I, II of heart failure. 
Late complications: Arrhythia – 3,39%; 
Thrombolism – 3,39%; Protein enteropathy losing 
-3,39%; Fontan failure – 5,08%. * 
Conclusions: The midterm of extracadiac 
fontan was satisfactory without death and low late 
complications. 
Key word: Extracardiac Fontan. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 
Tim bẩm sinh phức tạp dạng một tâm thất 
đƣợc mô tả là nhóm bệnh tim bẩm sinh có thể có 
một hoặc hai tâm thất song chỉ có một tâm thất đủ 
kìch thƣớc và chức năng bơm máu đến các cơ 
quan của cơ thể nhƣ các bệnh: Thiểu sản van ba 
lá, hội chứng thiểu sản tim trái, teo động mạch 
phổi không có thông liên thất. Phẫu thuật Fontan 
đƣợc thực hiện đầu tiên năm 1968 cho bệnh nhân 
(BN) bị thiểu sản van ba lá và đƣợc công bố năm 
1971, là kỹ thuật đƣa trực tiếp máu từ tĩnh mạch 
hệ thống vào động mạch phổi (ĐMP) mà không 
qua tâm thất phải và đƣợc coi là phẫu thuật thí 
cuối cho BN tim bẩm sinh dạng một tâm thất [1]. 
Đã có rất nhiều thay đổi và cải tiến kỹ thuật làm 
* Trung tâm tim mạch bệnh viện E 
** Bộ môn Ngoại, ĐHY Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày hậ bài:10/02/2017 - Ngày Cho Phép ng: 10/03/2017 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH.... 
 37 
đƣờng đƣa máu từ tĩnh mạch chủ dƣới lên ĐMP 
nhƣ nối tiểu nhĩ phải với ĐMP, kỹ thuật Fontan 
với đƣờng hầm trong tim. 
Năm 1990, Marceletti thực hiện nối tĩnh 
mạch chủ dƣới với động mạch phổi bằng ống nối 
ngoài tim (Extra cardiac conduit technique) với 
các ƣu điểm nhƣ giảm tỷ lệ tử vong, biến chứng 
rối loạn nhịp tim, tắc mạch [2]. Tại trung tâm tim 
mạch - Bệnh viện E, chúng tôi đã tiến hành phẫu 
thuật Fontan với ống nối ngoài tim bằng mạch 
nhân tạo Gore-Tex từ tháng 8/2012, chúng tôi 
thông báo kết quả trung hạn của phẫu thuật này. 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Đối tƣ ng: 
Từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2015, có 61 
BN nhi đƣợc chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh dạng 
một tâm thất đã phẫu thuật Glenn hai hƣớng đƣợc 
phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim bằng 
mạch nhân tạo Gore-Tex. 
Phƣơng pháp nghiên c u: 
Phương pháp mô tả: 
+ Các chỉ tiêu nghiên cứu: chẩn đoán, tỷ lệ tử 
vong ngay sau mổ, các chỉ số khi khám lại ở lần 
khám gần nhất tình đến ngày 30/6/2016: tỷ lệ 
sống, bão hòa ôxy (SpO2), mức độ suy tim, các 
biến chứng gặp phải: loạn nhịp tim, huyết khối, 
hội chứng mất protein ruột, thất bại Fontan. 
+ Phƣơng pháp phẫu thuật Fontan với ống 
nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo. 
- BN đƣợc mở xƣơng ức và đặt hệ thống tuần 
hoàn ngoài cơ thể nhƣ phẫu thuật tim kinh điển. 
Tiến hành cắt TMC dƣới khỏi nhĩ phải, khi 
cắt để lại phần TMC dƣới càng dài càng tốt, khâu 
đóng mỏm nhĩ phải. TMC dƣới đƣợc nối với 
mạch nhân tạo, miệng nối tận - tận. Cắt đôi ĐMP 
sát chạc ba ĐMP, mở rộng sang hai bên ĐMP 
phải và trái ra gần rốn phổi. Nối đầu mạch nhân 
tạo với ĐMP bằng miệng nối tận- bên [3],[4]. 
Hình 1: Các thao tác phẫu thuật Fontan với ống nối ngoài tim [2] 
III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 16 - THÁNG 3/2017 
 38 
+ Nghiên cứu 61 BN có tuổi trung bính 5,59 tuổi (2 tuổi – 14 tuổi), BN nam chiếm 57,38%; BN 
nữ chiếm 42,62%. 
+ Chẩn đoán 
Bảng 3.1. Chẩn đoán bệnh 
Chẩn đoán n Tỷ lệ % 
T n số 
 cộng dồn 
Thất phải hai đƣờng ra, đảo gốc, hẹp phổi 16 26,23 26,23 
Thiểu sản van ba lá 14 22,95 49,18 
Bất tƣơng hợp nhĩ thất, đảo gốc, hẹp phổi 14 22,95 72,13 
Thiểu sản van hai lá 7 11,48 83,61 
Kênh nhĩ thất chung, hẹp phổi 3 4,92 88,53 
Heterotaxy 2 3,28 91,81 
Thất trái hai đƣờng vào 2 3,28 95,09 
Teo ĐMP vách liên thất nguyên vẹn 2 3,28 98,37 
Thất phải hai đƣờng vào 1 1,63 100 
Tổng số 61 100 
+ Mức độ suy tim và SpO2 trƣớc mổ: 61 (100%) BN đều bị tìm môi và đầu chi với SpO2 trung 
bình: 83 ± 3,32 % (75% - 90%). 
Biểu đồ 3.1: Mức độ suy tim trước mổ 
+ Tỷ lệ sống ngay sau mổ: 96,72%, có 2 BN tử vong tại phong hồi sức sau mổ. 
+ Thời gian theo dõi trung bính 18 tháng (6 tháng – 45 tháng). Không có BN tử vong. 
+ Mức độ tìm môi và đầu chi: 
Bảng 3.2: Mức độ tim môi và đầu chi khi khám lại 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH.... 
 39 
Tím môi và đ u chi n Tỷ lệ% 
Có 7 11,86 
Không 52 88,14 
Tổng số 59 100 
+ Mức độ suy tim khi khám lại 
Bảng 3.3: Mức độ suy tim khi khám lại 
Độ suy tim n Tỷ lệ% T n số cộng dồn 
Độ I 43 72,88 72,88 
Độ II 13 22,04 94,92 
Độ III 2 3,39 98.31 
Độ IV 1 1,69 100 
Tổng số 59 100 
+ Biến chứng 
Bảng 3.4: Các biến chứng muộn 
Biến ch ng n Tỷ lệ % 
Tử vong 0 0 
Loạn nhịp 2 3,39 
Hội chứng mất protein ruột 2 3,39 
Tai biến mạch não 2 3,39 
Thất bại Fontan 3 5,08 
IV.BÀN LUẬN 
+ Tỷ lệ sống trong quá trính theo dõi: Không 
có trƣờng hợp nào bị tử vong trong thời gian 
theo dõi, tỷ lệ sống là 100%. Nghiên cứu của S. 
Ocello theo dõi 100 BN sau phẫu thuật Fontan 
với ống nối ngoài tim trong thời gian 39 tháng 
sau mổ có tỷ lệ sống 100% [5], nghiên cứu của 
Yves d
’
 Udekem với thời gian theo dõi trung 
bính 12 năm thấy tỷ lệ sống của nhóm phẫu 
thuật Fontan với ống nối ngoài tim là 100%, 
trong đó với phẫu thuật Fontan kinh điển là 81% 
và phẫu thuật Fontan với đƣờng hầm trong tim là 
94% [2]. Theo nghiên cứu của Madhusuda 
Ganigara với thời gian theo dõi trung bình 14 
tháng tỷ lệ sống sót là 100% [6], kết quả này 
cũng giống nhƣ nghiên cứu của G.S. Hass với 
thời gian theo dõi trung bính là 64 tháng và 
không có trƣờng hợp nào tử vong[7]. Nhƣ vậy 
kết quả sống trong thời gian theo dõi của chúng 
tôi cũng tƣơng tự nhƣ của các tác giả trên. 
+ Mức độ suy tim khi khám lại có 94,92% 
BN suy tim độ I và II, có 2 BN chiếm 3,39% suy 
tim độ III và 1 BN chiếm 1,69% suy tim độ IV. 
Khi so sánh mức độ suy tim trên lâm sàng khi 
khám lại so với trƣớc mổ chúng tôi không thấy sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê, song tỷ lệ BN bị suy 
tim nặng (Độ III, IV) trong thời gian theo dõi sau 
mổ đã giảm đáng kể. Theo kết quả theo dõi của 
P.G. Sfyridis sau mổ 62,7 tháng có 98,21% BN 
suy tim độ I và III, chỉ có 1,79% BN bị suy tim độ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 16 - THÁNG 3/2017 
 40 
III, không có BN suy tim độ IV [8], nghiên cứu 
của G.S. Haas có 87% suy tim độ I, suy tim độ II 
có 9% và 4% suy tim độ III [7]; của Ujjwal K. 
Chowdhury có 88% BN suy tim mức độ I và II 
[9], còn nghiên cứu của Soo-Jin Kim có 95,2% BN 
suy tim độ I và 4,8% BN suy tim độ II [10]. Nhƣ 
vậy qua các nghiên cứu thấy rằng mức độ suy tim 
sau mổ trong thời gian theo dõi đều cải thiện và 
duy trí ở mức độ nhẹ. 
+ Bão hòa ôxy: Trong nghiên cứu có 88,14% 
BN không bị tìm môi và đầu chi, 11,86% BN vẫn 
còn tìm môi và đầu chi khi khám lại. Chỉ số SpO2 
khi thở khì trời trung bính là 95,63%, thấp nhất là 
89%. Theo nghiên cứu của Iki Adachi, SpO2 
trung bình là 94% [11], của G.S. Haas là 97% [7], 
của S. Ovroutski là 95% [12]. Nhƣ vậy kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi cũng tƣơng tự các tác 
giả trên. Hầu hết BN sau phẫu thuật Fontan đều 
cải thiện tính trạng thiếu ôxy mạn tình với mức 
độ SpO2 cao. Những trƣờng hợp SpO2 thấp do 
cửa sổ giữa ống mạch nhân tạo và tâm nhĩ còn 
thông do vậy còn luồng máu từ tĩnh mạch hệ 
thống sang bên tâm nhĩ, gây ra hiện tƣợng máu 
trộn ở tầng nhĩ, theo thời gian hầu nhƣ cửa sổ 
giữa tâm nhĩ và ống mạch nhân tạo sẽ tự đóng 
nếu nhƣ không còn hiện tƣợng tăng áp lực ĐMP 
sau mổ. Một nguyên nhân nữa gây ra hiện tƣợng 
tìm môi và đầu chi do hiện tƣợng thông của động 
mạch và tĩnh mạch trong nhu mô phổi [13]. 
+ Huyết khối và tai biến mạch não: nghiên 
cứu của chúng tôi có 2 (3,39%) BN bị tai biến 
mạch não trong quá trính theo dõi (1 BN sau mổ 
6 tháng và 1 BN sau mổ 11 tháng), trong đó 1 BN 
siêu âm cửa sổ giữa ống mạch nhân tạo và tâm 
nhĩ còn thông, một BN cửa sổ đã đóng. Hính ảnh 
chụp cắt lớp vi tình sọ não đều có hính ảnh nhồi 
máu não. Biểu hiện lâm sàng có liệt không hoàn 
toàn nửa ngƣời. Đƣợc điều trị phục hồi chức 
năng, hiện tại 1 BN đã hồi phục hoàn toàn, 1 BN 
chƣa hồi phục hoàn toàn. Theo nghiên cứu của 
Soo-Jin Kim có 6,5% BN bị tai biến mạch não 
trong đó chủ yếu xảy ra ở năm đầu tiên sau mổ 
[10], nghiên cứu của Ujjwal K. Chowdhury tỷ lệ 
bị huyết khối là 4,6% [9], của Marrone C trên 
1075 BN đƣợc phẫu thuật Fontan với miệng nối 
ngoài tim thấy tỷ lệ bị huyết khối là 5,2% trong 
thời gian theo dõi từ 2 tháng – 144 tháng [14]. 
Huyết khối sau phẫu thuật Fontan là một biến 
chứng nặng dẫn đến nguy cơ tử vong cao cũng 
nhƣ tai biến mạch não[15],[16]. Biến chứng này 
đƣợc mô tả lần đầu tiên từ năm 1978, song đến 
ngày nay các dấu hiệu để phát hiện sớm hính ảnh 
huyết khối rất khó khăn [17],[18]. Theo M.L. 
Jacobs huyết khối sau phẫu thuật Fontan có hai 
dạng: một là huyết khối hính thành trong ống 
mạch nhân tạo, TMC và ĐMP, dạng huyết khối 
này có thể nằm tại chỗ gây ra cản trở dòng chảy 
từ TM hệ thống lên ĐMP, cũng có thể nó di 
chuyển qua cửa sổ sang bên tuần hoàn hệ thống 
gây tắc mạch tạng; dạng thứ hai là huyết khối 
hính thành trong buồng tim, đặc biệt là túi cùng 
của thân ĐMP khi phẫu thuật Fontan thƣờng cắt 
hoặc thắt thân ĐMP sát chạc ba ĐMP do đó hính 
thành túi cùng ở thân ĐMP dễ gây hính thành 
huyết khối [19]. Để phòng ngừa biến chứng huyết 
khối sau mổ, nên sử dụng thuốc chống đông. Tất 
cả BN của chúng tôi đều đƣợc sử dụng thuốc 
chống ngƣng tập tiểu cầu (Aspergic) và duy trì 
liên tục. Một số nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ BN bị 
huyết khối sau phẫu thuật Fontan với ống nối 
ngoài tim từ 20% đến 23% nếu không duy trí 
thuốc chống đông [17],[18], chình ví vậy một số 
nghiên cứu khuyến cáo nên duy trí thuốc chống 
đông sau mổ [10],[8],[18]. 
+ Loạn nhịp tim: các rối loạn nhịp tim sau 
phẫu thuật Fontan bao gồm cơn nhịp nhanh trên 
thất, rung nhĩ nhanh, suy nút xoang, nhịp bộ 
nối Đây là một trong những nguyên nhân chủ 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH.... 
 41 
yếu gây tử vong khi theo dõi lâu dài. Nghiên cứu 
của chúng tôi có 2 BN chiếm 3,39% bị rối loạn 
nhịp tim trong quá trính theo dõi, 1 BN bị suy nút 
xoang, 1 BN bị nhịp bộ nối, cả 2 BN này đều 
đƣợc chẩn đoán trên điện tâm đồ, và trên Holter 
điện tim 24 giờ. Nghiên cứu của Jeong Ryul Lee 
tỷ lệ này là 11,2% ở nhóm BN phẫu thuật Fontan 
với ống nối ngoài tim [20], của Soo-Jin Kim tỷ lệ 
này là 16% [10], trong nghiên cứu của Azakie và 
cộng sự tỷ lệ này là 13% [21]. Nhƣ vậy tỷ lệ BN 
bị loạn nhịp tim của chúng tôi thấp hơn của các 
tác giả trên bởi ví thời gian theo dõi sau phẫu 
thuật của chúng tôi còn ngắn 
+ Hội chứng mất protien ruột: Nghiên cứu 
của chúng tôi có 2 (3,39%) BN có hội chứng mất 
protein ruột xuất hiện sau mổ 12 tháng và 16 
tháng. Các triệu chứng bao gồm: phù 2 chi dƣới, 
tràn dịch màng bụng, xét nghiệm albumin máu 
của BN là 22 g/ L và 20 g/L. mất protein ruột 
(Protein-Losing Enteropathy) là một biến chứng 
nặng và điều trị khó khăn sau phẫu thuật Fontan, 
tần suất có thể gặp từ 5% đến 15% và nguy cơ tử 
vong cao tới 50% ở BN đƣợc chẩn đoán hội 
chứng này sau 5 năm [22],[23],[24]. Do áp lực 
của TM hệ thống tăng cao dẫn đến tăng áp lực 
trong hệ thống bạch mạch làm mất protein nhƣ là 
albumin, immunoglobin, các yếu tố đông máu ở 
hệ thống đƣờng tiêu hóa. Do mất protein gây ra 
hiện tƣợng phù ngoại vi, tràn dịch đa màng (màng 
bụng, màng phổi, màng tim), sụt cân, tiêu chảy 
kéo dài và hội chứng kém hấp thu [25]. Điều trị 
bao gồm nội khoa ( bù albumin, corticotd), can 
thiệp mở cửa sổ, phẫu thuật mở cửa sổ. 
+ Thất bại Fontan đƣợc định nghĩa gồm các 
trƣờng hợp tử vong, các trƣờng hợp phải mổ lại 
có liên quan đến ống mạch nhân tạo hoặc phải 
làm thêm cầu nối chủ - phổi (Taken down Fontan 
procedure), các trƣờng hợp phải ghép tim, BN có 
suy tim độ III, IV. Theo nghiên cứu của chúng tôi 
có 3(5,08%) BN bị thất bại Fontan trong quá 
trính theo dõi, 2 BN có suy tim độ III (1 BN bị tai 
biến mạch não, 1 BN bị hội chứng mất protein 
ruột), 1 BN bị suy tim độ IV (BN bị hội chứng 
mất protein ruột, đã đƣợc điều trị song không 
hiệu quả, có chỉ định ghép tim). Theo nghiên cứu 
của Yves d’Udekem tỷ lệ BN bị thất bại Fontan 
sau 8,5 năm là 13,77% [2]. Để chẩn đoán thất bại 
Fontan không chỉ biểu hiện các triệu chứng do 
tổn thƣơng tim mà còn có biểu hiện của các cơ 
quan khác. Ngày nay vẫn chƣa có các tiêu chuẩn 
cụ thể để chẩn đoán thất bại Fontan song có thể 
dựa vào các tiêu chì sau: suy tim nặng (độ III, 
IV), hở van nhĩ thất vừa hoặc nặng có triệu chứng 
lâm sàng, tìm nặng môi và đầu chi, tăng áp lực 
ĐMP, các triệu chứng của tăng áp lực tĩnh mạch 
cửa, xơ gan [26],[13]. Điều trị phụ thuộc vào 
nguyên nhân của thất bại có thể sử dụng thuốc 
(lợi tiểu, vận mạch, hạ áp lực ĐMP), sửa van 
hoặc thay van nhĩ thất, gỡ bỏ phẫu thuật Fontan 
(Taken-down Fontan), ghép tim [13]. 
V.KẾT LUẬN: 
Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan với ống 
nối ngoài tim bằng mạch nhân tạo tốt, tỷ lệ biến 
chứng muộn thấp. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Kanakis, M. A., Petropoulos, A. C., and 
Mitropoulos, F. A. (2009), "Fontan operation", 
Hellenic J Cardiol. 50(2), pp. 133-41. 
2. d'Udekem, Y., et al. (2007), "The Fontan 
procedure: contemporary techniques have 
improved long-term outcomes", Circulation. 
116(11 Suppl), pp. I157-64. 
3. Jonas, Richard A. (2004), "Comprehensive 
Surgical Management of Congenital Heart 
Disease Hachette UK Company,338 Euston 
Road, London". the fisrt. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 16 - THÁNG 3/2017 
 42 
4. J. Stark, M.de Leval and VT Tsang (2006), " 
Surgery for Congenital Heart Defect," John 
Wiley & Sons, London. third edition. 
5. Ocello, S., Salviato, N., and Marcelletti, C. F. 
(2007), "Results of 100 consecutive 
extracardiac conduit Fontan operations", 
Pediatr Cardiol. 28(6), pp. 433-7. 
6. Ganigara, M., et al. (2010), "Extracardiac Fontan 
operation after late bidirectional Glenn shunt", 
Asian Cardiovasc Thorac Ann. 18(3), pp. 253-9. 
7. G.S. Haas, H. Hess (2000), "Extracardiac 
conduit Fontan procedure: early and 
intermediate results", European Journal of 
Cardio-thoracic Surgery. 17, pp. 648-654. 
8. s, Pa n a g i o t i s G. Sf yri di (2010), "The 
Fontan Procedure in Greece: Early Surgical 
Results and Excellent Mid-Term Outcome", 
Hellenic J Cardiol. 51, pp. 323-329. 
9. Chowdhury, U. K., et al. (2005), "Specific 
issues after extracardiac fontan operation: 
ventricular function, growth potential, 
arrhythmia, and thromboembolism", Ann 
Thorac Surg. 80(2), pp. 665-72. 
10. Kim, S. J., et al. (2008), "Outcome of 200 
patients after an extracardiac Fontan 
procedure", J Thorac Cardiovasc Surg. 
136(1), pp. 108-16. 
11. Adachi, I., et al. (2007), "Preoperative small 
pulmonary artery did not affect the midterm 
results of Fontan operation", Eur J 
Cardiothorac Surg. 32(1), pp. 156-62. 
12. Ovroutski, S., et al. (2003), "Early and 
medium-term results after modified Fontan 
operation in adults", Eur J Cardiothorac 
Surg. 23(3), pp. 311-6. 
13. Deal, Barbara J (2012), "Management of the 
failing Fontan circulation", Heart. 98, pp. 
1098-1104. 
14. Marrone C, Galasso G, Piccolo R, de Leva F 
(2011), " Antiplatelet versus anticoagulation 
therapy after extracardiac conduit Fontan: a 
systematic review and meta-analysis", Pediatr 
Cardiol. 32, pp. 32 - 39. 
15. Rosenthal DN, Friedman AH, Kleinman CS 
(1995), "Thromboembolic complications after 
Fontan operations", Circulation. 92(2), pp. 
287-293. 
16. Monagle P, Karl TR (2002), 
"Thromboembolic problems after the Fontan 
operation", Semin Thorac Cardiovasc Surg 
Pediatr Card Surg Annu. 5, pp. 36-47. 
17. Rosenthal, D. N., et al. (1995), 
"Thromboembolic complications after Fontan 
operations", Circulation. 92(9 Suppl), pp. 
II287-93. 
18. Shirai, L. K., et al. (1998), "Arrhythmias and 
thromboembolic complications after the 
extracardiac Fontan operation", J Thorac 
Cardiovasc Surg. 115(3), pp. 499-505. 
19. Jacobs, M. L. and Pourmoghadam, K. K. 
(2007), "Thromboembolism and the role of 
anticoagulation in the Fontan patient", Pediatr 
Cardiol. 28(6), pp. 457-64. 
20. Lee, J. R., et al. (2007), "Comparison of 
lateral tunnel and extracardiac conduit Fontan 
procedure", Interact Cardiovasc Thorac Surg. 
6(3), pp. 328-30. 
21. Azakie, A., et al. (2001), "Extracardiac 
conduit versus lateral tunnel cavopulmonary 
connections at a single institution: impact on 
outcomes", J Thorac Cardiovasc Surg. 
KẾT QUẢ TRUNG HẠN PHẪU THUẬT FONTAN VỚI ỐNG NỐI NGOÀI TIM TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH.... 
 43 
122(6), pp. 1219-28. 
22. Mertens, L., et al. (1998), "Protein-losing 
enteropathy after the Fontan operation: an 
international multicenter study. PLE study 
group", J Thorac Cardiovasc Surg. 115(5), 
pp. 1063-73. 
23. LSK KWOK, YF CHEUNG, TC 
YUNG,AKT CHAU,CSW CHIU (2002), 
"Protein-Losing Enteropathy after Fontan 
Procedure", HK J Paediatr. 7, pp. 85-91. 
24. Veldtman, G. R. and Webb, G. D. (2014), 
"Improved survival in Fontan-associated 
protein-losing enteropathy", J Am Coll 
Cardiol. 64(1), pp. 63-5. 
25. John, A. S., et al. (2014), "Clinical 
outcomes and improved survival in patients 
with protein-losing enteropathy after the 
Fontan operation", J Am Coll Cardiol. 
64(1), pp. 54-62. 
26. McRae, Marion E. (2013), "long-term Issues 
after the Fontan Procedure", AACN Advanced 
critical care. 24(3), pp. 264-282. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_trung_han_phau_thuat_fontan_voi_ong_noi_ngoai_tim_ta.pdf