Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn khi điều trị thụ tinh ống

nghiệm của các bệnh nhân tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu

thực hiện trên các bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm được chẩn đoán

là tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON (I, II, III, IV), từ tháng

01/2014 đến tháng 12/2016 tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức. Các trường

hợp không chọc hút noãn và xin noãn bị loại khỏi nghiên cứu.

Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân

loại theo POSEIDON về các đặc điểm cơ bản và đáp ứng buồng trứng.

Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn sau khi sử dụng toàn bộ phôi từ một chu

kỳ KTBT của nhóm I là 28,2%, nhóm II là 18,9%, nhóm III là 11,9% và

nhóm IV là 16,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

phân loại với P <>

Kết luận: Nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng phân loại của tiêu

chuẩn POSEIDON khá tốt ở đặc điểm đáp ứng buồng trứng và kết quả

thai của nhóm bệnh nhân có “tiên lượng thấp”. Kết quả nghiên cứu là

cơ sở để thực hiện các nghiên cứu tiến cứu tiếp theo nhằm đưa ra các

chiến lược điều trị cá thể hóa, cải thiện cơ hội thành công cho nhóm

bệnh nhân tiên lượng thấp này.

pdf 4 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON

Kết quả thụ tinh ống nghệm của nhóm bệnh nhân “tiên lượng thấp” theo phân loại POSEIDON
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 69 - 75, 2018
6968
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
Số HS đã có quan hệ tình dục trong nghiên 
cứu này chiếm 12,5% (trong đó nam 14,5% và 
nữ 9,5%). Tỷ lệ này theo kết quả điều tra SAVY 
2 ở nhóm tuổi 18 - 21 tuổi là 12,3% và ở nhóm 
tuổi 14 - 17 tuổi là 1,65% [4]. Nghiên cứu của M. 
Larson & cộng sự (2007) tại các trường trung học 
ở Thụy Điển (học sinh 18 tuổi đang học tại các 
trường trung học) cho thấy có đến 78% HS đã quan 
hệ tình dục [13]. Nghiên cứu của A.T. Owolabi & 
cộng sự (2005) tại 5 trường trung học ở Nigeria tỷ 
lệ này là 63% HS [14]. Nghiên cứu của A.M.Karim 
(2003) ở Ghana (đối tượng từ 12 - 24 tuổi chưa lập 
gia đình) cho thấy 38,5% có quan hệ tình dục trước 
hôn nhân [15]. Các nghiên cứu của chúng ta cho 
thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có quan hệ tình dục 
trước hôn nhân thấp hơn rất nhiều nghiên cứu của 
một số tác giả nước ngoài, điều này cho thấy quan 
niệm và thái độ về tình dục của trẻ vị thành niên ở 
các nước như Thụy Điển, Nigeria, Ghana cởi mở 
hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy “vô sinh” 
là hậu quả của phá thai không an toàn có số người 
biết đến cao nhất (82%). Đây cũng là hậu quả mà 
đối tượng nghiên cứu biết đến nhiều nhất trong 
nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (78,3%) [6] và Đỗ 
Thu Hồng (38,9%) [5]. Các hậu quả khác của phá 
thai không an toàn như: Nhiễm khuẩn, thủng tử 
cung, dính buồng tử cung, băng huyết được biết 
đến rất thấp dưới 50%. Kết quả của 3 nghiên cứu 
là khá tương đồng, có thể hiện nay vô sinh đang 
là một thực trạng đáng báo động vì thế chủ đề này 
xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện truyền 
thông nên đối tượng biết đến nhiều nhất.
5. Kết luận
Quan khảo sát trên trên 400 học sinh trường 
Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành 
phố Hải Dương, chúng tôi phát hiện: 
- Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng 
về nguy cơ “có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình 
dục một lần”, 82% trong tổng số học sinh cho rằng 
“vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá 
thai không an toàn. 
- Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn 
cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều 
nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3% và 78%) trong khi 
xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà 
học sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7%. 
- Có 50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục 
trước hôn nhân và cũng chỉ 11,3% trong số họ có 
sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục. 
Như vậy, nghiên cứu này khẳng định một lần 
nữa những thiếu sót trong việc cung cấp thông tin 
về phòng tránh thai cho học sinh trung học để giúp 
các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn 
đúng đắn trong vấn đề phòng tránh thai.
Tài liệu tham khảo
1. J.Anne và S.Smith (2007), Adolescent: Sexuality and sexual assault-why they 
think they know it all, and why we still have so much to learn, FAMSACA, Melbourne.
2. Hans David Tampubolon (2010), Indonesia sees pre-marital sex active among 
teenager. McClatychy - Tribune Business News, truy cập ngày 01/11/2011, tại trang.
3. Bộ Y tế và Tổng Cục Thống Kê (2003), Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY1.
4. Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), “Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY2”.
5. Đỗ Thu Hồng (2010), Kiến thức, thái độ về SKSS vị thành niên và một số yếu 
tố liên quan của học sinh trường THCS Tân Triều - Thanh Trì - Hà Nội, Luận văn 
thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
6. Đinh Anh Tuấn (2011), Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về sức 
khỏe sinh sản của người lao động trẻ di cư tại khu công nghiệp Đình Trám - Bắc 
Giang, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân Y.
7. Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), Điều tra quốc gia về vị thành niên, 
thanh niên SAVY2.
8. Nguyễn Văn Nghị (2011), Nghiên cứu quan niệm, hành vi tình dục và sức 
khỏe sinh sản ở vị thành niên huyện Chí Linh - Hải Dương, Luận án tiến sỹ Y tế 
công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
9. E. K. & Koo Wilson, H. P, (2010), “Mothers, fathers, sons, and daughters: gender 
differences in factors associated with parent-child communication about sexual 
topics”, Reprod Health, 7, tr. p 31.
10. A. Ab Rahman, Ab Rahman, R., Ibrahim, M. I., Salleh, H., Ismail, S. B., Ali, S. H., 
Muda, W. M., Ishak, M. & Ahmad, A, (2011), “Knowledge of sexual and reproductive 
health among adolescents attending school in Kelantan, Malaysia”, Southeast Asian 
J Trop Med Public Health, 42(3), tr. p 717-25.
11. D. S. Correia, Pontes, A. C. và các cộng sự. (2009), “Adolescents: contraceptive 
knowledge and use, a Brazilian study”, ScientificWorldJournal, (9), tr. 37-45.
12. R. Ahern, Frattarelli, L. A., Delto, J. & Kaneshiro, B, (2010), “Knowledge and 
awareness of emergency contraception in adolescents”, J Pediatr Adolesc Gynecol, 
23(5), tr. p 273-8.
13. M. Larsson, Tyden, T. và các cộng sự. (2007), “Contraceptive use and 
associated factors among Swedish high school students”, Eur J Contracept Reprod 
Health Care, 12(2), tr. 119-124.
14. A. T. Owolabi, Onayade, A. A. và các cộng sự. (2005), “Sexual behaviour of 
secondary school adolescents in Ilesa, Nigeria: implications for the spread of STIs 
including HIV/AIDS”, J Obstet Gynaecol, 25(2), tr. 174-8.
15. A. M. Karim, Magnani, R. J. và các cộng sự. (2003), “Reproductive health risk 
and protective factors among unmarried youth in Ghana”, Int Fam Plan Perspect, 
29(1), tr. 14-24.
Lê Long Hồ(1), Phạm Dương Toàn(1), Vương Thị Ngọc Lan(2) 
(1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Đại học Y Dược TP.HCM
KẾT QUẢ THỤ TINH ỐNG NGHỆM
CỦA NHÓM BỆNH NHÂN “TIÊN LƯỢNG THẤP”
THEO PHÂN LOẠI POSEIDON
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Long Hồ, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 22/12/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
05/01/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 12/01/2018
Từ khóa: phân loại 
POSEIDON, đáp ứng kém, tiên 
lượng thấp, tỷ lệ thai diễn tiến, 
thụ tinh ống nghiệm.
Keyword: POSEIDON 
stratification, poor response, 
low prognosis, ongoing 
pregnancy rate, in-vitro fertility.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn khi điều trị thụ tinh ống 
nghiệm của các bệnh nhân tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu 
thực hiện trên các bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm được chẩn đoán 
là tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON (I, II, III, IV), từ tháng 
01/2014 đến tháng 12/2016 tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức. Các trường 
hợp không chọc hút noãn và xin noãn bị loại khỏi nghiên cứu. 
Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân 
loại theo POSEIDON về các đặc điểm cơ bản và đáp ứng buồng trứng. 
Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn sau khi sử dụng toàn bộ phôi từ một chu 
kỳ KTBT của nhóm I là 28,2%, nhóm II là 18,9%, nhóm III là 11,9% và 
nhóm IV là 16,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm 
phân loại với P < 0,001. 
Kết luận: Nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng phân loại của tiêu 
chuẩn POSEIDON khá tốt ở đặc điểm đáp ứng buồng trứng và kết quả 
thai của nhóm bệnh nhân có “tiên lượng thấp”. Kết quả nghiên cứu là 
cơ sở để thực hiện các nghiên cứu tiến cứu tiếp theo nhằm đưa ra các 
chiến lược điều trị cá thể hóa, cải thiện cơ hội thành công cho nhóm 
bệnh nhân tiên lượng thấp này.
Từ khóa: phân loại POSEIDON, đáp ứng kém, tiên lượng thấp, tỷ lệ 
thai diễn tiến, thụ tinh ống nghiệm. 
Abstract 
IVF OUTCOMES IN “LOW PROGNOSIS” PATIENTS 
CLASSIFIED FOLLOWEDTHE POSEIDON 
STRATIFICATION
Objectives: To identify the cumulative ongoing pregnancy rate in low 
prognosis IVF patients classified followed by POSEIDON stratification. 
Materials and methods: This was a retrospective cohort study 
conducted on low prognosis IVF patients classified by POSEIDON 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
LÊ LONG HỒ, PHẠM DƯƠNG TOÀN, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 69 - 75, 2018
7170
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
stratification (I, II, III, and IV) at IVFMD, My Duc Hospital from January 2014 to December 2016. 
Donor cycles, cycles not reaching ovum pick-up, and PGS/PGD were excluded from the study. 
Results: There were siginificant differences among 4 POSEIDON groups in regard to patients’ 
characteristics and outcomes of ovarian stimulation. The cumulative ongoing pregnancy rate after using 
all embryos from a stimulated cycle was significantly different among 4 groups of patients (group I: 
28.2%, group II: 18.9%, group III: 11.9%, and group IV: 16.5%, p<0.001). Conclusion: The POSEIDON 
stratification has a good capablility to differentiate the low prognosis patients with different characteristics 
and outcomes. This study provides database for further studies to build-up the individualized strategies 
for the management and improvement of outcomes in low prognosis patients. 
Key: POSEIDON stratification, poor response, low prognosis, ongoing pregnancy rate, in-vitro fertility.
1. Đặt vấn đề
Đáp ứng kém với KTBT là một thách thức 
cho các bác sĩ lâm sàng trong điều trị thụ tinh 
ống nghiệm. Những bệnh nhân này thường có 
ít noãn, đưa đến ít phôi và cơ hội có thai thấp. 
Đáp ứng kém có thể do nhiều nguyên nhân, bao 
gồm: tuổi lớn; tiền căn phẫu thuật trên buồng 
trứng hay trong vùng chậu; tiền căn hóa trị, xạ 
trị trong điều trị các loại ung thư; các bệnh tự 
miễn; các nguyên nhân di truyền và hội chứng 
kháng gonadotropin. Vì vậy, các bệnh nhân đáp 
ứng kém thường có đặc điểm lâm sàng rất khác 
nhau và tiên lượng thành công của điều trị thụ 
tinh ống nghiệm cũng khác nhau. Việc nhận diện 
và phân loại các bệnh nhân đáp ứng kém với các 
đặc điểm lâm sàng và tiên lượng khác nhau là 
cần thiết, nhằm đưa ra các chiến lược cá thể hóa 
trong điều trị thụ tinh ống nghiệm, cải thiện cơ 
hội có thai cho các bệnh nhân này. 
Có nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại 
khác nhau được sử dụng cho nhóm bệnh nhân 
đáp ứng kém. Trong một tổng quan hệ thống, 
Polyzos và cộng sự (2011) đã tổng hợp 47 
nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có 
nhóm chứng về đáp ứng kém, nhận thấy có tới 41 
tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau[1]. Năm 2011, 
các các giả châu Âu đã nhóm họp và thống nhất 
đưa ra tiêu chuẩn Bologna về đáp ứng kém[2]. 
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau đó sử dụng tiêu 
chuẩn Bologna để đánh giá hiệu quả các phác 
đồ điều trị cho bệnh nhân đáp ứng kém đều báo 
cáo tỷ lệ có thai rất thấp và không ghi nhận được 
phác đồ nào có hiệu quả thật sự. Vấn đề chính 
là do tiêu chuẩn Bologna đã gộp chung tất cả 
các bệnh nhân đáp ứng kém với các tiên lượng 
thành công của điều trị khác nhau. Trong khi đó, 
nghiên cứu của Bozdag và cộng sự (2017) ghi 
nhận cùng là bệnh nhân đáp ứng kém, dự trữ 
buồng trứng kém nhưng bệnh nhân trẻ tuổi hơn 
có tỷ lệ có thai tốt hơn[3]. 
Vì thế năm 2016, một nhóm chuyên gia đã tập 
hợp nhiều nghiên cứu và đưa ra tiêu chuẩn phân 
loại mới, thay thuật ngữ “đáp ứng kém” thành 
“tiên lượng thấp”, đồng thời đưa ra hai khái niệm: 
“đáp ứng dưới tối ưu” và “đáp ứng kém”, tiêu 
chuẩn này gọi tắt là POSEIDON gồm 4 nhóm và 
2 phân nhóm[4]. 
- Nhóm 1: bệnh nhân trẻ tuổi, chất lượng 
noãn tốt, đáp ứng buồng trứng dưới tối ưu hoặc 
đáp ứng kém.
- Nhóm 2: bệnh nhân lớn tuổi, chất lượng 
noãn kém, đáp ứng buồng trứng dưới tối ưu hoặc 
đáp ứng kém.
- Nhóm 3: bệnh nhân trẻ tuổi, chất lượng 
noãn tốt.
- Nhóm 4: bệnh nhân lớn tuổi, chất lượng 
noãn kém. 
Phân loại mới này được đưa ra với hy vọng 
nhận diện được những nhóm đối tượng đáp ứng 
kém khác nhau về đặc điểm, nguyên nhân, từ 
đó, có can thiệp phù hợp cho từng nhóm đối 
tượng nhằm cải thiện hiệu quả cho các bệnh 
nhân này.
Từ khi phân loại mới được đưa ra đến nay, 
chưa có báo cáo nào về tỷ lệ có thai ở từng 
nhóm tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này, nhằm mục 
đích khảo sát tỷ lệ có thai khi điều trị thụ tinh ống 
nghiệm của các bệnh nhân tiên lượng thấp theo 
phân loại POSEIDON.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính: Xác định tỷ lệ thai diễn tiến 
cộng dồn ở bệnh nhân tiên lượng thấp theo phân 
loại POSEIDON khi điều trị thụ tinh ống nghiệm.
Mục tiêu phụ: Xác định chiến lược chuyển 
phôi đưa đến tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn cao 
nhất trong từng nhóm tiên lượng thấp theo phân 
loại POSEIDON.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Đây là một 
nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu tiến hành tại IVFMD, 
Bệnh viện Mỹ Đức, TPHCM trong thời gian từ tháng 
01/2014 đến tháng 12/2016.
2.2 Đối tượng và phương pháp nghiên 
cứu: Bệnh nhân điều trị thụ tinh ống nghiệm, thỏa 
các tiêu chí chọn mẫu sau đây:
2.2.1 Tiêu chuẩn nhận:
- Thụ tinh ống nghiệm có KTBT với phác đồ 
GnRH đối vận.
- Khởi động trưởng thành noãn bằng hCG.
- Có thực hiện chọc hút noãn.
- Được chẩn đoán là “tiên lượng thấp” theo tiêu 
chuẩn POSEIDON như sau:
 + Nhóm I: < 35 tuổi, AMH ≥ 1,2 ng/mL và 
AFC ≥ 5 nang. 
 Phân nhóm Ia: < 4 noãn.
 Phân nhóm IIa: 4-9 noãn.
 + Nhóm II: ≥ 35 tuổi, AMH ≥ 1,2 ng/mL và 
AFC ≥ 5 nang. 
 Phân nhóm IIa: < 4 noãn.
 Phân nhóm IIb: 4-9 noãn.
 + Nhóm III: < 35 tuổi, AMH < 1,2 ng/mL và 
AFC < 5 nang.
 + Nhóm IV: ≥ 35 tuổi, AMH < 1,2 ng/mL và 
AFC < 5 nang.
2.2.2 Tiêu chuẩn loại:
- Các chu kỳ xin noãn.
- Các chu kỳ nuôi trưởng thành noãn trong 
ống nghiệm.
- Chu kỳ có chẩn đoán tiền làm tổ.
2.3 Kết cục chính: Tỷ lệ thai diễn tiến cộng 
dồn của tất cả các lần chuyển phôi từ một chu kỳ 
KTBT. Thai diễn tiến được định nghĩa là túi thai có 
phôi và tim thai trên siêu âm ở thời điểm 10 tuần 
sau chuyển phôi.
Kết cục phụ:
Kết quả KTBT: số noãn, số noãn trưởng thành, số 
phôi, số phôi tốt, tỷ lệ không noãn, tỷ lệ không phôi.
Biến chứng của KTBT: tỷ lệ sẩy thai sớm, tỷ lệ 
thai ngoài tử cung.
2.4 Phân tích số liệu: Số liệu được phân 
tích bằng phần mềm R, phiên bản 3.3.3.
3. Kết quả nghiên cứu
Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016, có 
tổng cộng 2.237 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn 
mẫu được nhận vào nghiên cứu. Số bệnh nhân 
được nhận vào mẫu nghiên cứu theo phân loại 
POSEIDON được trình bày trong sơ đồ 1.
3.1 Đặc điểm lâm sàng và đặc điểm 
chu kỳ điều trị của bệnh nhân 
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân được trình 
bày trong bảng 1. 
Đặc điểm chu kỳ điều trị được trình bày trong 
bảng 2.
3.2. Kết quả kích thích buồng trứng
Số noãn chọc hút được, số noãn trưởng 
Sơ đồ 1. Số bệnh nhân theo phân loại POSEIDON
- Các chu kỳ nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm. 
- Chu kỳ có chẩn đoán tiền làm tổ. 
2.3. Kết cục chính: Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn của tất cả các lần chuyển phôi từ 
một chu kỳ KTBT. Thai diễn tiến được định nghĩa là túi thai có phôi và tim thai 
trên siêu âm ở thời điểm 10 tuần sau chuyển phôi. 
Kết cục phụ: 
Kết quả KTBT: số noãn, số noãn trưởng thành, số phôi, số phôi tốt, tỷ lệ không 
noã ...  ± 1,48 9,67 ± 2,27 9,61 ± 2,40 < 0,001
Tổng liều FSH 2.711,64 ± 861,74
2.899,02 ± 
801,01
3.427,06 ± 
1.173,36
3.333,01 ± 
1.170,30 < 0,001
Loại FSH - n (%)
< 0,001
 hMG 2 (0,2) 4 (0,5) 1 (0,9) 3 (1,0)
 hp-HMG 291 (27,7) 98 (12,8) 4 (3,7) 18 (5,8)
 rec FSH 759 (72,1) 665 (86,7) 104 (95,4) 288 (93,2)
Bổ sung LH - n (%)
0,225 Không 405 (38,5) 289 (37,7) 35 (32,1) 102 (33,0)
 Có 647 (61,5) 478 (62,3) 74 (67,9) 207 (67,0)
Nồng độ estradiol ngày 
trigger (pg/mL)
4.214,88 ± 
4.425,34
3.760,48 ± 
3.756,28
1.966,2± 
2.713,01
1.514,46 ± 
1.766,73 < 0,001
Nồng độ progesterone 
ngày trigger (ng/mL) 1,13 ± 1,15 1,07 ± 0,97 0,81 ± 0,41 0,82 ± 0,64 < 0,001
Độ dày NMTC (mm) 11,69 ± 1,40 11,45 ±1,60 11,77±1,45 11,35±1,62 < 0,001
Chuyển phôi
Chuyển phôi tươi
Trữ phôi toàn bộ
68,8
29,4
73,4
25,6
60,6
24,8
68,0
16,2 < 0,001
Số phôi chuyển trung 
bình / lần chuyển phôi 2,38 ± 0,81 2,39 ± 0,82 1,86 ± 0,76 1,83 ± 0,84
Bảng 2. Đặc điểm chu kỳ điều trị
thành, số noãn thụ tinh, số phôi, số phôi tốt, 
số phôi trữ đều cao nhất ở nhóm I, giảm dần 
và ít nhất ở nhóm IV, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê. Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn cao nhất 
ở nhóm Ib và IIb, các nhóm còn lại đều thấp. 
Phân tích dưới nhóm về kết quả kích thích buồng 
trứng cho thấy nhóm Ia và IIa đều có số noãn, 
số phôi ít hơn tất cả các nhóm còn lại, kể cả 
nhóm III và IV. Kết quả KTBT và tỷ lệ thai được 
trình bày ở bảng 3. 
Đặc điểm
Nhóm I (n = 1.052) Nhóm II (n = 767) Nhóm III
(n = 109)
Nhóm IV
(n = 309) P1a 1b 2a 2b
Số noãn chọc hút 
được
2,30 ± 
0,88
7,05 ± 
1,57
2,29 ± 
0,82
6,76 ± 
1,69
3,92 ± 
3,52
3,05 ± 
2,21
< 
0,001
Số noãn trưởng 
thành 
2,08 ± 
0,5
5,50 ± 
1,01
2,01 ± 
0,76
5,40 ± 
1,81
3,04 ± 
3,19
2,46 ± 
1,87
< 
0,001
Số noãn thụ tinh 1,60 ± 0,63
3,98 ± 
1,77
1,75 ± 
0,78
3,89 ± 
1,78
2,20 ± 
2,61
1,77 ± 
1,61
< 
0,001
Số phôi 1,65 ± 0,65
3,77 ± 
1,60
1,80 ± 
0,75
3,60 ± 
1,55
2,23 ± 
2,26
1,82 ± 
1,42
< 
0,001
Số phôi tốt 0,36 ± 0,60
1,05 ± 
1,23
0,60 ± 
0,76
0,95 ± 
1,10
0,59 ± 
0,82
0,55 ± 
0,83
< 
0,001
Số phôi trữ 0,43 ± 0,85
1,53 ± 
1,79
0,36 ± 
0,75
1,27 ± 
1,66
0,85 ± 
1,55
0,46 ± 
1,05
< 
0,001
Tỷ lệ chọc hút 
không noãn (%) 7,3 0,0 3,7 0 5,5 9,4
< 
0,001
Tỷ lệ không phôi 
(%) 4,8 0,9 4,9 0,15 9,2 6,5
< 
0,001
Tỷ lệ sẩy thai (%) 1,8 3,1 12,1* 5,0 1,5 2,4 < 0,05*
Tỷ lệ thai ngoài tử 
cung (%) 3,6 1,2 0 0,4 3,0 0,5 > 0,05
Bảng 3. Kết quả KTBT
3.3. Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn của 
các nhóm tiên lượng thấp theo phân loại 
POSEIDON
Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn của nhóm Ia là 
19,5%, nhóm Ib là 37%, nhóm IIa là 8,6%, nhóm 
IIb là 24,1%, nhóm III là 11,9% và nhóm IV là 
16,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 
0,001 Kết quả được trình bày trong biểu đồ 1.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn ở các 
nhóm tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON.
3.4. Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn giữa 
các chiến lược chuyển phôi khác nhau 
trong từng nhóm tiên lượng thấp 
Trên các bệnh nhân có chuyển phôi, chúng 
tôi tiến hành phân tích tỷ lệ thai diễn tiến cộng 
Ia
(n = 72)
Ib
(n = 961)
IIa
(n = 74)
IIb
(n = 685)
III
(n = 93)
IV
(n = 260)
CP tươi N3 7 (9,7) 442 (45,9) 7 (9,5) 313 (45,7) 24 (25,8) 66 (25,4)
CP tươi N2 49 (68) 226 (27,7) 51 (68,9) 192 (28) 42 (45,2) 144 (55,3)
TPTB-CPT N3 0 (0) 234 (24,3) 5 (6,7) 141 (20,5) 13 (13,9) 17 (6,5)
TPTB-CPT N2 16 (22,3) 59 (2,1) 11 (14,9) 39 (5,8) 14 (15,1) 33 (12,8)
CP: chuyển phôi; N: ngày; TPTB: trữ phôi toàn bộ; CPT: chuyển phôi trữ
Bảng 4. Phân bố số chu kỳ chuyển phôi theo các chiến lược khác nhau
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn ở các nhóm tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON
Biểu đồ 2: Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn theo chiến lược chuyển phôi
với số noãn ≤ 3. Nghiên cứu của Bozdag và cộng 
sự (2017), đã ghi nhận bệnh nhân trẻ tuổi có dự 
trữ buồng trứng thấp, tiền căn đáp ứng kém có 
tỷ lệ thai tốt hơn ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi[3]. 
Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận kết quả 
tương tự, nhóm I và II là 2 nhóm bệnh nhân có dự 
trữ buồng trứng tốt, đáp ứng dưới tối ưu hoặc đáp 
ứng kém; tuy nhiên, ở nhóm I, bệnh nhân trẻ < 35 
tuổi nên có tỷ lệ có thai cao hơn nhóm II. Tại Việt 
Nam, Hồ Ngọc Anh Vũ và cộng sự (2016) đã thực 
hiện nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm 
chứng so sánh 2 phác đồ KTBT (corifollitropin 
alfa+menotropin so với follitropin beta đơn thuần) 
trên bệnh nhân trẻ tuổi đáp ứng kém theo tiêu 
chuẩn Bolognia[5]. Tác giả ghi nhận tỷ lệ thai 
diễn tiến khả quan, khoảng 21,4%. Nghiên cứu 
của chúng tôi ghi nhận nhóm trẻ tuổi, có đặc điểm 
giống tiêu chuẩn Bolognia, có tỷ lệ thai diễn tiến 
là 19,5% cho nhóm Ia và 11,9% cho nhóm III, 
thấp hơn trong nghiên cứu của Hồ Ngọc Anh Vũ 
và cộng sự. Lý giải cho điều này, nghiên cứu của 
chúng tôi mặc dù cỡ mẫu lớn nhưng có thiết kế hồi 
cứu và dân số nghiên cứu không đồng nhất hoàn 
toàn về phác đồ KTBT, liều, loại thuốc và cách 
điều chỉnh liều thuốc trong quá trình KTBT.
Nhóm IV là nhóm lớn tuổi, có dự trữ buồng 
trứng giảm, có tỷ lệ chọc hút không noãn cao nhất 
trong các phân nhóm; tuy nhiên, tỷ lệ có thai của 
nhóm IV trong nghiên cứu của chúng tôi lại cao 
hơn ở nhóm III và nhóm IIa. Điều này có thể do 
đây chỉ là nhóm dự đoán đáp ứng kém dựa trên 
các xét nghiệm dự trữ buồng trứng chứ không thật 
sự đáp ứng kém như nhóm IIa. Thực tế là số noãn 
chọc hút trung bình của nhóm IV là 3,05 so với 
nhóm IIa là 2,29. Lý do tỷ lệ thai cộng dồn ở nhóm 
IV cao hơn nhóm III (nhóm cũng được dự đoán 
đáp ứng kém dựa trên xét nghiệm dự trữ buồng 
trứng và có tuổi trẻ) là chưa rõ vì cả 2 nhóm có 
số noãn, số phôi, và các kết quả KTBT khác tương 
đương nhau. Có thể do vai trò của yếu tố cơ hội 
xảy ra vì nhóm III có số mẫu khá thấp, 109 chu 
kỳ, so với nhóm IV là 309.
Ngoài tuổi, là yếu tố có tác động lên kết quả ở 
bệnh nhân tiên lượng thấp, nghiên cứu của chúng 
tôi cũng quan sát thấy số noãn thu được cũng có 
liên quan đến tỷ lệ thai diễn tiến. Nghiên cứu của 
chúng tôi ghi nhận, các bệnh nhân có cùng đặc 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
LÊ LONG HỒ, PHẠM DƯƠNG TOÀN, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 69 - 75, 2018
7574
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
điểm nhưng nếu có số noãn thu được cao hơn thì 
có tỷ lệ thai diễn tiến cao hơn. Tỷ lệ thai diễn tiến 
của nhóm Ia (≤ 3 noãn) thấp hơn có ý nghĩa thống 
kê so với nhóm Ib (4-9 noãn) và tương tự như vậy 
cho nhóm IIa và IIb. Nhóm III và nhóm IV là 2 nhóm 
có dự trữ buồng trứng thấp, số noãn chọc hút được 
trung bình ở 2 nhóm này thấp hơn nhóm Ib và Iib; 
do đó, tỷ lệ thai diễn tiến ở 2 nhóm này cũng thấp 
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm Ib và IIb. 
Điều tìm thấy này từ kết quả của nghiên cứu chúng 
tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Sunkara và 
cộng sự (2011)[6]. Tác giả phân tích hồi cứu trên 
400.135 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm, ghi nhận số 
noãn thu được có liên quan với tỷ lệ trẻ sinh sống 
của thụ tinh ống nghiệm. Tỷ lệ trẻ sinh sống thấp, 
5-10% ở nhóm bệnh nhân có số noãn ≤ 3, 20-30% 
khi số noãn 4-9, tăng dần khi số noãn tăng dần, 
đạt đỉnh và giữ ở mức bình nguyên khi số noãn là 
15. Khi số noãn trên 15, tỷ lệ trẻ sinh sống không 
tăng thêm mà ngược lại, tỷ lệ quá kích buồng trứng 
tăng hơn. Như vậy, những nghiên cứu tiếp theo 
trên bệnh nhân đáp ứng kém hay tiên lượng thấp, 
nên tập trung vào chiến lược làm thế nào để tăng 
được số lượng noãn thu được từ những bệnh nhân 
này như: thay đổi phác đồ, loại thuốc KTBT hay áp 
dụng chiến lược tích lũy noãn từ 2 chu kỳ để tăng số 
noãn dùng cho một lần tạo phôi. Kuang và cộng sự 
(2014) áp dụng phác đồ KTBT kép cho bệnh nhân 
đáp ứng kém dựa trên quan sát của siêu âm về 
các đợt phát triển của nang noãn trong một chu kỳ 
kinh nguyệt[7]. Baerwald và cộng sự (2012) thực 
hiện KTBT ngay sau khi chọc hút noãn lần 1, sau 
đó tiếp tục chọc hút noãn lần 2 trong pha hoàng 
thể. Kết quả ghi nhận số noãn chọc hút lần 2 tăng 
hơn lần 1 (3,5 ± 3,2 so với 1,7 ± 1,0)[8]. Ngoài 
ra, một nghiên cứu khác của Ferraretti và cộng sự 
(2014) sử dụng mồi LH trong pha hoàng thể, theo 
sau bằng KTBT với phác đồ down-regulation đưa 
đến tăng 1 noãn thu được so với phác đồ GnRH đối 
vận với liều cao FSH (3,5 ± 1,7 so với 2,4 ± 1,0) ở 
các bệnh nhân đáp ứng kém[9].
Ngoài ra, một câu hỏi lâm sàng thường gặp 
khi điều trị thụ tinh ống nghiệm cho bệnh nhân 
tiên lượng thấp là nên chuyển phôi ngày 2 hay 
ngày 3 và nên chuyển phôi tươi hay trữ phôi toàn 
bộ - chuyển phôi trữ. Chúng tôi thực hiện phân 
tích tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn giữa các kiểu 
chuyển phôi trong cùng một nhóm, phân nhóm. 
Về ngày chuyển phôi, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ 
thai diễn tiến cộng dồn ở tất cả các nhóm và phân 
nhóm đều cao hơn khi chuyển phôi ngày 3 so với 
phôi ngày 2, tuy là sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê. Những nghiên cứu ban đầu vào năm 
2006 so sánh chuyển phôi ngày 2 với ngày 3 ở 
bệnh nhân đáp ứng kém đều ghi nhận tỷ lệ thai 
lâm sàng cao hơn ở nhóm chuyển phôi ngày 2 so 
với ngày 3[10,11]. Nuôi cấy phôi dài ngày bên 
ngoài cơ thể được cho là giúp chọn lọc các phôi 
có khả năng làm tổ cao. Tuy nhiên, việc nuôi cấy 
phôi dài ngày bên ngoài cơ thể cũng có thể ảnh 
hưởng đến khả năng phát triển của phôi, nhất là 
trong điều kiện nuôi cấy không tối ưu, có thể là 
nguyên nhân giảm khả năng có thai khi chuyển 
phôi ngày 3 so với ngày 2 ở bệnh nhân đáp ứng 
kém. Gần đây, vào năm 2011, một nghiên cứu 
thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng 
khác lại ghi nhận chuyển phôi ngày 2 hay ngày 
3 cho bệnh nhân đáp ứng kém đạt kết quả có 
thai tương đương nhau, phù hợp với điều tìm thấy 
trong nghiên cứu của chúng tôi[12]. Điều này có 
thể do điều kiện nuôi cấy phôi hiện tại ở các trung 
tâm thụ tinh trong ống nghiệm được kiểm soát tốt 
hơn trước đây. Về việc chuyển phôi tươi hay trữ 
phôi toàn bộ - chuyển phôi trữ, nghiên cứu của 
chúng tôi ghi nhận chuyển phôi tươi cho kết quả 
thai diễn tiến cao hơn không có ý nghĩa thống kê 
so với trữ phôi toàn bộ - chuyển phôi trữ. Kết quả 
nghiên cứu này, mặc dù trên đối tượng tiên lượng 
thấp, vẫn cùng xu hướng với thử nghiệm lâm 
sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng của Vuong và 
cộng sự (2016) thực hiện trên bệnh nhân có đáp 
ứng buồng trứng bình thường và tại cùng trung 
tâm IVFMD. Tác giả ghi nhận tỷ lệ thai diễn tiến 
không khác biệt giữa chuyển phôi tươi và chuyển 
phôi trữ cho bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong 
ống nghiệm[11]. Hơn nữa, chuyển phôi tươi còn 
rút ngắn thời gian từ khi bắt đầu điều trị đến khi 
có thai so với trữ phôi toàn bộ - chuyển phôi trữ 
giảm căng thẳng và chi phí gián tiếp cho bệnh 
nhân[13,14].
Hạn chế của nghiên cứu này chủ yếu là thiết 
kế hồi cứu, tuy nhiên, hệ thống dữ liệu của chúng 
tôi được vi tính hóa nên các dữ liệu vẫn có thể thu 
thập đầy đủ. Ngoài ra, cỡ mẫu của nghiên cứu khá 
lớn nhưng số mẫu trong từng nhóm và phân nhóm 
không đồng đều, một số có mẫu nhỏ nên không 
mang tính đại diện tốt. 
5. Kết luận 
Nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng phân 
loại của tiêu chuẩn POSEIDON khá tốt ở đặc điểm 
đáp ứng buồng trứng và kết quả thai của nhóm 
bệnh nhân có “tiên lượng thấp”. Số noãn chọc 
hút được là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến 
kết quả điều trị thụ tinh ống nghiệm. Chuyển phôi 
tươi ngày 3 cho tỷ lệ có thai cao nhất, tuy không 
khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các chiến 
lược chuyển phôi khác. Kết quả nghiên cứu cung 
cấp các dữ liệu cơ bản và là nền tảng cho các 
nghiên cứu tiếp theo trên nhóm bệnh nhân tiên 
lượng thấp nhằm đưa ra các chiến lược cá thể hóa 
để cải thiện tỷ lệ thành công của điều trị thụ tinh 
ống nghiệm.
Tài liệu tham khảo
1. Polyzos NP, Devroey P. A systematic review of randomized trials for 
the treatment of poor ovarian responders: is there any light at the end of 
the tunnel? Fertil Steril. 2011 Nov; 96(5):1058-61.e7. 
2. Ferraretti AP, La Marca A, Fauser BCJM, Tarlatzis B, Nargund G, 
Gianaroli L. ESHRE consensus on the definition of “poor response” to 
ovarian stimulation for in vitro fertilization: the Bologna criteria†. Hum 
Reprod. 2011 Jul 1; 26(7):1616-24.
3. Bozdag G, Polat M, Yarali I, Yarali H. Live birth rates in various 
subgroups of poor ovarian responders fulfilling the Bologna criteria. 
Reprod Biomed Online [Internet]. [cited 2017 May 16]; Available from: 
4. Alviggi C, Andersen CY, Buehler K, Conforti A, De Placido G, Esteves 
SC, et al. A new more detailed stratification of low responders to ovarian 
stimulation: from a poor ovarian response to a low prognosis concept. 
Fertil Steril; 105(6):1452-3. 
5. Hồ Ngọc Anh Vũ, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Dương Toàn, Hồ 
Mạnh Tường. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm 
chứng so sánh hiệu quả phác đồ KTBT sử dụng corifollitrpin α và 
menotropin với phác đồ follitropin β đơn thuần ở bệnh nhân đáp ứng 
buồng trứng kém. Vol. tập 14. Tạp chí Phụ Sản 2016. 
6. Sunkara SK, Rittenberg V, Raine-Fenning N, Bhattacharya S, Zamora 
J, Coomarasamy A. Association between the number of eggs and live 
birth in IVF treatment: an analysis of 400 135 treatment cycles. Hum 
Reprod. 2011 Jul 1; 26(7):1768-74. 
7. Kuang Y, Chen Q, Hong Q, Lyu Q, Ai A, Fu Y, et al. Double 
stimulations during the follicular and luteal phases of poor responders in 
IVF/ICSI programmes (Shanghai protocol). Reprod Biomed Online. 2014 
Dec; 29(6):684-91. 
8. Baerwald AR, Adams GP, Pierson RA. Ovarian antral folliculogenesis 
during the human menstrual cycle: a review. Hum Reprod Update. 2012 
Feb; 18(1):73-91.
9. Ferraretti AP, Gianaroli L, Motrenko T, Feliciani E, Tabanelli C, Magli 
MC. LH Pretreatment as a Novel Strategy for Poor Responders. BioMed 
Res Int. 2014; 2014. 
10. Bahceci M, Ulug U, Ciray HN, Akman MA, Erden HF. Efficiency of 
changing the embryo transfer time from day 3 to day 2 among women 
with poor ovarian response: a prospective randomized trial. Fertil Steril. 
2006 Jul; 86(1):81-5.
11. Shen S, Rosen MP, Dobson AT, Fujimoto VY, McCulloch CE, Cedars 
MI. Day 2 transfer improves pregnancy outcome in in vitro fertilization 
cycles with few available embryos. Vol. 86. Fertil Steril. 2006; 44-50 p. 
12. Shahine LK, Milki AA, Westphal LM, Baker VL, Behr B, Lathi RB. 
Day 2 versus day 3 embryo transfer in poor responders: a prospective 
randomized trial. Fertil Steril. 2011 Jan; 95(1):330-2. 
13. Le Dang Khoa, Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Dang Quang 
Vinh, Pham Duong Toan, Robert J Norman, Ben WJ Mol. A comparison 
of cost-effectiveness of freeze-all protocol and fresh embryo transfer 
in women undergoing IVF/ICSI. Oral presentation at the 33rd EHSRE 
Annual Meeting, Geneva; 2017. 
14. Vuong LT, Dang VQ, Ho TM, Huynh BG, Ha DT, Pham TD, et al. 
Freeze-all versus fresh embryo transfer in IVF/ICSI, a randomised 
controlled trial (NCT02471573). Fertil Steril; 106(3):e376. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_thu_tinh_ong_nghem_cua_nhom_benh_nhan_tien_luong_tha.pdf