Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng

Đặt vấn đề: Làm thế nào để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo

tính an toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng (QKBT)

luôn là một thách thức lớn đối với các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm

(TTTON) trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những trường

hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích thích buồng trứng, bên cạnh

tiềm năng chọc hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng lọc phôi

tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ quá kích buồng

trứng (QKBT). Do đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận

kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân

này đang là xu hướng chung của nhiều trung tâm TTTON.

Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi nang và

chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt được kích thích trưởng

thành noãn bằng GnRH đồng vận.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm

các chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, bệnh viện An

sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018.

Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận.

Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang có kích thước ≥ 12mm vào

ngày hCG được dùng 0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích

trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau diphereline.

Phôi được nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB).

Kết quả: Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Số trứng

chọc hút trung bình là 24,13±8,49, số phôi ngày 3 (N3) trung bình là 9,93±5,11.

Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang

ngày 5 (N5) và trữ phôi toàn bộ (TPTB). Tỷ lệ lên phôi N5 là 57,45±22,52. Tỷ

lệ làm tổ là 55%, tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn là 46,2%, tỷ lệ đa thai là 3,1%.

Kết luận: Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ

và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện

kết quả điều trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp phòng

ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những chu kỳ có nguy cơ cao

pdf 4 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng

Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
135
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 135 - 138, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Vũ Bảo Hà Minh(1), Nguyễn Huyền Minh Thụy(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(2), Vương Đình Hoàng Dũng(1) 
(1) Bệnh viện An Sinh, (2) Bệnh viện Mỹ Đức
KẾT QUẢ THAI DIỄN TIẾN CỘNG DỒN
SAU TRƯỞNG THÀNH NOÃN BẰNG GnRH ĐỒNG VẬN
Ở NHÓM BỆNH NHÂN ĐÁP ỨNG TỐT
VỚI KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vũ Bảo Hà Minh,
email: 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Làm thế nào để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo 
tính an toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng (QKBT) 
luôn là một thách thức lớn đối với các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm 
(TTTON) trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những trường 
hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích thích buồng trứng, bên cạnh 
tiềm năng chọc hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng lọc phôi 
tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ quá kích buồng 
trứng (QKBT). Do đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận 
kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân 
này đang là xu hướng chung của nhiều trung tâm TTTON. 
Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi nang và 
chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt được kích thích trưởng 
thành noãn bằng GnRH đồng vận. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm 
các chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, bệnh viện An 
sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018. 
Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận. 
Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang có kích thước ≥ 12mm vào 
ngày hCG được dùng 0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích 
trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau diphereline. 
Phôi được nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB). 
Kết quả: Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Số trứng 
chọc hút trung bình là 24,13±8,49, số phôi ngày 3 (N3) trung bình là 9,93±5,11. 
Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang 
ngày 5 (N5) và trữ phôi toàn bộ (TPTB). Tỷ lệ lên phôi N5 là 57,45±22,52. Tỷ 
lệ làm tổ là 55%, tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn là 46,2%, tỷ lệ đa thai là 3,1%. 
Kết luận: Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ 
và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện 
kết quả điều trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp phòng 
ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những chu kỳ có nguy cơ cao.
VŨ BẢO HÀ MINH, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, VƯƠNG ĐÌNH HOÀNG DŨNG
136
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
1. Đặt vấn đề
Hội chứng quá kích buồng trứng (QKBT) là một 
trong những biến chứng thường gặp và nguy hiểm 
đến tính mạng bệnh nhân cũng như ảnh hưởng đến 
kết quả điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) 
[2]. Hội chứng QKBT được phân ra làm hai loại 
là QKBT sớm do quá trình kích thích buồng trứng 
(KTBT) và QKBT muộn do thai [4]. Cho đến hiện tại, 
có nhiều biện pháp được áp dụng để ngăn ngừa 
hội chứng QKBT, tuy nhiên chưa có biện pháp nào 
giúp ngăn chặn hoàn toàn biến chứng này. Việc 
sử dụng phác đồ GnRH đối vận là biện pháp giúp 
phòng ngừa nguy cơ QKBT. Ưu điểm của phương 
pháp này là có thể sử dụng GnRH đồng vận để 
kích thích trưởng thành noãn thay cho hCG do tác 
dụng ức chế cạnh tranh của phác đồ này vẫn cho 
phép GnRH đồng vận tác động lên tuyến yên gây 
ra đỉnh LH (Luteinizing Hormone) và FSH (Follicle 
Stimulating Hormone). Tuy nhiên sử dụng GnRH 
đồng vận không thể giúp dự phòng nguy cơ QKBT 
muộn do thai.
Việc phát triển hệ thống nuôi cấy cũng như là hệ 
môi trường nuôi phôi giúp nuôi cấy phôi dài ngày 
hơn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, việc nuôi phôi 
đến giai đoạn phôi nang sau đó tiến hành chuyển 
đơn phôi cho tỷ lệ đa thai thấp hơn ý nghĩa khi so 
sánh với chuyển phôi phân chia [1]. Làm thế nào 
để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo tính an 
toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng 
trứng (QKBT) luôn là một thách thức lớn đối với các 
trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên 
thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những 
trường hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích 
thích buồng trứng (KTBT), bên cạnh tiềm năng chọc 
hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng 
lọc phôi tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt 
với nguy cơ quá kích buồng trứng (QKBT) [7]. Do 
đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng 
vận kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn 
phôi ở nhóm bệnh nhân này đang là xu hướng 
chung của nhiều trung tâm TTTON [2].
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi 
nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp 
ứng tốt được kích thích trưởng thành noãn bằng 
GnRH đồng vận.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm các 
chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, 
bệnh viện An sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức 
từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018. Bệnh nhân 
trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH 
đối vận. Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang 
có kích thước ≥ 12mm vào ngày hCG được dùng 
0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích 
trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 
tiếng sau diphereline. Phôi được nuôi cấy đến giai 
đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB). 
4. Kết quả
Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào 
nghiên cứu. Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định 
nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang ngày 5 
(N5) và TPTB. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân 
được thể hiện trong bảng 1. 
Ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phôi phát triển đến 
Đặc điểm N = 290
Tuổi vợ (năm) 30,29 ± 3,98
BMI 21,20 ± 2,46
AMH 7,42 ± 3,93
AFC 21,75 ± 8,61
Chỉ định TTTON
PCOS 67 (23,1%)
Rối loạn phóng noãn 28 (9,7%)
Tai vòi 47 (16,2%)
Do chồng 75 (25,9%)
Chưa rõ nguyên nhân 33 (11,4%)
Khác 40 (13,8%)
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân
Đặc điểm N = 290
Thời gian KTBT (ngày)_ 9,30 ± 1,45
Liều đầu FSH sử dụng (UI/l) 217,36 ± 51,82
Tổng liều FSH sử dụng (UI/l) 2297,29 ± 690,6
Số nang noãn > 12mm 22,92 ± 5,07
Nồng độ Estradiol 16032,31 ± 15334,76
Số chu kỳ chọc hút (%)
1
2
≥ 3
223 (76,9%)
51 (17,6%)
16 (5,5%)
Bảng 2: Đặc điểm chu kỳ điều trị
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
137
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
giai đoạn phôi nang N5 là 57,45 ± 22,52%. Trong 
đó, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48% với số phôi trữ 
trung bình là 6,56 ± 3,32 phôi.
5. Bàn luận
Việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG 
trong việc kích thích trưởng thành noãn đã được 
nhiều nghiên cứu đánh giá là có hiệu quả trong 
việc phòng ngừa nguy cơ QKBT , đặc biệt là ở nhóm 
bệnh nhân có nguy cơ cao [6,7]. GnRH đồng vận 
được sử dụng 12 giờ sau lần tiêm cuối cùng của 
GnRH đối vận. Nồng độ LH (Luteinizing Hormone) 
và FSH (Follicle Stimulating Hormone) lần lượt bắt 
đầu tăng 4 và 12 giờ sau khi sử dụng GnRH đồng 
vận. Mặc dù vậy, đỉnh LH của GnRH đồng vận 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 135 - 138, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Kết quả N = 290
Số noãn chọc hút 24,13 ± 8,49
Số noãn trưởng thành 20,36 ± 7,53
Số noãn thụ tinh 17,56 ± 6,73
Số phôi N5 9,93 ± 5,11
Tỷ lệ tạo phôi N5 (%) 57,45 ± 22,52
Số phôi tốt 3,67 ± 3,43
Tỷ lệ phôi tốt (%) 35,86 ± 23,48
Số phôi trữ 6,56 ± 3,32
Tỷ lệ làm tổ (%) 55% (166/302)
Bảng 3: Kết quả điều trị
Biểu đồ 1: Tỷ lệ βhCG dương tính, thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng dồn sau chuyển đơn 
phôi trữ N5.
Kết quả N = 290 
Số noãn chọc hút 24,13 ± 8,49 
Số noãn trưởng thành 20,36 ± 7,53 
Số noãn thụ tinh 17,56 ± 6,73 
Số phôi N5 9,93 ± 5,11 
Tỷ lệ tạo phôi N5 (%) 57,45 ± 22,52 
Số phôi tốt 3,67 ± 3,43 
Tỷ lệ phôi tốt (%) 35,86 ± 23,48 
Số phôi trữ 6,56 ± 3,32 
Tỷ lệ làm tổ (%) 55% (166/302) 
Ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang N5 là 57,45 ± 22,52%. 
Trong đó, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48% với số phôi trữ trung bình là 6,56 ± 3,32 phôi. 
Biểu đồ 1: Tỷ lệ βhCG dương tính, thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng dồn 
sau chuyển đơn phôi trữ N5. 
69%
57.2%
46.2%
0
20
40
60
80
100
βhCG Thai	lâm	sàng Thai	diễn	tiến
Biểu đồ 2: Tỷ lệ QKBT sau kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận và tỷ lệ đa thai 
sau chuyển đơn phôi trữ N5. 
Biểu đồ 2: Tỷ lệ QKBT sau kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng 
vận và tỷ lệ đa thai sau chuyển đơn phôi trữ N5. 
BÀN LUẬN 
Việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG trong việc kích thích trưởng thành noãn 
đã được nhiều nghiên cứu đánh giá là có hiệu quả trong việc phòng ngừa nguy cơ QKBT 
, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao [6,7]. GnRH đồng vận được sử dụng 12 giờ 
sau lần tiêm cuối cùng của GnRH đối vận. Nồng độ LH (Luteinizing Hormone) và FSH 
(Follicle Stimulating Hormone) lần lượt bắt đầu tăng 4 và 12 giờ sau khi sử dụng GnRH 
đồng vận. Mặc dù vậy, đỉnh LH của GnRH đồng vận khác với đỉnh LH trong chu kỳ tự 
nhiên. Đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên gồm có 3 pha, kéo dài trong 48 giờ trong khi đỉnh 
LH của GnRH đồng vận chỉ gồm 2 pha, kéo dài trong 24-36 giờ. Những giả thuyết ban 
đầu cho là với thời gian hoạt động ngắn của LH nội sinh có thể sẽ làm giảm chất lượng 
của noãn và sự phát triển của phôi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ noãn MII 
thu được, tỉ lệ thụ tinh, chất lượng phôi đều như nhau giữa 2 nhóm [3]. Tỷ lệ noãn trưởng 
thành trong nghiên cứu này 20,36 ± 7,53, tỷ lệ thụ tinh là 17,56 ± 6,73, tỷ lệ phôi tốt là 
35,86 ± 23,48. Nghiên cứu hiện tại của chúng tôi cho thấy sử dụng GnRH đồng vận giúp 
3.1%
1.4%
0
1
2
3
4
5
Đa	thai QKBT
khác với đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên. Đỉnh LH 
trong chu kỳ tự nhiên gồm có 3 pha, kéo dài trong 
48 giờ trong khi đỉnh LH của GnRH đồng vận chỉ 
gồm 2 pha, kéo dài trong 24-36 giờ. Những giả 
thuyết ban đầu cho là với thời gian hoạt động ngắn 
của LH nội sinh có thể sẽ làm giảm chất lượng của 
noãn và sự phát triển của phôi. Tuy nhiên nhiều 
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ noãn MII thu được, tỉ lệ thụ 
tinh, chất lượng phôi đều như nhau giữa 2 nhóm 
[3]. Tỷ lệ noãn trưởng thành trong nghiên cứu này 
20,36 ± 7,53, tỷ lệ thụ tinh là 17,56 ± 6,73, tỷ lệ 
phôi tốt là 35,86 ± 23,48. Nghiên cứu hiện tại của 
chúng tôi cho thấy sử dụng GnRH đồng vận giúp 
làm giảm nguy cơ QKBT ở nhóm bệnh nhân nguy 
cơ cao, tỷ lệ QKBT là 1,4% (4/290), tuy nhiên bốn 
trường hợp trên chỉ có biểu hiện lâm sàng của hội 
chứng QKBT mức độ nhẹ [4]. Đối với nhóm bệnh 
nhân nguy cơ cao, số lượng trứng chọc hút nhiều, 
việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG 
chỉ giúp phòng ngừa nguy cơ QKBT sớm. Việc lựa 
chọn TPTB và chuyển phôi trữ lạnh ở chu kỳ kế tiếp 
được cho là giải pháp tối ưu mặc dù về thực tế cho 
thấy giải pháp này có thể không thuận tiện cho 
bệnh nhân và góp phần làm tăng chi phí điều trị.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của các hệ 
môi trường và hệ thống nuôi cấy phôi, việc nuôi 
cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, tiến hành TPTB 
góp phần ngăn ngừa nguy cơ QKBT muộn do thai. 
Mặc dù còn nhiều tranh cãi về tính hiệu quả tính 
trên tỷ lệ trẻ sinh sống và tỷ lệ thai lâm sàng giữa 
chuyển phôi nang so với chuyên phôi phân chia 
[5]. Tuy nhiên, việc nuôi cấy phôi nang cũng giúp 
sàng lọc, lựa chọn phôi tiềm năng, tiết kiệm chi 
phí trữ lạnh phôi, giảm số phôi chuyển từ đó cải 
thiện tình trạng đa thai trong các chu kỳ điều trị 
TTTON. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xét 
những trường hợp chuyển đơn phôi N5 với tỷ lệ 
βhCG, tỷ lệ thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng 
dồn lần lượt là 69%, 57,2% và 46,2%. Tỷ lệ đa 
thai là 3,1% (9/290), chín trường hợp này là sinh 
đôi cùng trứng. Đồng tình với các tác giả khác, 
nghiên cứu của chúng tôi góp phần khẳng định về 
khả năng của GnRH đồng vận để kích thích trưởng 
thành noãn sau cùng kết hợp với việc nuôi cấy 
phôi đến giai đoạn phôi nang, TPTB và tiến hành 
chuyển đơn phôi giúp hạn chế hội chứng QKBT và 
giảm thiểu tình trạng đa thai sau chuyển phôi.
VŨ BẢO HÀ MINH, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, VƯƠNG ĐÌNH HOÀNG DŨNG
138
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
6. Kết luận
Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, 
trữ phôi toàn bộ và tiến hành chuyển đơn phôi giúp 
hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện kết quả điều 
trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp 
phòng ngừa hội chứng QKBT ở những chu kỳ có 
nguy cơ cao.
Tài liệu tham khảo
1. Criniti A, Thyer A and Soules M. Elective single blastocyst transfer 
reduces twin rates without compromising pregnancy rates. Fertility and 
Sterility 2005; 6:84: 1613-1619.
2. Fatemi H and Velasco J. Avoiding ovarian hyperstimulation syndrome 
with the use of gonadotropin-releasing hormone agonist trigger. Fertility 
and Sterility 2015; 4:103:870-873.
3. Humaidan P, Bungum L and Bungum M GnRH agonist (buserelin) 
or Hcg for ovulation induction in GnRH antagonist IVF/ICSI cycles: 
a prospective randomized study. Human Reproduction 2005; 5:20: 
1213-1220.
4. Humaidan P, Nelson S.M and Devroey P Ovarian hyperstimulation 
syndrome: review and classification criteria for reporting in clinical trials. 
Human Reproduction 2016; 9:31:1997-2004.
5. Martins W, Nastri C and Rienzi L Blastocyst versus cleavage-stage 
embryo transfer: systematic review and meta-analysis of reproductive 
outcomes. Ultrasound in Obstetrics and Gynecology 2017; 5:49:583-591.
6. Mascarenhas M and Balen A The high responder: a review of 
pathophysiology and outcomes during IVF treatment. Human Fertility 
2016; 3:20:155-167.
7. Steward R and Lan Lan Oocyte number as a predictor for ovarian 
hyperstimulation syndrome and live birth: an analysis of 256,381 in vitro 
fertilization cycles. Fertility and Sterility 2014; 4:101:967-973.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_thai_dien_tien_cong_don_sau_truong_thanh_noan_bang_g.pdf