Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng
Đặt vấn đề: Làm thế nào để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo
tính an toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng (QKBT)
luôn là một thách thức lớn đối với các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm
(TTTON) trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những trường
hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích thích buồng trứng, bên cạnh
tiềm năng chọc hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng lọc phôi
tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ quá kích buồng
trứng (QKBT). Do đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận
kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân
này đang là xu hướng chung của nhiều trung tâm TTTON.
Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi nang và
chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt được kích thích trưởng
thành noãn bằng GnRH đồng vận.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm
các chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, bệnh viện An
sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018.
Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận.
Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang có kích thước ≥ 12mm vào
ngày hCG được dùng 0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích
trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau diphereline.
Phôi được nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB).
Kết quả: Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Số trứng
chọc hút trung bình là 24,13±8,49, số phôi ngày 3 (N3) trung bình là 9,93±5,11.
Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang
ngày 5 (N5) và trữ phôi toàn bộ (TPTB). Tỷ lệ lên phôi N5 là 57,45±22,52. Tỷ
lệ làm tổ là 55%, tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn là 46,2%, tỷ lệ đa thai là 3,1%.
Kết luận: Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ
và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện
kết quả điều trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp phòng
ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những chu kỳ có nguy cơ cao
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả thai diễn tiến cộng dồn sau trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 135 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 135 - 138, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Vũ Bảo Hà Minh(1), Nguyễn Huyền Minh Thụy(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(2), Vương Đình Hoàng Dũng(1) (1) Bệnh viện An Sinh, (2) Bệnh viện Mỹ Đức KẾT QUẢ THAI DIỄN TIẾN CỘNG DỒN SAU TRƯỞNG THÀNH NOÃN BẰNG GnRH ĐỒNG VẬN Ở NHÓM BỆNH NHÂN ĐÁP ỨNG TỐT VỚI KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Vũ Bảo Hà Minh, email: Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Tóm tắt Đặt vấn đề: Làm thế nào để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo tính an toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng (QKBT) luôn là một thách thức lớn đối với các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những trường hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích thích buồng trứng, bên cạnh tiềm năng chọc hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng lọc phôi tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ quá kích buồng trứng (QKBT). Do đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân này đang là xu hướng chung của nhiều trung tâm TTTON. Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt được kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm các chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, bệnh viện An sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018. Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận. Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang có kích thước ≥ 12mm vào ngày hCG được dùng 0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau diphereline. Phôi được nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB). Kết quả: Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Số trứng chọc hút trung bình là 24,13±8,49, số phôi ngày 3 (N3) trung bình là 9,93±5,11. Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang ngày 5 (N5) và trữ phôi toàn bộ (TPTB). Tỷ lệ lên phôi N5 là 57,45±22,52. Tỷ lệ làm tổ là 55%, tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn là 46,2%, tỷ lệ đa thai là 3,1%. Kết luận: Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện kết quả điều trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp phòng ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những chu kỳ có nguy cơ cao. VŨ BẢO HÀ MINH, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, VƯƠNG ĐÌNH HOÀNG DŨNG 136 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H 1. Đặt vấn đề Hội chứng quá kích buồng trứng (QKBT) là một trong những biến chứng thường gặp và nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân cũng như ảnh hưởng đến kết quả điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) [2]. Hội chứng QKBT được phân ra làm hai loại là QKBT sớm do quá trình kích thích buồng trứng (KTBT) và QKBT muộn do thai [4]. Cho đến hiện tại, có nhiều biện pháp được áp dụng để ngăn ngừa hội chứng QKBT, tuy nhiên chưa có biện pháp nào giúp ngăn chặn hoàn toàn biến chứng này. Việc sử dụng phác đồ GnRH đối vận là biện pháp giúp phòng ngừa nguy cơ QKBT. Ưu điểm của phương pháp này là có thể sử dụng GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn thay cho hCG do tác dụng ức chế cạnh tranh của phác đồ này vẫn cho phép GnRH đồng vận tác động lên tuyến yên gây ra đỉnh LH (Luteinizing Hormone) và FSH (Follicle Stimulating Hormone). Tuy nhiên sử dụng GnRH đồng vận không thể giúp dự phòng nguy cơ QKBT muộn do thai. Việc phát triển hệ thống nuôi cấy cũng như là hệ môi trường nuôi phôi giúp nuôi cấy phôi dài ngày hơn. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, việc nuôi phôi đến giai đoạn phôi nang sau đó tiến hành chuyển đơn phôi cho tỷ lệ đa thai thấp hơn ý nghĩa khi so sánh với chuyển phôi phân chia [1]. Làm thế nào để tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo tính an toàn, cụ thể là giảm tỷ lệ đa thai và quá kích buồng trứng (QKBT) luôn là một thách thức lớn đối với các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đặc biệt là những trường hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ kích thích buồng trứng (KTBT), bên cạnh tiềm năng chọc hút được nhiều trứng, có cơ hội nuôi cấy để sàng lọc phôi tiềm năng, bệnh nhân cũng phải đối mặt với nguy cơ quá kích buồng trứng (QKBT) [7]. Do đó, kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận kết hợp với nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân này đang là xu hướng chung của nhiều trung tâm TTTON [2]. 2. Mục tiêu nghiên cứu Nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi cấy phôi nang và chuyển đơn phôi ở nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt được kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận. 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm các chu kỳ thực hiện TTTON, chuyển phôi trữ tại IVFAS, bệnh viện An sinh và IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018. Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 35 tuổi) được KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận. Những bệnh nhân có nhiều hơn 15 nang có kích thước ≥ 12mm vào ngày hCG được dùng 0,2mg Diphereline thay cho hCG để kích thích trưởng thành noãn. Chọc hút noãn tiến hành 36 tiếng sau diphereline. Phôi được nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ (TPTB). 4. Kết quả Tổng cộng có 290 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Tất cả các chu kỳ đều được chỉ định nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang ngày 5 (N5) và TPTB. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân được thể hiện trong bảng 1. Ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phôi phát triển đến Đặc điểm N = 290 Tuổi vợ (năm) 30,29 ± 3,98 BMI 21,20 ± 2,46 AMH 7,42 ± 3,93 AFC 21,75 ± 8,61 Chỉ định TTTON PCOS 67 (23,1%) Rối loạn phóng noãn 28 (9,7%) Tai vòi 47 (16,2%) Do chồng 75 (25,9%) Chưa rõ nguyên nhân 33 (11,4%) Khác 40 (13,8%) Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân Đặc điểm N = 290 Thời gian KTBT (ngày)_ 9,30 ± 1,45 Liều đầu FSH sử dụng (UI/l) 217,36 ± 51,82 Tổng liều FSH sử dụng (UI/l) 2297,29 ± 690,6 Số nang noãn > 12mm 22,92 ± 5,07 Nồng độ Estradiol 16032,31 ± 15334,76 Số chu kỳ chọc hút (%) 1 2 ≥ 3 223 (76,9%) 51 (17,6%) 16 (5,5%) Bảng 2: Đặc điểm chu kỳ điều trị TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 137 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 giai đoạn phôi nang N5 là 57,45 ± 22,52%. Trong đó, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48% với số phôi trữ trung bình là 6,56 ± 3,32 phôi. 5. Bàn luận Việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG trong việc kích thích trưởng thành noãn đã được nhiều nghiên cứu đánh giá là có hiệu quả trong việc phòng ngừa nguy cơ QKBT , đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao [6,7]. GnRH đồng vận được sử dụng 12 giờ sau lần tiêm cuối cùng của GnRH đối vận. Nồng độ LH (Luteinizing Hormone) và FSH (Follicle Stimulating Hormone) lần lượt bắt đầu tăng 4 và 12 giờ sau khi sử dụng GnRH đồng vận. Mặc dù vậy, đỉnh LH của GnRH đồng vận TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 135 - 138, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Kết quả N = 290 Số noãn chọc hút 24,13 ± 8,49 Số noãn trưởng thành 20,36 ± 7,53 Số noãn thụ tinh 17,56 ± 6,73 Số phôi N5 9,93 ± 5,11 Tỷ lệ tạo phôi N5 (%) 57,45 ± 22,52 Số phôi tốt 3,67 ± 3,43 Tỷ lệ phôi tốt (%) 35,86 ± 23,48 Số phôi trữ 6,56 ± 3,32 Tỷ lệ làm tổ (%) 55% (166/302) Bảng 3: Kết quả điều trị Biểu đồ 1: Tỷ lệ βhCG dương tính, thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng dồn sau chuyển đơn phôi trữ N5. Kết quả N = 290 Số noãn chọc hút 24,13 ± 8,49 Số noãn trưởng thành 20,36 ± 7,53 Số noãn thụ tinh 17,56 ± 6,73 Số phôi N5 9,93 ± 5,11 Tỷ lệ tạo phôi N5 (%) 57,45 ± 22,52 Số phôi tốt 3,67 ± 3,43 Tỷ lệ phôi tốt (%) 35,86 ± 23,48 Số phôi trữ 6,56 ± 3,32 Tỷ lệ làm tổ (%) 55% (166/302) Ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang N5 là 57,45 ± 22,52%. Trong đó, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48% với số phôi trữ trung bình là 6,56 ± 3,32 phôi. Biểu đồ 1: Tỷ lệ βhCG dương tính, thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng dồn sau chuyển đơn phôi trữ N5. 69% 57.2% 46.2% 0 20 40 60 80 100 βhCG Thai lâm sàng Thai diễn tiến Biểu đồ 2: Tỷ lệ QKBT sau kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận và tỷ lệ đa thai sau chuyển đơn phôi trữ N5. Biểu đồ 2: Tỷ lệ QKBT sau kích thích trưởng thành noãn bằng GnRH đồng vận và tỷ lệ đa thai sau chuyển đơn phôi trữ N5. BÀN LUẬN Việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG trong việc kích thích trưởng thành noãn đã được nhiều nghiên cứu đánh giá là có hiệu quả trong việc phòng ngừa nguy cơ QKBT , đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao [6,7]. GnRH đồng vận được sử dụng 12 giờ sau lần tiêm cuối cùng của GnRH đối vận. Nồng độ LH (Luteinizing Hormone) và FSH (Follicle Stimulating Hormone) lần lượt bắt đầu tăng 4 và 12 giờ sau khi sử dụng GnRH đồng vận. Mặc dù vậy, đỉnh LH của GnRH đồng vận khác với đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên. Đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên gồm có 3 pha, kéo dài trong 48 giờ trong khi đỉnh LH của GnRH đồng vận chỉ gồm 2 pha, kéo dài trong 24-36 giờ. Những giả thuyết ban đầu cho là với thời gian hoạt động ngắn của LH nội sinh có thể sẽ làm giảm chất lượng của noãn và sự phát triển của phôi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ noãn MII thu được, tỉ lệ thụ tinh, chất lượng phôi đều như nhau giữa 2 nhóm [3]. Tỷ lệ noãn trưởng thành trong nghiên cứu này 20,36 ± 7,53, tỷ lệ thụ tinh là 17,56 ± 6,73, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48. Nghiên cứu hiện tại của chúng tôi cho thấy sử dụng GnRH đồng vận giúp 3.1% 1.4% 0 1 2 3 4 5 Đa thai QKBT khác với đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên. Đỉnh LH trong chu kỳ tự nhiên gồm có 3 pha, kéo dài trong 48 giờ trong khi đỉnh LH của GnRH đồng vận chỉ gồm 2 pha, kéo dài trong 24-36 giờ. Những giả thuyết ban đầu cho là với thời gian hoạt động ngắn của LH nội sinh có thể sẽ làm giảm chất lượng của noãn và sự phát triển của phôi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ noãn MII thu được, tỉ lệ thụ tinh, chất lượng phôi đều như nhau giữa 2 nhóm [3]. Tỷ lệ noãn trưởng thành trong nghiên cứu này 20,36 ± 7,53, tỷ lệ thụ tinh là 17,56 ± 6,73, tỷ lệ phôi tốt là 35,86 ± 23,48. Nghiên cứu hiện tại của chúng tôi cho thấy sử dụng GnRH đồng vận giúp làm giảm nguy cơ QKBT ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, tỷ lệ QKBT là 1,4% (4/290), tuy nhiên bốn trường hợp trên chỉ có biểu hiện lâm sàng của hội chứng QKBT mức độ nhẹ [4]. Đối với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, số lượng trứng chọc hút nhiều, việc sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG chỉ giúp phòng ngừa nguy cơ QKBT sớm. Việc lựa chọn TPTB và chuyển phôi trữ lạnh ở chu kỳ kế tiếp được cho là giải pháp tối ưu mặc dù về thực tế cho thấy giải pháp này có thể không thuận tiện cho bệnh nhân và góp phần làm tăng chi phí điều trị. Hiện nay, cùng với sự phát triển của các hệ môi trường và hệ thống nuôi cấy phôi, việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, tiến hành TPTB góp phần ngăn ngừa nguy cơ QKBT muộn do thai. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về tính hiệu quả tính trên tỷ lệ trẻ sinh sống và tỷ lệ thai lâm sàng giữa chuyển phôi nang so với chuyên phôi phân chia [5]. Tuy nhiên, việc nuôi cấy phôi nang cũng giúp sàng lọc, lựa chọn phôi tiềm năng, tiết kiệm chi phí trữ lạnh phôi, giảm số phôi chuyển từ đó cải thiện tình trạng đa thai trong các chu kỳ điều trị TTTON. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xét những trường hợp chuyển đơn phôi N5 với tỷ lệ βhCG, tỷ lệ thai lâm sàng và thai diễn tiến cộng dồn lần lượt là 69%, 57,2% và 46,2%. Tỷ lệ đa thai là 3,1% (9/290), chín trường hợp này là sinh đôi cùng trứng. Đồng tình với các tác giả khác, nghiên cứu của chúng tôi góp phần khẳng định về khả năng của GnRH đồng vận để kích thích trưởng thành noãn sau cùng kết hợp với việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, TPTB và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế hội chứng QKBT và giảm thiểu tình trạng đa thai sau chuyển phôi. VŨ BẢO HÀ MINH, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, VƯƠNG ĐÌNH HOÀNG DŨNG 138 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H 6. Kết luận Việc nuôi cấy phôi đến giai đoạn phôi nang, trữ phôi toàn bộ và tiến hành chuyển đơn phôi giúp hạn chế tình trạng đa thai, cải thiện kết quả điều trị. Sử dụng GnRH đồng vận thay thế cho hCG giúp phòng ngừa hội chứng QKBT ở những chu kỳ có nguy cơ cao. Tài liệu tham khảo 1. Criniti A, Thyer A and Soules M. Elective single blastocyst transfer reduces twin rates without compromising pregnancy rates. Fertility and Sterility 2005; 6:84: 1613-1619. 2. Fatemi H and Velasco J. Avoiding ovarian hyperstimulation syndrome with the use of gonadotropin-releasing hormone agonist trigger. Fertility and Sterility 2015; 4:103:870-873. 3. Humaidan P, Bungum L and Bungum M GnRH agonist (buserelin) or Hcg for ovulation induction in GnRH antagonist IVF/ICSI cycles: a prospective randomized study. Human Reproduction 2005; 5:20: 1213-1220. 4. Humaidan P, Nelson S.M and Devroey P Ovarian hyperstimulation syndrome: review and classification criteria for reporting in clinical trials. Human Reproduction 2016; 9:31:1997-2004. 5. Martins W, Nastri C and Rienzi L Blastocyst versus cleavage-stage embryo transfer: systematic review and meta-analysis of reproductive outcomes. Ultrasound in Obstetrics and Gynecology 2017; 5:49:583-591. 6. Mascarenhas M and Balen A The high responder: a review of pathophysiology and outcomes during IVF treatment. Human Fertility 2016; 3:20:155-167. 7. Steward R and Lan Lan Oocyte number as a predictor for ovarian hyperstimulation syndrome and live birth: an analysis of 256,381 in vitro fertilization cycles. Fertility and Sterility 2014; 4:101:967-973.
File đính kèm:
ket_qua_thai_dien_tien_cong_don_sau_truong_thanh_noan_bang_g.pdf

