Kết quả tạo thông động - tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2016-2019

Nhận xét kết quả sớm tạo thông động-tĩnh

mạch để chạy thận nhân tạo tại bệnh viện Hữu

Nghị Việt Đức. Từ 1/2016 đến 3/2019 có 51 bệnh

nhân (BN) đạt yêu cầu nghiên cứu. Tuổi trung

bình 56±13 tuổi (22-83), nam giới chiếm 55% (28

BN). Bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo cấp cứu

trước mổ chiếm 74,5%. Các bệnh phối hợp: Tăng

huyết áp chiếm 33,3%, đái tháo đường 7,8% và

một số bệnh khác như: ung thư đại tràng, phổi

mạn tính Tất cả BN trước mổ đều được siêu âm

động tĩnh mạch chi trên, một số được vẽ bản đồ

để đánh giá vị trí làm cầu tay. Phân bố vị trí làm

cầu tay: Vùng cổ tay 49%; khuỷu tay 45,1% và

cẳng tay 5,9%. Một số kỹ thuật đặc biệt: Nông

hóa tĩnh mạch cánh tay sâu 5,6%, chuyển vị tĩnh

mạch 2%. Kỹ thuật mổ: Nối tận-bên chiếm 98%

và bên-bên 2%. Sau mổ: Thổi rõ 90,2%, thổi kém

9,2%, kiểm tra siêu âm 100% cầu nối thông;

không có BN chảy máu phải mổ lại, nhiễm trùng

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả tạo thông động - tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2016-2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả tạo thông động - tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2016-2019

Kết quả tạo thông động - tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2016-2019
KẾT QUẢ TẠO THÔNG ĐỘNG – TĨNH MẠCH ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 13 
KẾT QUẢ TẠO THÔNG ĐỘNG - TĨNH MẠCH ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO 
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2016-2019 
Sa Minh Dương*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT 
Nhận xét kết quả sớm tạo thông động-tĩnh 
mạch để chạy thận nhân tạo tại bệnh viện Hữu 
Nghị Việt Đức. Từ 1/2016 đến 3/2019 có 51 bệnh 
nhân (BN) đạt yêu cầu nghiên cứu. Tuổi trung 
bình 56±13 tuổi (22-83), nam giới chiếm 55% (28 
BN). Bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo cấp cứu 
trước mổ chiếm 74,5%. Các bệnh phối hợp: Tăng 
huyết áp chiếm 33,3%, đái tháo đường 7,8% và 
một số bệnh khác như: ung thư đại tràng, phổi 
mạn tínhTất cả BN trước mổ đều được siêu âm 
động tĩnh mạch chi trên, một số được vẽ bản đồ 
để đánh giá vị trí làm cầu tay. Phân bố vị trí làm 
cầu tay: Vùng cổ tay 49%; khuỷu tay 45,1% và 
cẳng tay 5,9%. Một số kỹ thuật đặc biệt: Nông 
hóa tĩnh mạch cánh tay sâu 5,6%, chuyển vị tĩnh 
mạch 2%. Kỹ thuật mổ: Nối tận-bên chiếm 98% 
và bên-bên 2%. Sau mổ: Thổi rõ 90,2%, thổi kém 
9,2%, kiểm tra siêu âm 100% cầu nối thông; 
không có BN chảy máu phải mổ lại, nhiễm trùng. 
Từ khóa: Tạo thông động-tĩnh mạch, cầu 
tay, suy thận mạn. 
SUMMARY 
EARLY FOLLOW-UP RESULTS OF 
ARTERIOVENOUS FISTULAE CREATED FOR 
HEMODIALYSIS AT VIET DUC UNIVERSITY 
HOSPITAL PERIOD 2016-2019 
Analysis early results of arterio-venous 
fistula created for hemodialysis - at Viet duc 
university hospital. From 01/2016 to 3/2019, 
there were 51 patients including in study. Mean 
age was 56±13 years (22-83). Male was 
55%(28). 74,5% of the patients needed 
emergency hemodialysis before operation. 
Comorbidities were: hypertension (33,3%), 
diabetes mellitus (7,8%) and other like: colon 
cancer...For all the patients before surgery we 
did ultrasound vessel and haft of them a 
ultrasound vessel mapping to decide fistula 
location. Distribution of fistula by location was: 
49% at the wrist; 45,1% at the elbow and 5,9% 
at the arm. There were some special techniques: 
make deep brachial vein became superficial 
5,6%; vein translocation 2%. The techniques of 
anastomosis between artery and vein were: end 
to side (98%), side to side (2%). Post operative 
Results: Clearly thrill 90,2%, no serious 
bleeding and no infection. * 
Key words: Arterio-venous fistula, 
hemodialysis, chronic kidney failure. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật tạo thông động mạch-tĩnh mạch 
(TĐTM) là phẫu thuật để tạo ra sự thông thương 
trực tiếp từ động mạch (ĐM) sang tĩnh mạch (TM), 
có thể tạo TĐTM bằng vật liệu tổng hợp hay tạo 
TĐTM tự thân. Theo điều tra cắt ngang ở Trung 
Quốc năm 2012 tỷ lệ mắc bệnh suy thận mạn (STM) 
ở Trung Quốc là 10,8% (119,5 triệu người) trong đó 
tỷ lệ STM là 1,7%[1]. Tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 
năm 2008 đến 2010 số bệnh nhân (BN) tạo TĐTM 
là 2360 trong đó thành công 88,35%, mổ lại là 
11,65%[2]. Đã có nhiều nghiên cứu về kích thước 
mạch và kỹ thuật, đưa ra các lời khuyến cáo về kích 
*
BV Đa khoa Sơn La 
** BV HN Việt Đức, Trường ĐH Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS.Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/05/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 25 - THÁNG 5/2019 
 14 
thước cho tỷ lệ thành công cao nhất. Vấn đề thất bại 
của tạo TĐTM lần đầu thường do tuổi cao, ĐTĐ, 
giới nữ, tiền sử bệnh mạch máu [3]. Đây là vấn đề 
có ý nghĩa quan trọng, thành công phẫu thuật đem 
lại chất lượng cuộc sống tốt cho BN vốn STM cần 
lọc máu. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Số liệu thu 
thập từ bệnh án của các BN STM giai đoạn cuối 
nhập viện, được mổ tạo TĐTM tại bệnh viện Hữu 
Nghị Việt Đức từ tháng 01/2016 - 03/2019. Các 
yếu tố được thu thập liên quan đến BN như: giới, 
tuổi, tình trạng trước mổ, bệnh lý đi kèm, vị trí 
mổ, chất lượng mạch, kỹ thuật mổ, kích thước 
mạch trên siêu âm trước mổ và sau mổ, có chảy 
máu tại vị trí mổ. 
III. KẾT QUẢ 
Có 51 bệnh nhân thỏa mãn yêu cầu. Tuổi 
trung bình: 56±13 tuổi (22-83 tuổi), chủ yếu BN 
nằm trong tuổi từ 51-70. Nam giới chiếm 55%.
0
5
10
15
20
25
30
35
16-50 51-70 >70
Biểu đồ 3.1: Phân bố tuổi BN nghiên cứu 
Các bệnh lý kèm theo STM gồm: tăng huyết áp 33,3%, ĐTĐ 7,8%, bệnh tim mạch 43,1% và 
một số bệnh khác như ung thư đại tràng. 
Bảng 3.1: Tình trạng bệnh nhân trước phẫu thuật (N=51) 
Tình trạng bệnh nhân n Tỷ lệ % 
Lọc máu cấp cứu trước, chưa có TĐTM 38 74,5 
Chưa lọc máu 0 0 
Làm lại thông động-tĩnh mạch (đã mổ trước) 13* 25,5 
Tổng cộng 51 100 
Tất cả BN đều được siêu âm trước mổ đánh giá tình trạng mạch chi trên hai bên. Có 21 (41,2%) 
được lập sơ đồ mạch máu chi trên dựa trên siêu âm trước mổ. 13* BN đã mổ làm cầu nối tại BV Việt 
Đức hoặc tại cơ sở y tế khác. 
KẾT QUẢ TẠO THÔNG ĐỘNG – TĨNH MẠCH ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 15 
Bảng 3.2: Kích thước trung bình mạch máu theo siêu âm được chọn phẫu thuật (N=51) 
Mạch máu Đường kính (mm) 
Động mạch 3,7 ± 1,5 
Tĩnh mạch 2,6 ± 0,6 
Bảng 3.3: Vị trí phẫu thuật tạo thông động-tĩnh mạch (N=51) 
Vị Trí làm TĐTM n Tỷ lệ % 
Cổ tay 25 49,0 
Cẳng tay 3 5,9 
Khuỷu tay 23 45,1 
Nông hóa TM 10 19,6 Đặc biệt 
Chuyển vị TM 1 2,0 
Vị trí tạo TĐTM tiên ưu tiên trên tay không thuận và theo thứ tự: Cổ tay (ĐM quay và TM đầu), 
cổ tay (ĐM trụ và TM nền), khuỷu tay. Số BN làm TĐTM tay trái/phải là 34/17 (66,7% và 33,3%). 
Bảng 3.4: Kỹ thuật nối tạo thông động-tĩnh mạch (N=51) 
Kỹ thuật nối n Tỷ lệ % 
Bên - bên 1 2,0 
Tận - bên 50 98,0 
Tổng 51 100 
Đa số BN miệng nối ĐM-TM là tận bên, chỉ có 1 BN thực hiện miệng nối ĐM-TM bên-bên. 48 
(94,1%) phẫu thuật tiến hành dưới gây tê tại chỗ 
Bảng 3.5: Kết quả sau mổ tạo thông động-tĩnh mạch (N=51) 
Đặc điểm n Tỷ lệ % 
Tiếng thổi và rung miu rõ tại chỗ cầu nối 42 82,4 
Thấm máu tại vết mổ 22 43,1 
Siêu âm kiểm tra sau mổ cầu nối thông tốt 51 100 
Vết mổ thấm máu gặp ở 22 BN (43,1%) đều được điều trị nội khoa bảo tồn thành công. 
V. BÀN LUẬN 
BN trong nghiên cứu có tuổi, giới khá tương đồng với các nghiên cứu khác trong nước và nước 
ngoài trong đó về giới nam cao hơn nữ (28/23) (biểu đồ 1). Và tuổi thời điểm phẫu thuật trung bình là 
khá đồng đều >50 tuổi. Tuổi cao kèm theo nhiều bệnh mạn tính làm tăng nguy cơ phẫu thuật, thất bại 
do chất lượng thành ĐM và TM kém. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 25 - THÁNG 5/2019 
 16 
Bảng 4.1: So sánh tuổi và giới của bệnh nhân với các tác giả khác 
Tác giả Năm công bố Cỡ mẫu Tuổi Giới (% Nam/nữ) 
Dageforde LA[4] 2015 158 54 ± 14 45/55 
Saucy F[5] 2009 58 63 ± 14,3 69/31 
Sung Min Kim[6] 2016 469 55,7 ± 13,2 62/38 
Chúng tôi 2019 51 56 ± 13 28/23 
Chọn lựa vị trí làm TĐTM trước mổ có ý 
nghĩa rất quan trọng. Theo Robbin trước phẫu 
thuật đường kính động mạch >2mm, tĩnh 
mạch >2,5mm và miệng nối trong phẫu thuật 
>4mm tỷ lệ thành công cao hơn hẳn [7]. Chọn 
các TM nằm nông (<6mm), TM thẳng trên 1 đoạn 
dài (>6cm) và nằm ở trước hoặc bên thuận tiện 
cho chọc kim. Theo Đặng Ngọc Hùng miệng nối 
8mm cho những trường hợp mạch máu có đường 
kính nhỏ và 6mm cho những trường hợp có 
đường kính mạch máu lớn và miệng nối thích hợp 
trong nối thông động-tĩnh mạch ở cổ tay, đáp ứng 
được yêu cầu về lưu lượng cho CTNT chu kỳ[8]. 
Theo Dageforde LA các thông động-tĩnh mạch có 
đường kính TM tối thiểu <2,7 mm có nguy cơ 
thất bại trưởng thành cao hơn và độ bền ngắn hơn 
so với các TM có đường kính ≥3,3 mm[4]. 
Đường kính ĐM và TM của chúng tôi là 3,7±1,5 
mm và 2,6±0,6 mm tương đồng với nhiều khuyến 
cáo (bảng 3.2), tuy nhiên kích thước trung bình 
cao hơn hẳn do vị trí khuỷu tay mạch có kích 
thước lớn hơn cổ tay (số BN làm ở khuỷu là 
45,1%) (bảng 3.3), nguy cơ kích thước TM lớn 
làm lưu lượng máu cao khi trưởng thành cũng 
dẫn đến tăng lưu lượng máu về tim, tăng áp ĐM 
phổi và lưu lượng máu toàn thân bị suy yếu ở 
những BN bị suy giảm chức năng tim[9],[10]. 
Chúng tôi không đủ dữ liệu về kích thước miệng 
nối do bệnh án thiếu ghi chép. 
Cần khám lâm sàng, lập bản đồ hệ thống ĐM 
và TM 2 tay dựa vào trên siêu âm. Đánh giá sự 
thông thương của hệ động mạch quay-trụ bằng Test 
Allen, đo huyết áp 2 tay, độ nảy, mức độ xơ vữa 
TM khám độ nổi rõ, nổi vừa, kiểm tra độ giãn nở. 
Tuy nhiên do là nghiên cứu hồi cứu nên dữ liệu 
khám ĐM và TM không được ghi chép đầy đủ trong 
bệnh án. Ngoài ra các BN có bệnh kèm theo đặc biệt 
là suy tim ở BN nghi ngờ cần làm thêm siêu âm 
Dopple tim, tình trạng đông máu, số lượng tiểu 
cầuTheo Sung Min Kim giới nữ và có đái tháo 
đường là yếu tố liên quan đến thất bại ở mổ TĐTM 
lần đầu (P = 0,001 và P = 0,006)[6]. 
Về thời điểm mổ tạo TĐTM đa số các tác 
giả đều thống nhất nên mổ làm từ 6 tháng đến 1 
năm trước lọc máu lần đầu (từ giai đoạn IIIb) để 
lỗ thông phát triển tốt với BN có ĐTĐ thì cần làm 
sớm hơn, ở đây thực tế BN đa số là chạy thận cấp 
cứu trước mổ chiếm khá cao (74,5%) đến viện 
khi creatinin tăng rất cao nên việc tiêm truyền vào 
tĩnh mạch nông làm hỏng mạch máu khiến lựa 
chọn khó khăn TM để mổ. Số BN bị hỏng TĐTM 
mổ lại chiếm 25,5%, việc mổ lại lựa chọn mạch 
máu phù hợp càng khó khăn và phải áp dụng 
thêm các kỹ thuật đặc biệt gây tốn kém, thời gian 
chờ sử dụng TĐTM và chất lượng cuộc sống BN. 
Đánh giá trên siêu âm và vẽ sơ đồ mạch 
máu chi trên rất có giá trị gợi ý hỗ trợ cho chọn 
lựa mạch máu tốt để làm TĐTM và có sự chuẩn 
bị trong trường hợp khó chọn mạch để có phương 
án khác và tư vấn cho BN. Ở đây tất cả BN đều 
được siêu âm trước mổ tuy nhiên chỉ có 21 
(41,2%) trường hợp được lập sơ đồ mạch máu tuy 
nhiên các năm trở lại đây đều được lập sơ đồ 
mạch máu trước mổ. Theo Wong CS khám lâm 
KẾT QUẢ TẠO THÔNG ĐỘNG – TĨNH MẠCH ĐỂ CHẠY THẬN NHÂN TẠO TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 17 
sàng kết hợp lập bản đồ mạch trước mổ dựa vào 
siêu âm cho kết quả tích cực hơn (174 thành 
công/214 kết hợp siêu âm so với 130 thành 
công/188 chỉ khám lâm sàng)[11]. 
Chọn vị trí ưu tiên từ xa đến gần để tránh 
các biến chứng và nếu TĐTM hỏng còn nhiều lựa 
chọn vị trí khác. Bệnh viện Việt Đức là tuyến 
cuối nên chúng tôi nhận nhiều các trường hợp đã 
làm cầu nối ĐT-TM ở các cơ sở khác thất bại. Do 
vậy tỷ lệ BN làm lại TĐTM cao (25,5%), cần làm 
lại nhiều nên vị trí làm tại khuỷu tay khá cao: 
23(45,1%) ca, các lần mổ đầu lựa chọn vị trí cổ 
tay 25 ca: (49,0%) còn 3 ca (5,9%) ở cẳng tay do 
TĐTM hỏng do tắc và phình nên thắt, cắt bỏ đoạn 
cũ và được nối lại luôn ngay trên cẳng tay do 
đoạn khả dụng còn đủ và TM còn ở nông 
(<6mm). 
Chỉ chọn tay thuận khi tay không thuận 
không đủ khả năng làm hoặc đã mổ trước đó. Ở 
đây số BN tay trái/phải là 34/17 tỷ lệ tương ứng 
66,7% và 33,3% vì số TĐTM bị hỏng phải làm 
lại nên tỷ lệ phẫu thuật trên tay thuận cao. 
Trong các kỹ thuật mổ có một số kỹ thuật 
đặc biệt (bảng 3): 
+ Nông hóa TM: Số BN được làm tại vị trí 
khuỷu do TM nền và đầu hẹp nhỏ không đủ khả 
năng làm nên sử dụng TM cánh tay ở sâu nên 
được làm nông hóa TM là 10 ca (19,6%). 
+ Chuyển vị TM: Có 1 ca hỏng TĐTM tay 
trái chuyển sang cổ tay phải được làm bằng ĐM 
trụ và TM nền được chuyển vị TM (2,0%). 
Kỹ thuật nối (bảng 3.4): Tăng áp lực tĩnh 
mạch bàn tay xuất hiện khá thường xuyên nếu 
miệng nối được thực hiện bởi kỹ thuật bên-bên nên 
đa số kỹ thuật khâu là tận-bên chiếm 98,0% và có 1 
BN là bên bên (2,0%). Theo Moini kỹ thuật nối 
bên-bên với vị trí khuỷu tay kèm phá van TM 
quanh đó khi các TĐTM trước đó đã tắc hỏng cho 
kết quả 82% còn tốt sau 1 năm, biến chứng tăng áp 
lực TM và thiếu máu chi là hiếm[12] ở đây kỹ 
thuật còn mới chưa được sử dụng. 
Phương pháp vô cảm 
Tùy vào vị trí, thời gian mổ kéo dài và 
đường mổ mà có lựa chọn vô cảm cho phù hợp, ở 
đây đa số chọn tê tại chỗ (94,1%) để hạn chế 
lượng thuốc vào do thận đã mất chức năng thải, 
và có 3 BN (5,9%) thực hiện dưới tê đám rối thần 
kinh cánh tay do phẫu thuật lại, khó, đường mổ 
rộng, thời gian mổ kéo dài. Tuy nhiên xu hướng 
trên thế giới hiện nay là cần thực hiện phẫu thuật 
này dưới gây tê đám rối thần kinh vì nhiều ưu 
điểm: hiệu quả vô cảm tốt, có thể mở rộng đường 
mổ nếu cần, không làm biến đổi giải phẫu tại chỗ 
(phù nề do thuốc gây tê, làm khó cho phẫu tích), 
và thuốc gây tê đám rối có tác dụng làm giãn ĐM 
và TM ngoại vi. 
Kết quả sau mổ (bảng 3.5) 
Sau mổ được thăm khám lâm sàng và đánh 
giá bằng siêu âm tại chỗ. Ở đây số ca thổi rõ ngay 
sau mổ là 42/51 chiếm 82,4% còn lại là thổi kém 
nguyên nhân thường BN có thành cả ĐM và TM 
chất lượng kém. Siêu âm sau mổ kiểm tra hệ 
thống là cần thiết, để sớm phát hiện các biến 
chứng hẹp tắc cầu nối, huyết khối. Nếu có cần 
can thiệp lại sớm (lấy huyết khối, nong miệng 
nối, mổ lại khi do lỗi kỹ thuật..). Chúng tôi không 
có BN nào có biến chứng này, chứng tỏ kỹ thuật 
làm TĐTM tại BV Việt Đức là tốt. Do suy thận, 
dùng Heparin nên có tỷ lệ nhất định (43,1%) máu 
thấm băng tại vết mổ, nhưng chỉ cần điều trị băng 
ép, điều chỉnh đông máu. Không BN nào phải mổ 
lại (bảng 3.5). 
Một số vấn đề khác 
Đường mổ vừa phải (3-5cm), bóc tách 
mạch máu nhẹ nhàng, tránh gây tổn thương thành 
mạch (vốn đã không tốt do quá trình bệnh mạn 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 25 - THÁNG 5/2019 
 18 
tính). Bóc lớp giao cảm quanh ĐM để tránh co 
thắtSử dụng huyết thanh Natri Clorua 9% pha 
Heparin trong mổ tưới rửa các mạch máu trong 
quá trình làm miệng nối. Nên dùng kính phóng 
đại, kim chỉ mạch máu 7/0, 8/0, dụng cụ không 
chấn thương...là những yếu tố quan trọng ảnh 
hưởng tới kết quả sớm và lâu dài. 
V. KẾT LUẬN 
Nghiên cứu 51 BN làm thông động-tĩnh 
mạch trong suy thận mạn tại Bệnh viện HN Việt 
Đức cho kết quả sớm tốt, tỷ lệ tai biến, biến 
chứng thấp. Việc lựa chọn vị trí tạo TĐTM có ý 
nghĩa quan trọng làm tăng khả năng thành công 
của phẫu thuật, cũng như lưu ý tới các đánh giá 
trước mổ, kỹ thuật trong mổ, theo dõi sát sau mổ 
(lâm sàng, siêu âm)..là cần thiết. Trong tương lai 
sẽ cần tiếp tục nghiên cứu hiệu quả thực hiện 
phẫu thuật dưới gây tê vùng và đánh giá kết quả 
lâu dài nhóm bệnh nhân này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Zhang Luxia, Wang Fang and Wang Li 
(2012). Prevalanve of chronic kidney disease in 
china: A cross-sectional survey. The Lancet, 379 
(9818), 815-822. 
2. Thái Minh Sâm, Dương Quang Vũ và Châu 
Quý Thuận (2011). Phẫu thuật tạo dò động tĩnh 
mạch để chạy thận nhân tạo. Hội Nghị Khoa Học Kỹ 
Thuật Bệnh viện Chợ Rẫy, 15 (4), 561-565. 
3. Michelle L. Robbin, Tom Greene, Alfred 
K. Cheung el at (2016). Arteriovenous Fistula 
Development in the First 6 Weeks after Creation. 
Radiology, 279 (2), 620-629. 
4. Dageforde LA, Harms KA, Feurer ID el 
at (2015). Increased minimum vein diameter on 
preoperative mapping with duplex ultrasound is 
associated with arteriovenous fistula maturation 
and secondary patency. J Vasc Surg, 61 (1), 
170-176. 
5. F. Saucy, Claude Haesler E Fau - Haller, 
Sebastien Haller C Fau - Deglise el at (2009). Is 
intra-operative blood flow predictive for early 
failure of radiocephalic arteriovenous fistula? 
Nephrol Dial Transplant, 10, 1093- 1096. 
6. Sung Min Kim, Youngjin Han, Hyunwook 
Kwon el at (2016). Impact of a preoperative 
evaluation on the outcomes of an arteriovenous 
fistula. Ann Surg Treat Res, 90 (4), 224–230. 
7. Robbin M. L, Chamberlain NE, Lockhart 
ME el at (2002). Hemodialysis arteriovenous fistula 
maturity: US evaluation. Radiology, 225, 59- 64. 
8. Đặng Ngọc Hùng, Nguyễn Tất Thắng và 
Nguyễn Sanh Tùng (2009). Kích thước miệng nối 
và lưu lượng trở về trong nối thông động - tĩnh 
mạch ở cổ tay để chạy thận nhân tạo chu kỳ. Y 
học thực hành, 12 (694), 22-27. 
9. R. Amerling, C. Ronco, M. Kuhlman el 
at (2011). Arteriovenous fistula toxicity. Blood 
Purif, 31 (1-3), 113-120. 
10. B. M. Voorzaat, J. van Schaik, H. M. 
Siebelink el at (2016). The pros and cons of 
preserving a functioning arteriovenous fistula after 
kidney transplantation. J Vasc Access, 17 (1), 16-22. 
11. Wong Chee Siong, McNicholas Nuala, 
Healy Donagh el at (2013). A systematic review 
of preoperative duplex ultrasonography and 
arteriovenous fistula formation. Journal of 
Vascular Surgery, 57 (4), 1129-1133. 
12. Majid Moini, G. Melville Williams, 
Mohammad Sadegh Pourabbasi el at (2008). 
Side-to-side arteriovenous fistula at the elbow 
with perforating vein ligation. Journal of 
Vascular Surgery, 47 (6), 1274-1278. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_tao_thong_dong_tinh_mach_de_chay_than_nhan_tao_tai_b.pdf