Kết quả sớm phẫu thuật thay van tim ở bệnh nhân có bệnh van tim nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2014-2016

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 102

bệnh nhân có bệnh lý van tim, có phân suất tống

máu giảm thấp ≤ 50% và/ hoặc có tăng áp lực

động mạch phổi tâm thu nặng ≥ 60mmHg. Tuổi

trung bình của nhóm nghiên cứu là 47,61± 12,14

tuổi, 58,95% số bệnh nhân có phân độ suy tim

NYHA III, IV trước mổ. Tất cả bệnh nhân đều

được thay van tim đơn van hoặc đa van. Thời

gian điều trị hồi sức trung bình là 6,02± 5,02

ngày. Số ngày dùng vận mạch là 6,52 ± 5,35

ngày. Tỷ lệ tử vong sớm sau mổ là 2,94 %. Kích

thước buồng tim cải thiện tốt sau mổ cùng với sự

cải thiện dần phân suất tống máu và áp lực động

mạch phổi tâm thu. Phẫu thuật thay van tim ở

những bệnh nhân có bệnh van tim nặng có phân

suất tống máu giảm thấp và/ hoặc tăng áp lực

động mạch phổi nặng vẫn là phương pháp chọn

lựa để giúp cải thiện các triệu chứng và chức

năng tim.

pdf 7 trang phuongnguyen 640
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả sớm phẫu thuật thay van tim ở bệnh nhân có bệnh van tim nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2014-2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả sớm phẫu thuật thay van tim ở bệnh nhân có bệnh van tim nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2014-2016

Kết quả sớm phẫu thuật thay van tim ở bệnh nhân có bệnh van tim nặng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2014-2016
KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN TIM Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH VAN TIM NẶNG... 
 51
KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN TIM Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH VAN TIM 
NẶNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2014-2016 
Nguyễn Anh Huy*, Trần Trung Hiếu*, Đoàn Quốc Hưng* 
TÓM TẮT 
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 102 
bệnh nhân có bệnh lý van tim, có phân suất tống 
máu giảm thấp ≤ 50% và/ hoặc có tăng áp lực 
động mạch phổi tâm thu nặng ≥ 60mmHg. Tuổi 
trung bình của nhóm nghiên cứu là 47,61± 12,14 
tuổi, 58,95% số bệnh nhân có phân độ suy tim 
NYHA III, IV trước mổ. Tất cả bệnh nhân đều 
được thay van tim đơn van hoặc đa van. Thời 
gian điều trị hồi sức trung bình là 6,02± 5,02 
ngày. Số ngày dùng vận mạch là 6,52 ± 5,35 
ngày. Tỷ lệ tử vong sớm sau mổ là 2,94 %. Kích 
thước buồng tim cải thiện tốt sau mổ cùng với sự 
cải thiện dần phân suất tống máu và áp lực động 
mạch phổi tâm thu. Phẫu thuật thay van tim ở 
những bệnh nhân có bệnh van tim nặng có phân 
suất tống máu giảm thấp và/ hoặc tăng áp lực 
động mạch phổi nặng vẫn là phương pháp chọn 
lựa để giúp cải thiện các triệu chứng và chức 
năng tim. Từ khóa: thay van tim; phân suất tống 
máu thấp; tăng áp lực động mạch phổi 
EARLY RESULTS OF CARDIAC VALVE 
REPLACEMENT IN PATIENTS WITH SEVERE 
VALVULAR HEART DISEASE AT VIET DUC 
HOSPITAL 2014-2016 
SUMMARY 
Our study group included 102 patients with 
valvular heart disease who had a low ejection 
fraction (EF) ≤ 50% and / or a increase in systolic 
artery pulmonary pressure ≥ 60mmHg. The mean 
age of the study group was 47.61 ± 12.14 years, 
58.95% of patients had NYHA III or IV pre 
operative. All patients' valves were replaced by 
biological or mechanical valves. The average 
recovery time of patients was 6.02 ± 5.02 days. 
The number of days of using vasopressors was 
6.52 ± 5.35 days. The early mortality rate after 
surgery was 2.94%. The size of the heart 
chambers improved well after surgery, together 
with a continuous rise in ejection fraction and 
systolic pulmonary artery pressure. 
Despite the risk of mortality and 
complications, cardiac valve replacement surgery 
in patients with severe valvular heart disease, 
which severe criteria are defined as low ejection 
fraction and/ or severe pulmonary artery pressure, 
is still the method of choice to help improve 
symptoms and cardiac function of the patients. 
Keywords: cardiac valve replacement; low 
ejection fraction; pulmonary hypertension 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Cho đến nay, chưa có một khái niệm cụ thể 
về bệnh van tim nặng, nhiều tác giả đánh giá mức 
độ nặng theo mức độ suy tim trên lâm sàng, hoặc 
các yếu tố nặng trên siêu âm tim như kích thước 
thất trái, áp lực động mạch phổi(ALĐMP) tâm 
thu hay chức năng tâm thu thất tráiTheo 
khuyến cáo của Hội tim mạch Quốc gia Việt Nam 
vể chẩn đoán và điều trị suy tim (2015) và Macro 
Guazzi, “bệnh van tim có nặng là bệnh van tim có 
tổn thương một hoặc nhiều van tim thực thể có 
kèm theo ít nhất một trong các yếu tố nặng như: 
ALĐMP tâm thu ≥ 60mmHg, chức năng tâm thu 
thất trái giảm nặng ≤ 50%”. [1]10 
Mặc dù phẫu thuật van hai lá(VHL) và van 
động mạch chủ(VĐMC) đã được tiến hành từ 
đầu những năm 1960, nhưng cho đến giữa những 
năm 1970, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao và kết quả 
muộn sau mổ còn rất hạn chế [2]. Trong lúc đó, 
hiểu biết và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tỷ 
lệ tử vong sau phẫu thuật van tim còn rất ít. 
Suy giảm chức năng tống máu thất trái và tăng 
ALĐMP nặng là hai trong số những yếu tố nguy cơ 
quan trọng gây tranh cãi nhiều trong các nghiên cứu 
trong một thời gian dài. Phẫu thuật thay van tim 
trên những bệnh nhân thuộc đối tượng này đã được 
nghiên cứu từ lâu nhưng kết quả sớm sau phẫu 
thuật và kết quả muộn về chức năng, tử vong muộn 
vẫn còn khác nhau giữa các tác giả. 
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về thay van tim 
trên bệnh nhân có suy giảm chức năng thất trái và 
tăng ALĐMP nặng còn chưa nhiều. Do đó, vẫn 
còn nhiều vấn đề thảo luận trong chỉ định phẫu 
thuật trên nhóm bệnh nhân nguy cơ cao này cũng 
như tiên lượng lâu dài của bệnh nhân dẫn đến 
* Khoa Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực BV HN Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/08/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 07/08/2017 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 52 
nhiều bệnh nhân từ chối phẫu thuật do không 
chấp nhân nguy cơ tử vong và biến chứng cao. 
Trong khi đó, sự phát triển của kỹ thuật mổ tim ở 
các tuyến cơ sở, nâng cao về trình độ và phương 
tiện gây mê hồi sức, do điều kiện kinh tế khó 
khăn và mặt bằng dân trí của nước ta còn thấp, 
tình trạng bệnh nhân đến khám ở tuyến cuối khi 
đã ở giai đoạn muộn là khá phổ biến, dẫn đến một 
số lượng không ít bệnh nhân có phân suất tống 
máu giảm nặng, tăng ALĐMP nặng dẫn đến tăng 
nguy cơ phẫu thuật. 
Từ đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài 
này nhằm mục tiêu đánh giá kết quả sớm sau 
phẫu thuật thay van tim ở bệnh nhân bệnh van 
tim có tăng ALĐMP tâm thu nặng và phân suất 
tống máu giảm thấp (trong nghiên cứu này, gọi 
tắt là bệnh van tim nặng). 
II.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm các bệnh 
nhân được thay VHL và/ hoặc thay van ĐMC tại 
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, thỏa mãn các tiêu 
chuẩn lựa chọn bệnh nhân và tiêu chuẩn loại trừ. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 
- Không phân biệt tuổi, giới. 
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh 
van tim. 
- Phân suất tống máu trước mổ ≤ 50% và/ 
hoặc có tăng áp lực động mạch phổi tâm thu nặng 
≥ 60 mmHg đo qua siêu âm tim Doppler qua 
thành ngực 
- Bệnh nhân được phẫu thuật thay van hai lá 
(VHL) và/ hoặc van động mạch chủ (VĐMC) và 
có thể hoặc không kết hợp sửa van ba lá (VBL) 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
- Những bệnh nhân được thay van nhưng 
có kèm theo can thiệp ĐMC lên, động mạch vành. 
- Bệnh nhân có các thương tổn tim bẩm sinh 
như thông liên thất, thông liên nhĩ, hoặc các bệnh 
tim bẩm sinh khác. 
- Bệnh nhân thay lại van 
- Hồ sơ bệnh án không đầy đủ. 
Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật dưới 
tuần hoàn ngoài cơ thể, hạ thân nhiệt xuống 32oC, 
sử dụng dung dịch liệt tim bằng máu ấm, hoặc 
Custodiol, được bơm xuôi dòng. 100% bệnh nhân 
được thay 1 hoặc 2 van tim cơ học hoặc sinh học. 
Sau phẫu thuật bênh nhân được sử dụng thuốc trợ 
tim hoặc trợ phổi khi cần thiết, và kiểm tra đánh 
giá các thông số siêu âm tim sau mổ để so sánh 
tiến triển so với trước mổ. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hồi cứu. 
2.2.2. Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu 
được xử lý bằng phần mềm thống kê y học 
STATA 13.0 và Epidata, độ tin cậy 95%. 
III.KẾT QUẢ 
Tổng số 102 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên 
cứu có tổn thương một hoặc nhiều van tim, có 
phân suất tống máu ≤ 50% và/ hoặc áp lực động 
mạch phổi tâm thu ≥ 60mmHg. 
Bảng 3.1: Đặc điểm bệnh nhân trước mổ (n=102) 
Yếu tố Min Max M ± 2SD 
Tuổi 9 74 47,61 ± 12,14 
Phân độ suy tim (NYHA) III, IV 56 (58,95%) 
nhịp xoang 35 (34,31%) Điện tâm đồ 
rung nhĩ 67 (65,69%) 
Kích thước thất trái tâm trương (mm) 34 89 56,57 ± 11,40 
Phân suất tống máu ở nhóm bệnh nhân đơn thuần có 
EF ≤ 50% (n=32) 38 50 45,96 ± 3,36 
ALĐMP ở nhóm bệnh nhân đơn thuần có ALĐMP ≥ 
60mmHg (n=58) 60 110 74,83 ± 14,50 
Phân suất tống máu 36 48 43,72 ± 3,65 Nhóm bệnh nhân có EF ≤ 
50% và ALĐMP ≥ 
60mmHg (n=12) Áp lực động mạch phổi 61 91 70,16 ± 8,36 
KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN TIM Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH VAN TIM NẶNG... 
 53
Bảng 3.2: Đặc điểm trong mổ (n=102) 
Yếu tố Min Max M ± 2SD 
Thời gian kẹp ĐMC (phút) 40 340 97,94 ± 40,72 
Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (phút) 50 460 119,07 ± 51,78 
Cơ học 63 (61,76%) 
Thay VHL 
Sinh học 39 (38,24%) 
Cơ học 23 (63,89%) 
Thay van ĐMC 
Sinh học 13 (36,11%) 
Phối hợp sửa ba lá 64 (62,75%) 
Tự đập 89 (87,25%) 
Tim đập lại hay sốc điện 
Sốc điện 13 (12,75%) 
Bảng 3.3: Đặc điểm sau mổ (n=99) 
Yếu tố Min Max M ± 2SD 
Số ngày nằm hồi sức (ngày) 1 26 6,02 ± 5,02 
Số ngày thở máy (ngày) 6 240 64,25 ± 57,03 
Số ngày dùng vận mạch (ngày) 1 26 6,52 ± 5,35 
0 thuốc 24 (24,24%) 
1 thuốc 48 (48,48%) 
2 thuốc 24 (24,24%) 
Số thuốc vận mạch 
sau mổ 
3 thuốc 3 (3,03%) 
BN phải hỗ trợ pace maker 0 (0%) 
BN phải hỗ trợ chạy ECMO 0 (0%) 
BN phải hỗ trợ bóng đối xung (IABP) 0 (0%) 
BN phải hỗ trợ chạy thận nhân tạo 2 (2,02%) 
Tử vong 3 (2,94%) 
Tất cả bệnh nhân của nhóm nghiên cứu đều được thay van tim cơ học hoặc sinh học, có thể có 
sửa van ba lá phối hợp nếu có hở van kèm theo. Thời gian nằm hồi sức trung bình là 6,02± 5,02 ngày 
và dùng trợ tim 6,52 ± 5,35 ngày. 
Tử vong bệnh viện bao gồm những trường hợp tử vong tại viện và những trường hợp chưa tử vong 
tại viện nhưng tình trạng nặng, tiên lượng không qua khỏi và gia đình xin về chúng tôi cũng coi là tử 
vong bệnh viện. Trong nghiên cứu này của chúng tôi có 03 trường hợp tử vong do suy tim sau mổ. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 54 
Bảng 3.4. Kết quả sau phẫu thuật (n=99) 
Yếu tố Min Max M ± 2SD 
Kích thước thất trái tâm trương 39 80 53,65 ± 8,00 
Phân suất tống máu ở nhóm bệnh nhân đơn thuần có 
EF ≤ 50% (n=30) 33 66 50,44 ± 8,97 
Áp lực động mạch phổi ở nhóm bệnh nhân đơn thuần 
có ALĐMP ≥ 60mmHg (n=57) 20 70 38,50 ± 11,35 
Phân suất tống máu 39 70 53,30 ± 9,13 Nhóm bệnh nhân có EF ≤ 50% 
và ALĐMP ≥ 60mmHg 
(n=12) 
Áp lực động mạch 
phổi tâm thu 25 62 37,02 ± 9,07 
Chảy máu cần mổ lại 0 (0%) 
Tràn khí màng phổi và/ hoặc tràn 
máu màng phổi 21 (21,21%) 
Nhiễm trùng xương ức 0 (0%) 
Biến chứng 
Suy thận 2 (2,02%) 
Van tim nhân tạo sau mổ hoạt động tốt 99 (100%) 
Van tim nhân tạo hoạt động tốt sau mổ là: Các van nằm đúng vị trí, không có hở cạnh van, 
chênh áp tối đa qua van <10mmHg, chênh áp trung bình qua van < 5mmHg 
Bảng 3.5. So sánh siêu âm tim trước và sau phẫu thuật 
Yếu tố Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật p 
Kích thước thất trái tâm trương (mm) 56,57±11,40 (n=102) 53,65±8,00 (n=99) 0,037 
Phân suất tống máu ở nhóm bệnh nhân 
đơn thuần có EF ≤ 50% 45,96 ± 3,36 (n=32) 50,44± 8,97 (n=30) 0,010 
Áp lực động mạch phổi ở nhóm bệnh 
nhân đơn thuần có ALĐMP ≥ 60mmHg 
(mmHg) 
74,83 ± 14,50 (n=58) 38,50 ± 11,35 (n=57) 0,000 
Phân suất tống 
máu 43,72 ± 3,65 (n=12) 53,30 ± 9,13 (n=12) 0.002 
Nhóm bệnh nhân có 
EF ≤ 50% và ALĐMP 
≥ 60mmHg 
(n=12) 
Áp lực động 
mạch phổi 70,16 ± 8,36 (n=12) 37,02 ± 9,07 (n=12) 0.000 
IV. BÀN LUẬN 
Các bệnh nhân mắc bệnh lý van tim nặng có 
thể có những triệu chứng nặng nề, vào viện trong 
đợt cấp của suy tim mạn, nhưng nhiều trường hợp 
không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Đối với 
những bệnh nhân suy giảm chức năng thất trái 
cho thấy tỷ lệ tử vong từ 8%-12% ở nhóm hẹp 
van ĐMC và 6-12% ở nhóm có hở van [3],[4]. 
Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về 
chỉ định đối với những trường hợp bệnh van tim 
nặng này, dẫn đến chưa có những khuyến cáo cụ 
thể. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ở 
những bệnh nhân này, mặc dù nguy cơ phẫu thuật 
và tỷ lệ tử vong cao nhưng tỷ lệ này vẫn còn 
trong giới hạn cho phép và kết quả sống lâu dài 
chấp nhận được [5]. 
KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN TIM Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH VAN TIM NẶNG... 
 55
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá 
kết quả sớm sau phẫu thuật van tim ở những bệnh 
nhân có bệnh van tim nặng, từ đó xem lại các chỉ 
định cũng như có cơ sở để thảo luận với bệnh 
nhân và gia đình về các nguy cơ phẫu thuật. Đây 
là nhóm bệnh nhân có nguy cơ rất cao đòi hỏi kỹ 
thuật mổ cũng như chiến lược điều trị thích hợp 
để mang lại hiệu quả tốt nhất. Đối với nhóm bệnh 
nhân này, thời gian nằm hồi sức, thời gian thở 
máy và dùng thuốc vận mạch kéo dài hơn so với 
nhóm bệnh nhân khác. Trong nghiên cứu này, 
thời gian nằm hồi sức trung bình là 6,02± 5,02 
ngày, thời gian dùng vận mạch trung bình là 6,52 
± 5,35 ngày. Tỷ lệ tử vong bệnh viện trong nhóm 
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nhiều 
nghiên cứu khác, điều này có thể lý giải liên quan 
đến kỹ thuật mổ, phương tiện và trình độ hồi sức 
của cơ sở điều trị. Trong phẫu thuật thay van tim, 
nguyên nhân tử vong sớm chủ yếu là do suy tim 
nặng do giảm cung tượng tim cấp sau mổ dẫn đến 
suy đa tạng. Nghiên cứu của Sharony cho thấy 
thời gian nằm viện trung bình là 12 ngày, tỷ lệ 
suy thận là 3,2 % đối với nhóm có phân suất tống 
máu thấp. Trước đây, các tác giả nhận định tăng 
áp lực động mạch phổi nặng làm tăng nguy cơ tử 
vong sau mổ gấp 2-3 lần so với không có hoặc 
tăng nhẹ áp lực động mạch phổi. Kết quả theo 
dõi xa ở những bệnh nhân có tăng áp lực động 
mạch phổi nặng cũng kém hơn so với nhóm tăng 
áp lực động mạch phổi nhẹ hoặc vừa [6], [7]. 
Najafi (1969) nghiên cứu thấy tỷ lệ tử vong là 
16% ở nhóm có tăng ALĐMP vừa và 61% ở 
nhóm có tăng ALĐMP nặng [8]. Các nghiên 
cứu của các tác giả gần đây cho thấy tỷ lệ này 
có giảm xuống. Nirmal Kumar (2013) nghiên 
cứu thấy tỷ lệ tử vong ở nhóm có tăng ALĐMP 
nặng là 16,6% [9]. Tỷ lệ tử vong trong nghiên 
cứu của chúng tôi cũng không cao hơn một số 
nghiên cứu thay van tim nói chung ở trong và 
ngoài nước. 
Bảng 6. Tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật thay van tim theo các tác giả 
Tác giả Số BN Tỷ lệ tử vong (%) 
Neale Smith (1978) [10] 19 21 
David E.P. (2000) [11] 55 18 
Chaliki (2002) [12] 43 14 
Ram S. (2003) [4] 416 10,1 
Onorati (2014) [13] 81 8,6 
Bishay (2000) [12] 44 2,3 
Đặng Hanh Sơn (2010) [14] 2,5 
Nguyễn Hồng Hạnh (2012) [15] 2,5 
Nguyễn Đức Hiền (2007) [16] 1,4 
Chúng tôi 102 3 (2,94%) 
Tỷ lệ tử vong 2,94% khi tiến hành phẫu 
thuật trên nhóm bệnh nhân nhiều nguy cơ như 
tăng ALĐMP nặng, và EF giảm thấp theo chúng 
tôi là một kết quả rất đáng ghi nhận, điều đó 
chứng tỏ sự thuần thục trong kỹ thuật mổ, kỹ 
thuật chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể, đặc biệt 
là khả năng chăm sóc hồi sức sau mổ tại khoa 
phẫu thuật Tim mạch-Lồng ngực Bệnh viện 
Hữu Nghị Việt Đức. 
Một vấn đề rất quan trọng trong phẫu thuật 
tim hở ở nhóm bệnh nhân có bệnh van tim nặng 
là quy trình bảo vệ cơ tim trong mổ [10]. Nếu 
không được bảo vệ tốt, cơ tim đã suy yếu sẽ càng 
kém hơn dẫn đến những hậu quả nặng về sau mổ, 
như thời gian hồi sức kéo dài và sử dụng nhiều 
thuốc trợ tim hơn, có thể có các nguy cơ biến 
chứng như viêm phổi, suy thận cấp, nhiễm 
trùng,thậm chí tử vong. Trong nghiên cứu này, 
chúng tôi sử dụng dung dịch liệt tim máu ấm 
hoặc dung dịch custodial, có tính bảo vệ cơ tim 
tốt. Đồng thời, việc sử dụng đường xuôi dòng qua 
gốc động mạch chủ làm cho tim được bảo vệ liên 
tục trong mổ, 87,25% BN tim tự đập lại sau mổ, 
số còn lại cần sốc điện, tuy nhiên không có bệnh 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 56 
nhân nào phải chạy pace maker sau mổ. Nghiên 
cứu của chúng tôi, thời gian CEC kéo dài 119,07 
± 51,78 phút, đây là thời gian không dài, rút ngắn 
được thời gian gây mê giúp quá trình phục hồi 
nhanh hơn khi đập lại. Nghiên cứu của Sharony 
cho thấy trong thay van ĐMC có giảm nặng phân 
suất tống máu, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 
trung bình là 137 ± 53 phút. Nghiên cứu của 
Nguyễn Duy Thắng, Đoàn Quốc Hưng (2012), 
thời gian chạy máy trung bình là 72,59 ± 29,26 
(phút), ngắn hơn so với trong nghiên cứu của 
chúng tôi. [7],[17] 
Thời gian thở máy của các bệnh nhân trong 
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các 
nghiên cứu khác. Nguyễn Hữu Ước (2005) có 
thời gian thở máy trung bình là 25,9±20,5 giờ 
[18], Nguyễn Xuân Thành (2010) là 24,3±36,24 
giờ [19], Phạm Hữu Lư (2013) là 16,6±11,58 giờ 
[20]. Điều đó cho thấy diễn biến suy tim trên 
những bệnh nhân EF giảm thấp và những biến đổi 
về mô học ở động mạch phổi do hậu quả của tăng 
ALĐMP nặng kéo dài gây nên rất nhiều khó khăn 
và nguy cơ sau mổ thay tim. Tuy nhiên, trong 
nghiên cứu của chúng tôi, các BN hồi sức sau mổ, 
0% BN phải sử dụng ECMO và 0% BN phải sử 
dụng bóng đối xung trong quá trình hồi sức, đa số 
BN không hoặc chỉ cần sử dụng 01 thuốc vận 
mạch sau mổ (72,72%), huyết động của các BN 
này đều được duy trì tốt. 
Sự thay đổi kích thước các buồng tim trước 
và sau phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi 
cho thấy tim bớt căng giãn, ứ máu, khả năng co 
hồi sẽ tốt hơn. Nghiên cứu của Bishay và cộng 
sự, cho thấy kích thước tâm trương và tâm thu 
thất trái đều cải thiện đáng kể trên bệnh nhân sau 
mổ thay van hai lá trên những bệnh nhân có giảm 
nặng phân suất tống máu thất trái. Kích thước thất 
trái tâm trương giảm từ 65mm xuống 57mm. [13] 
Các tác giả trong và ngoài nước khi nghiên 
cứu về ALĐMP tâm thu sau mổ đều có chung 
một nhận định rằng ALĐMP sẽ giảm ngay sau 
mổ. Áp lực ĐMP tâm thu giảm trung bình trong 
nghiên cứu của chúng tôi từ mức 74,03± 13,71 
mmHg trước mổ xuống còn 38,52±10,91 mmHg 
sau mổ. Kết quả này cũng không khác nhiều so 
với các kết quả nghiên cứu của các tác giả 
Nguyễn Đức Hiền [16], Đặng Hanh Sơn [14], 
Nguyễn Xuân Thành [19] , Nguyễn Hồng Hạnh 
[15]. Nirmal Kumar (2013) nghiên cứu trên hai 
nhóm bệnh nhân có ALĐMP tâm thu trước mổ 
lần lượt là 79±14 mmHg và 103±17 mmHg, kết 
quả cho thấy ALĐMP tâm thu sau mổ giảm còn 
32±10 mmHg và 61±9 mmHg [9]. Như vậy, ngay 
sau phẫu thuật thay tim, ALĐMP giảm nhiều và 
có ý nghĩa, làm giảm hẳn tình trạng khó thở, phù, 
gan to trên lâm sàng. Tuy nhiên mức độ giảm 
bao nhiêu, ALĐMP tâm thu sau mổ có về 
bình thường hay không phụ thuộc nhiều vào 
ALĐMP trước mổ. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi 
nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu về mức 
độ giảm ALĐMP sau mổ thay tim, cũng như 
các biến đổi tiếp theo về lâm sàng, tỷ lệ sống sót 
và tai biến. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến 
chứng xảy ra rất thấp, không có trường hợp nào 
chảy máu và nhiễm trùng xương ức trong mổ, có 
21,21% trường hợp bệnh nhân có tràn máu tràn 
khí sau mổ, nhưng những trường hợp này đều 
được xử lý kịp thời và không làm nặng thêm tình 
trạng bệnh nhân sau mổ. Có 2,02% BN có suy 
thận sau mổ cần sử dụng siêu lọc, các BN này 
đều cải thiện tốt chức năng thận trong quá trình 
hồi sức sau mổ. 
Tình trạng van tim sau khi được thay van 
tim 100% đều được đánh giá tốt, đây là một yếu 
tố quan trọng giúp diễn biến bệnh nhân tốt lên 
sau mổ. 
Như vậy, nhóm bệnh nhân của chúng tối 
bước đầu cũng cho thấy được những kết quả khả 
quan sau mổ, mặc dù có nhiều nguy cơ cao. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật thay van tim ở nhóm bệnh nhân có 
bệnh van tim nặng, dù còn tồn tại nhiều nguy cơ 
tử vong và biến chứng, nhưng đây vẫn là phương 
pháp chọn lựa để giúp cải thiện các triệu chứng 
và chức năng tim của bệnh nhân, góp phẫn làm 
giảm tỷ lệ tử vong do suy tim và tăng áp lực động 
mạch phổi cố định nếu không được phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Marco Guazzi, Barry A. Borlaug 
(2012), "Pulmonary Hypertension Due to Left 
Heart Disease". Circulation. 126, 975-990. 
2. Turina J., Stark T., et al. (1999) 
“Predictors of the long-term outcome after 
combined aortic and mitral valve surgery”, 
Circulation, 100 [suppl II], 48-53. 
3. Brogan W.C III, Grayburn P.A., Lange 
R.A et al (1993), “Prognosis after valve 
KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT THAY VAN TIM Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH VAN TIM NẶNG... 
 57
replacement in patients with severe aortic stenosis 
and a low trasvalvular pressure gradient”, J Am 
Coll Cardiol 21:1657 – 1660. 
4. Ram S., Eugene A.G, et al. (2003), 
“Aortic valve replacement in patients with 
impaired ventricular function”, Annal of thoracic 
surgery, 75, 1808-1814. 
5. Chaliki H.P. (2002), “Outcomes after 
Aortic valve replacement in patients with 
severe aortic regurgitation and markedly 
reduced left ventricular function”, Circulation, 
106, 2687-2693. 
6. ACCF/AHA (2009), "Expert Consensus 
Document on Pulmonary Hypertension". 
Journal of the American College of Cardiology. 
53(17), 1573-1619. 
7. Todd L. Kiefer, Thomas M. Bashore 
(2011), "Pulmonary Hypertension Related to 
Left-Sided Cardiac Pathology". Pulmonary 
Medicine. 2011, 1-11. 
8. Xiaochun Song (2015), "An excellent 
result of surgical treatment in patients with 
severe pulmonary arterial hypertension 
following mitral valve disease". Journal of 
Cardiothoracic Surgery. 10, 70-75. 
9. Nirmal Kumar (2013), "Early Results of 
Mitral Valve Replacement in Severe Pulmonary 
Artery Hypertension-An Institutional 
Prospective Study". World Journal of 
Cardiovascular Surgery. 3, 63-69. 
10. Neale S. et al, (1978), “Severe aortic 
stenosis with impaired left ventricular function 
and clinical heart failure: results of valve 
replacement”,Circulation, 58, 255-264. 
11. David E.P, paul A.T. (2000), “Aortic 
valve replacement in patients with aortic stenosis 
and severe left ventricular dysfunction”, Arch 
Intern Med, 160,1337-1341. 
12. Bishay E.S McCarthy P.M, Delos M. 
Cosgrove, Katherine J. Hoercher (2000), “Mitral 
valve surgery in patients with severe left 
ventricular dysfunction”, European Journal of 
Cardio-thoracic Surgery 17 (2000) 213-221. 
13. Onorati F. et al (2014), “Effect of severe 
left ventricular systolic dysfunction on hospital 
outcome after transcatheter aortic valve 
implantation or surgical aortic valve replacement: 
Results from a propensity-matched population of 
the Italian OBSERVANT multicenter study”, The 
Journal of Thoracic and Cardiovascular 
Surgegy,147 (2), 568-575. 
14. Đặng Hanh Sơn (2010), Nghiên cứu 
đánh giá kết quả phẫu thuật thay van hai lá bằng 
van cơ học sorbin tại bệnh viện tim Hà Nội, 
Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân Y. 
15. Nguyễn Hồng Hạnh (2012), Nghiên cứu 
biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu 
thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại Saint 
Jude Master, Luận án tiến sĩ, Viện nghiên cứu 
khoa học y-dược lâm sàng 108. 
16. Nguyễn Đức Hiền (2007), Nghiên cứu 
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá 
kết quả phẫu thuật thay van hai lá cơ học ở bệnh 
nhân hẹp van hai lá, Luận văn bác sĩ nội trú, Đại 
học Y dược Huế. 
17. Nguyễn Duy Thắng, Đoàn Quốc Hưng. 
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và 
kết quả thay van hai lá cơ học tại bệnh viện Hữu 
Nghị Việt Đức. Tạp chí tim mạch học Việt Nam 
2012, 61, 3: 21-32 
18. Nguyễn Hữu Ước (2005), Nghiên cứu 
đường mở nhĩ trái dọc qua hai nhĩ – vách 
liên nhĩ, mở rộng lên trần nhĩ trái trong phẫu 
thuật van hai lá, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học 
Y Hà Nội. 
19. Nguyễn Xuân Thành (2010), Nghiên cứu 
đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả 
phẫu thuật thay van hai lá có huyết khối nhĩ 
trái tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn thạc sĩ, Đại 
học Y Hà Nội. 
20. Phạm Hữu Lư, Nguyễn Hữu Ước (2013), 
" Phẫu thuật thay van hai lá với mở xương ức toàn 
bộ qua đƣờng rạch da tối thiểu ". Tạp chí phẫu 
thuật tim mạch và lồng ngực Việt Nam. 3, 10-15.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_som_phau_thuat_thay_van_tim_o_benh_nhan_co_benh_van.pdf