Kết quả sớm điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng

Mục tiêu: Nội soi nong niệu quản bằng bóng trong điều trị hẹp niệu quản là phương pháp dễ thực hiện,

đường cong học tập ngắn, chi phí thấp, thời gian nằm viện ngắn, tỷ lệ thành công cao và rất ít biến chứng.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này tại bệnh viện Bình Dân.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hẹp niệu quản mắc phải được nội soi nong bóng tại

bệnh viện Bình Dân trong khoảng thời gian từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2020. Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng

loạt trường hợp (case series).

Kết quả: Mẫu nghiên cứu có 35 bệnh nhân với 37 niệu quản được phẫu thuật. Tuổi trung bình: 47,7 ± 15,8

tuổi. 94,3% bệnh nhân đều có tiền căn phẫu thuật trước đó. Trong đó số lượng bệnh nhân đã phẫu thuật trên

đường tiết niệu chiếm 72,9%. Bệnh nhân có tiền căn nội soi tán sỏi niệu quản ngược chiều chiếm tỷ lệ cao nhất

37,8%. Triệu chứng thường gặp nhất khi nhập viện là đau hông lưng (94,3%), còn lại là sốt lạnh run 5,7% và

tiểu máu 2,9%. Chiều dài đoạn hẹp trung bình là 1,1 ± 0,6cm (0,4-3cm). Tất cả bệnh nhân đều phát hiện ứ nước

cùng bên tổn thương trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Thời gian phẫu thuật trung bình là 48,7 ±

20,9 phút (20-100 phút). Thời gian theo dõi trung bình 13,5 ± 8,4 tháng (3-30 tháng). Tỷ lệ thành công sau rút

thông JJ ít nhất 3 tháng: 78,3%, không phụ thuộc vào độ ứ nước và vị trí đoạn hẹp (với lần lượt là p=0,705 và

p=1, kiểm định Fisher’exact). Tỉ lệ thành công cao khi đoạn hẹp có chiều dài ngắn, với 84,8% khi đoạn hẹp <>

(p =0,003). Có 2 biến chứng sau mổ: nhiễm khuẩn đường tiết niệu (5,7%) và tụ máu dưới bao thận và sau phúc mạc (2,9%).

Kết luận: Điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng có tỷ lệ thành công cao, dễ thực hiện,

đường cong học tập ngắn với ít biến chứng và chi phí điều trị thấp hơn. Đặc biệt trên những bệnh nhân có nhiều

nguy cơ phẫu thuật, tiên lượng cuộc mổ mở tạo hình khó khăn vì vết mổ cũ, bệnh nhân có chất lượng cuộc sống

bị ảnh hưởng nặng nề vì hẹp niệu quản tái phát, phương pháp này sẽ là một cứu cánh và nên được cân nhắc là

phương pháp tiếp cận ban đầu.

pdf 8 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả sớm điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả sớm điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng

Kết quả sớm điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 233 
KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ HẸP NIỆU QUẢN 
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI NONG BÓNG 
Ngô Xuân Thái1, Võ Xuân Huy1 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Nội soi nong niệu quản bằng bóng trong điều trị hẹp niệu quản là phương pháp dễ thực hiện, 
đường cong học tập ngắn, chi phí thấp, thời gian nằm viện ngắn, tỷ lệ thành công cao và rất ít biến chứng. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này tại bệnh viện 
Bình Dân. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hẹp niệu quản mắc phải được nội soi nong bóng tại 
bệnh viện Bình Dân trong khoảng thời gian từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2020. Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng 
loạt trường hợp (case series). 
Kết quả: Mẫu nghiên cứu có 35 bệnh nhân với 37 niệu quản được phẫu thuật. Tuổi trung bình: 47,7 ± 15,8 
tuổi. 94,3% bệnh nhân đều có tiền căn phẫu thuật trước đó. Trong đó số lượng bệnh nhân đã phẫu thuật trên 
đường tiết niệu chiếm 72,9%. Bệnh nhân có tiền căn nội soi tán sỏi niệu quản ngược chiều chiếm tỷ lệ cao nhất 
37,8%. Triệu chứng thường gặp nhất khi nhập viện là đau hông lưng (94,3%), còn lại là sốt lạnh run 5,7% và 
tiểu máu 2,9%. Chiều dài đoạn hẹp trung bình là 1,1 ± 0,6cm (0,4-3cm). Tất cả bệnh nhân đều phát hiện ứ nước 
cùng bên tổn thương trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Thời gian phẫu thuật trung bình là 48,7 ± 
20,9 phút (20-100 phút). Thời gian theo dõi trung bình 13,5 ± 8,4 tháng (3-30 tháng). Tỷ lệ thành công sau rút 
thông JJ ít nhất 3 tháng: 78,3%, không phụ thuộc vào độ ứ nước và vị trí đoạn hẹp (với lần lượt là p=0,705 và 
p=1, kiểm định Fisher’exact). Tỉ lệ thành công cao khi đoạn hẹp có chiều dài ngắn, với 84,8% khi đoạn hẹp < 2cm 
(p=0,003). Có 2 biến chứng sau mổ: nhiễm khuẩn đường tiết niệu (5,7%) và tụ máu dưới bao thận và sau phúc 
mạc (2,9%). 
Kết luận: Điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi nong bóng có tỷ lệ thành công cao, dễ thực hiện, 
đường cong học tập ngắn với ít biến chứng và chi phí điều trị thấp hơn. Đặc biệt trên những bệnh nhân có nhiều 
nguy cơ phẫu thuật, tiên lượng cuộc mổ mở tạo hình khó khăn vì vết mổ cũ, bệnh nhân có chất lượng cuộc sống 
bị ảnh hưởng nặng nề vì hẹp niệu quản tái phát, phương pháp này sẽ là một cứu cánh và nên được cân nhắc là 
phương pháp tiếp cận ban đầu. 
Từ khoá: hẹp niệu quản mắc phải, nội soi nong bóng 
ABSTRACT 
EVALUATION OF EARLY RESULT OF ENDOSCOPIC BALLOON DILATION 
IN THE TREATMENT OF URETERAL STRICTURES 
Ngo Xuan Thai, Vo Xuan Huy 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 233 - 240 
Objectives: Endoscopic balloon dilation in treatment of ureteral strictures is easy to perform, has a short 
learning curve with fewer complications, short hospitalization and lower cost. We aimed to identify the efficacy 
and the safety of this technique at Binh Dan Hospital. 
Methods: A retrospective study was performed on patients with acquired ureteral strictures who had 
undergone endoscopic balloon dilation from April 2017 to March 2020 at Binh Dan Hospital. 
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Võ Xuân Huy ĐT: 0774046032 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 234 
Results: 37 ureteral strictures in 35 patients were consecutively treated by balloon dilation. The mean age 
was 47.7 ±15.8 years old. 94.3% of patients had developed strictures after a combination of surgery: 72.9% of 
strictures after urological surgery and 21.7% of strictures after gynecological surgery. Stricture after endoscopic 
lithotripsy had 37.8 % of all. The most symptom was flank pain (94.3%) and others were fever with chill (5.7%) 
and haematuria (2,9%). The mean length of stricture was 1.1 ± 0.6cm (0.4-3cm). All patients had ipsilateral 
hydronephrosis. The mean procedural time was 48.7 ± 20.9 minutes (20-100 minutes). The follow-up periods 
ranged from 3 to 30 months (mean 13.3 ± .4 months). The success rate after at least 3 months withdrawing double 
J stent was 78.4%. Stricture length was the significant prognostic factor affecting the final outcome (p=0.003) and 
84.8% of patients with strictures shorter than 2cm were successful. Other factors, such as grade of 
hydronephrosis and location were not found to influence the success rate (p=0.705 and p=1, respectively, by 
Fisher’exact test). There were 2 post-operative complications: urological infection (5.7%), subcapsular and 
retroperitoneal haematoma (2.9%). 
Conclusions: Balloon dilation in treatment of complex ureteral strictures is easy to perform, has a short 
learning curve with fewer complications, short hospitalization and lower cost. Especially for patients who had 
serious combined morbidities, recurrent stricture, this procedure is recommended as an effective first line 
treatment. 
Key words: accquired ureteral strictures, balloon dilation 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hẹp niệu quản là tình trạng hẹp lòng niệu 
quản, dẫn đến những thay đổi về mặt chức 
năng, làm giảm hoặc tắc nghẽn hoàn toàn dòng 
nước tiểu từ thận xuống bàng quang(1). Đây là 
một bệnh lý tiết niệu thường gặp, ảnh hưởng 
đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh 
nhân. Nếu không được điều trị, hẹp niệu quản 
gây ứ đọng nước tiểu trên vị trí hẹp, dẫn đến 
giãn niệu quản, thận ứ nước và gây nên nhiều 
biến chứng như: đau quặn thận, tạo sỏi, nhiễm 
khuẩn đường tiết niệu và cuối cùng dẫn đến tổn 
thương thận không hồi phục. Những nguyên 
nhân phổ biến nhất của hẹp niệu quản bao gồm: 
thiếu máu nuôi niệu quản, những chấn thương 
do phẫu thuật và không do phẫu thuật, xơ hoá 
quanh niệu quản, bệnh lý ác tính, nhiễm khuẩn 
và bẩm sinh(1,2,3). Mặc dù tỷ lệ mắc của bệnh lý 
hẹp niệu quản trong dân số chung là không rõ, 
nhưng rõ ràng sự hiện diện của sỏi niệu quản và 
những can thiệp điều trị liên quan đến sỏi là 
những yếu tố nguy cơ. Sự ra đời của những thủ 
thuật nội soi niệu quản đã dẫn đến tỷ lệ mắc 
bệnh hẹp niệu quản cao hơn(1). 
Vì hẹp niệu quản ảnh hưởng đến chức 
năng thận nên việc chẩn đoán và điều trị sớm 
có ý nghĩa rất quan trọng. Mục tiêu của điều 
trị hẹp niệu quản là giải phóng tắc nghẽn và 
bảo tồn chức năng thận(2). Phẫu thuật tạo hình 
được xem là tiêu chuẩn vàng, nhưng là phẫu 
thuật xâm hại đáng kể, có thể gây nhiều biến 
chứng, tăng thời gian nằm viện và chi phí điều 
trị(4). Đặc biệt, những trường hợp bệnh nhân 
có tiền căn phẫu thuật tiết niệu nhiều lần, lớn 
tuổi và nhiều bệnh kèm theo đòi hỏi một 
phương pháp can thiệp hiệu quả và ít xâm hại 
hơn. Gần đây, sự phát triển của các kỹ thuật 
nội soi trong chuyên ngành tiết niệu đã mang 
đến những phương pháp điều trị xâm hại tối 
thiểu và đạt được nhiều kết quả khả quan. 
Trong đó, nội soi niệu quản nong bóng đặc 
trưng bởi việc dùng bóng để ép đồng đều 
thành niệu quản, xé rách mô sẹo hẹp, mở rộng 
đường kính của lòng niệu quản và làm giảm ứ 
nước thận. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nội soi 
nong niệu quản bằng bóng có tỉ lệ thành công 
cao, dễ thực hiện, đường cong học tập ngắn, 
chi phí thấp, thời gian nằm viện ngắn(4,5). Tuy 
nhiên, nghiên cứu về phương pháp này ở 
trong nước hiện nay còn rất hạn chế. Như vậy, 
phương pháp nội soi nong bóng điều trị hẹp 
niệu quản có tỉ lệ thành công và tỉ lệ tai biến, 
biến chứng như thế nào? Đây là câu hỏi cần 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 235 
được trả lời, nhằm đóng góp những dữ liệu 
cần thiết để các nhà lâm sàng có thêm lựa chọn 
điều trị. Với tính bức thiết này, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả sớm điều 
trị hẹp niệu quản bằng phương pháp nội soi 
nong bóng”. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhân hẹp niệu quản được chẩn đoán, 
điều trị và theo dõi tại bệnh viện Bình Dân 
Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 
từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2020. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Bệnh nhân được chẩn đoán hẹp niệu quản 
mắc phải tại tất cả các vị trí niệu quản có các đặc 
điểm sau: có hình ảnh hẹp niệu quản khi chụp 
cắt lớp vi tính hệ tiết niệu có tiêm thuốc cản 
quang, chiều dài đoạn hẹp niệu quản ≤ 3cm, có 
tiền căn điều trị các bệnh liên quan đến niệu 
quản (phẫu thuật, điều trị sỏi tiết niệu nội khoa), 
hẹp niệu quản mắc phải trên bệnh nhân bị ung 
thư các cơ quan vùng chậu đã được điều trị triệt 
để và ổn định. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Hẹp niệu quản bẩm sinh; hẹp niệu quản 
nhiều hơn 2 vị trí; hẹp niệu quản do lao niệu 
quản; hẹp niệu quản không đưa được guidewire 
qua khi nội soi niệu quản ngược chiều; ung thư 
niệu quản, bệnh nhân bị hẹp niệu đạo; hẹp cổ 
bàng quang, bệnh nhân có thai; kèm nhiễm 
khuẩn đường tiết niệu cấp tính, chưa điều trị. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp 
(case series). 
Các bước thực hiện 
Đánh giá trước mổ 
Bệnh nhân được làm đầy đủ các xét nghiệm 
cơ bản, đánh giá chức năng thận hai bên và tình 
trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Siêu âm, 
chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu để chẩn đoán xác 
định, đặc điểm, nguyên nhân bệnh lý hẹp niệu 
quản, xạ ký thận đồng vị phóng xạ có tiêm thuốc 
lợi tiểu quai để đánh giá chức năng thận riêng 
biệt và mức độ đào thải thuốc phóng xạ. Người 
bệnh được chuẩn bị trước phẫu thuật theo quy 
trình thống nhất: nhịn ăn, vệ sinh vùng phẫu 
thuật và toàn thân. Có thể dùng kháng sinh dự 
phòng trước mổ hoặc không tùy theo chỉ định. 
Dụng cụ phẫu thuật 
1 guidewire mềm hydrophylic, 2 guidewire 
cứng PTFE, 1 thông niệu quản 6Fr hoặc 7 Fr, 1 
bóng nong mạch máu ngoại biên passeo 35, 2 
thông double J 5Fr, 1 bộ bơm xả áp lực bóng. 
Kỹ thuật mổ 
Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, nằm 
tư thế sản phụ khoa. Đưa máy soi vào bàng 
quang xác định vị trí 2 lỗ niệu quản. Đưa máy 
soi lên niệu quản cần can thiệp dưới hướng dẫn 
của guidewire mềm đến dưới đoạn hẹp. Chụp 
niệu quản bể thận ngược dòng bằng thuốc cản 
quang, quan sát trên màn hình C-arm xác định 
vị trí, chiều dài đoạn hẹp. Đánh dấu đoạn hẹp 
trên màn hình C-arm (Hình 1). 
Hình 1: Hình ảnh đoạn niệu quản hẹp trên C-arm 
Đưa bóng nong theo micro guidewire lên 
niệu quản, qua chỗ hẹp sao cho đoạn hẹp đã 
đánh dấu trên màn hình nằm giữa vị trí 2 
marker của bóng. Sau đó bóng được bơm dưới 
áp lực từ 10-14 Atm. Đoạn hẹp sẽ bung ra đều 
theo chu vi niệu quản, quan sát thấy chỗ hẹp 
‘thắt eo’ biến mất trên màn hình C-arm. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 236 
Hình 2: Hình ảnh chỗ hẹp thắt eo biến mất trên C-arm 
Khi đó, giữ áp lực bóng 5 phút rồi xả bóng. 
Rút bóng ra ngoài cơ thể. Đặt 2 thông double J. 
Kiểm tra thấy thông double J đúng vị trí. 
Hình 3: Hình ảnh đặt 2 thông double J sau nong bóng 
Rút máy soi niệu quản. Đặt thông Foley niệu 
đạo lưu. Kết thúc phẫu thuật. 
Điều trị và theo dõi sau mổ 
Rút thông tiểu ở hậu phẫu ngày 1. Hậu phẫu 
ngày 2 cho bệnh nhân xuất viện. Rút thông 
double J sau 2 tháng. Tái khám đánh giá kết quả 
sớm sau rút thông double J 3 tháng. Đánh giá kết 
quả dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm 
sàng: chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu và xạ ký 
thận đồng vị phóng xạ có tiêm thuốc lợi tiểu 
quai. Các tiêu chuẩn để đánh giá kết quả sớm 
như sau: 
Tốt: lâm sàng không đau hông lưng và 
không nhiễm khuẩn đường tiết niệu, CTscans 
giảm phân độ ứ nước của thận hoặc không ứ 
nước và không có hình ảnh hẹp NQ, Xạ ký thận 
ĐVPX chức năng của thận bệnh lý ổn định hoặc 
cải thiện so với trước mổ. 
Trung bình: lâm sàng không đau hông lưng 
và không nhiễm khuẩn đường tiết niệu, CTscans 
không giảm phân độ ứ nước và không có hình 
ảnh hẹp NQ, Xạ ký thận ĐVPX chức năng thận 
bệnh lý giảm nhưng có đào thải phóng xạ. 
Xấu: lâm sàng còn đau hông lưng hoặc 
nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái phát, CTscans 
tăng hoặc không giảm phân độ ứ nước và có 
hình ảnh hẹp NQ, Xạ ký thận ĐVPX chức năng 
thận bệnh lý tiếp tục giảm và không đào thải 
phóng xạ. 
Thành công: khi kết quả đạt được là tốt hoặc 
trung bình. 
Thất bại: khi kết quả đạt được là xấu. 
Xử lý số liệu 
Xử lý và phân tích thống kê số liệu dựa trên 
phần mềm Stata 15.1 (quản lý, tính toán và xử lý 
các dữ liệu thống kê với các thuật toán thống kê 
y học, phân tích giá trị trung bình, độ sai số 
chuẩn). Các biến định lượng: tính trị số trung 
bình và độ lệch chuẩn cho các biến liên tục. Các 
trị số được biểu thị bằng số trung bình ± độ lệch 
chuẩn. Các biến định tính: tính tần suất và tỉ lệ 
phần trăm. Tính trị số p và khác biệt có ý nghĩa 
thống kê khi p <0,05. Kiểm định giả thiết thống 
kê: kiểm định chi bình phương, kiểm định 
Fisher’s exact, kiểm định Kruskal-Wallis. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 189/HĐĐĐ, ngày 
06/3/2020. 
KẾT QUẢ 
35 BN với 37 niệu quản hẹp được phẫu thuật 
gồm: 12 nam và 23 nữ với độ tuổi trung bình 
47,7 ± 15,8 tuổi, nhỏ nhất 15 tuổi, lớn nhất 72 
tuổi. Đa số các TH (24 BN, chiếm tỉ lệ 68,6%) ở 
độ tuổi 20-60 tuổi. Lý do vào viện chủ yếu là là 
đau hông lưng (94,3%), còn lại là sốt lạnh run 
5,7% và tiểu máu 2,9%. Thận to chiếm 5,4%. 
Có 33/35 BN (chiếm 94,3%) có tiền căn phẫu 
thuật trước đó. Đa số BN đã được phẫu thuật tiết 
niệu chiếm tỉ lệ 72,9% (26 BN). Có 7 BN hẹp NQ 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 237 
sau các phẫu thuật sản phụ khoa, chiếm tỉ lệ 
21,7%. Có 2 BN bị hẹp NQ nhưng không có tiền 
căn bệnh lý nên được xếp vào nhóm vô căn 
(Bảng 1). 
Bảng 1: Tiền căn phẫu thuật gây hẹp niệu quản 
(n=37) 
Nguyên nhân hẹp niệu quản Số NQ Tỉ lệ (%) 
Phẫu thuật 
tiết niệu (26 
BN) 
Nội soi tán sỏi NQ ngược 
chiều 
14 
72,9 
Nội soi sau phúc mạc lấy sỏi 
NQ 
5 
Tái phát sau xẻ hẹp NQ bằng 
Laser 
1 
Mổ mở lấy sỏi thận 4 
Tái phát sau mổ mở tạo hình 
NQ hẹp 
1 
Tái phát sau nội soi sau phúc 
mạc tạo hình khúc nối NQ-
bể thận 
2 
Phẫu thuật 
sản phụ 
khoa (7 BN) 
Mổ cắt tử cung + xạ trị 4 
21,7 
Mổ cắt tử cung do u xơ 1 
Mổ cắt u buồng trứng 2 
Mổ mở thai ngoài tử cung 1 
Vô căn (2 BN) 2 5,4 
Tổng số 37 100 
Bảng 2: Vị trí hẹp niệu quản (n=37) 
Vị trí hẹp 1/3 trên 1/3 giữa 1/3 dưới Tổng 
Số NQ 21 4 12 37 
Tỉ lệ (%) 56,8 10,8 32,4 100 
Chụp UPR trong lúc mổ cho thấy hẹp NQ 
chủ yếu ở NQ 1/3 trên với 22 TH (56,8%), NQ 1/3 
dưới là 11 TH (32,4%) và NQ 1/3 giữa chỉ 4 TH 
(10,8%) (Bảng 2). 
Bảng 3: Chiều dài đoạn hẹp (n=37) 
Chiều dài đoạn hẹp niệu 
quản (cm) 
≤1 1,1-1,9 ≥2 Tổng 
Số NQ 21 12 4 37 
Tỉ lệ (%) 56,8 32,4 10,8 100 
Chiều dài đoạn hẹp NQ trung bình là 1,1 ± 
0,6cm (0,4-3cm). Đa số đoạn hẹp có chiều dài từ 
<2 cm (chiếm 89,2%) (Bảng 3). 
Bảng 4: Kết quả chụp CTscans hệ tiết niệu trước mổ 
(n=37) 
Ảnh hưởng 
lên thận 
Bình 
thường 
(không ứ 
nước) 
Ứ nước 
Tổng số 
Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4 
Số thận - NQ 0 3 18 16 0 37 
Tỉ lệ (%) 0 8,1 48,6 43,3 0 100 
Tất cả bệnh nhân đều phát hiện ứ nước 
cùng bên tổn thương. Thận ứ nước độ 2, độ 3 
chiếm đa số 91,9%. Thận ứ nước độ I chiếm 
8,1% (Bảng 4). 
Kết quả phẫu thuật 
Thời gian phẫu thuật trung bình là 48,7 ± 
20,9 phút (20-100 phút). Đa số các BN được phẫu 
thuật trong khoảng <60 phút (65,7%). 
Thời gian nằm viện trung bình sau mổ là 3,1 
± 1,6 ngày (1-10 ngày). 
Thời gian theo dõi trung bình 13,5 ± 8,4 
tháng (3-30 tháng). 
Bảng 5: Tổng kết các yếu tố đánh giá kết quả phẫu 
thuật (n=37) 
Yếu tố 
Số 
lượng 
Tốt 
Trung 
bình 
Xấu 
Thất bại 
không theo 
dõi 
Lâm sàng 32 31 // 1 
5 
CTscans 32 20 11 1 
Xạ ký thận 
ĐVPX 
13 4 7 2 
Kết quả phẫu thuật: tốt 19/37 TH (51,2%), 
trung bình 10/37 TH (27,1%), xấu 8/37 TH 
(21,7%). 
Tỉ lệ thành công: 29/37 TH (78,3%), tỉ lệ thất 
bại: 8/37 TH (21,7%). 
BÀN LUẬN 
Tuổi trung bình của BN là 47,7 ± 15,8 tuổi, 
nhỏ nhất 15 tuổi, lớn nhất 72 tuổi. Đa số TH 
(24 BN, chiếm tỉ lệ 68,6%) ở độ tuổi 20-60, phù 
hợp với đặc điểm của bệnh lý cũng như đa số 
BN đến khám tại khoa Tiết niệu là người lớn. 
Đa số BN nằm trong độ tuổi lao động, điều 
này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc 
sống của BN và năng suất lao động của xã hội. 
Tỉ lệ nam/nữ là 12/23 (34,3%). Tỉ lệ BN nữ 
nhiều hơn BN nam do ngoài những phẫu 
thuật ổ bụng giống nam giới, nữ giới còn có 
những phẫu thuật sản phụ khoa như: mổ lấy 
thai, cắt tử cung, cắt u nang buồng trứng 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 94,3% bệnh 
nhân đều đã được phẫu thuật tiết niệu và sản 
phụ khoa. Trong đó, nội soi tán sỏi niệu quản 
ngược chiều gây hẹp niệu quản chiếm tỉ lệ đến 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 238 
53,8% trong nhóm nguyên nhân do phẫu thuật 
tiết niệu. Sự hình thành hẹp niệu quản do nội soi 
niệu quản là kết quả của chấn thương lớp niêm 
mạc và lớp mô liên kết nằm bên dưới, dẫn đến 
tổn thương mạch máu nuôi, xơ hóa, và cuối 
cùng dẫn đến hẹp lòng niệu quản(6). Cơ chế chấn 
thương xảy ra rất đa dạng, có thể là do thầy 
thuốc gây thủng niệu quản khi đặt dây dẫn 
đường, thao tác nội soi, năng lượng tán sỏi 
không phù hợp, lấy sỏi ra ngoài Hay cũng có 
thể là do sỏi khảm gây ra. 
Tỉ lệ thành công đạt được trong nghiên cứu 
là 78,3% với thời gian theo dõi trung bình 13,5 ± 
8,4 tháng. Hiệu quả điều trị của phẫu thuật nội 
soi nong bóng có thể khác nhau phụ thuộc vào 
những yếu tố của đoạn hẹp niệu quản như: 
chiều dài đoạn hẹp (quan trọng nhất), bản chất, 
vị trí, và thời gian hình thành(7). 
Khi chiều dài đoạn hẹp lớn hơn 2cm, hiệu 
quả điều trị sẽ giảm đáng kể. Richter và cộng sự 
(2000)(8) đã báo cáo tỉ lệ thành công của phẫu 
thuật nội soi nong bóng trên bệnh nhân có chiều 
dài đoạn hẹp niệu quản <2 cm và ≥2 cm lần lượt 
là 83,3% (35/42 trường hợp) và 28,6% (4/14 
trường hợp). Tương tự, Byun SS (2003)(9) cho 
thấy, trong khi tỉ lệ thành công đối với đoạn hẹp 
<2 cm sau 12 tháng và 36 tháng theo dõi lần lượt 
là 56% và 47%, thì không có bệnh nhân nào có 
đoạn hẹp ≥2 cm được điều trị thành công với 
cùng thời gian theo dõi như vậy. Một nghiên 
cứu phân tích tổng hợp của tác giả Chaoyue L 
(2019)(7) đã xác nhận rằng, tỉ lệ thành công cao 
hơn nhiều ở nhóm có đoạn hẹp niệu quản <2 cm 
so với nhóm có đoạn hẹp ≥2 cm (69% so với 
19%). Tình trạng nhiễm khuẩn trước đó, sự thoát 
nước tiểu và tổn thương mạch máu có thể là 
những yếu tố hình thành nên đoạn hẹp niệu 
quản dài, và khả năng chống lại sự nong rộng 
của niệu quản. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ thành 
công cao nhất khi đoạn hẹp niệu quản ≤1 cm, đạt 
đến 95,2%. Khi đoạn hẹp ≥2 cm, tỉ lệ thành công 
chỉ 25%. Kết quả này tương đồng với các nghiên 
cứu trên. Do đó, chúng tôi đề nghị phương pháp 
này chỉ nên chỉ định trên bệnh nhân có đoạn hẹp 
niệu quản <2 cm. 
Vị trí hẹp cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu 
quả điều trị của phẫu thuật nội soi nong bóng, 
mặc dù các báo cáo trong y văn vẫn còn mâu 
thuẫn. Các nghiên cứu của Byun SS (2003)(9) và 
Corcoran AT (2009)(10) không tìm thấy mối liên 
hệ giữa vị trí hẹp niệu quản và tỉ lệ thành công, 
tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi. 
Ngược lại, nghiên cứu của Hafez KS (2003)(11) 
cho thấy hẹp niệu quản vị trí 1/3 giữa có tỉ lệ thất 
bại cao hơn. 
Một yếu tố khác quyết định hiệu quả điều trị 
là bản chất của hẹp niệu quản, bao gồm: lành 
tính hay ác tính, và thiếu máu nuôi hay không 
thiếu máu nuôi. Byun SS (2003)(9) cho thấy tỉ lệ 
thành công của điều trị hẹp niệu quản lành tính 
lần lượt là 67% và 57% ở 12 tháng và 36 tháng, 
trong khi kết quả điều trị thành công hẹp niệu 
quản ác tính chỉ lần lượt là 18% và 14% với cùng 
thời gian theo dõi. Richter F (2003)(8) đã báo cáo tỉ 
lệ thành công của phẫu thuật nội soi nong bóng 
điều trị hẹp niệu quản không thiếu máu nuôi là 
80% (36/45 trường hợp), trong khi tỉ lệ thành 
công ở nhóm hẹp niệu quản có thiếu máu nuôi 
chỉ là 27% (3/11 trường hợp). Tuy nhiên, những 
kết quả này cần được nghiên cứu thêm vì chưa 
có định nghĩa thống nhất về hẹp niệu quản có 
thiếu máu nuôi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
tỉ lệ thành công giữa 2 nhóm hẹp niệu quản lành 
tính và ác tính lại không khác nhau, khác với các 
nghiên cứu trên. 
Ngoài ra, thời gian từ khi hình thành hẹp 
niệu quản đến khi điều trị cũng ảnh hưởng đến 
tỉ lệ thành công của phẫu thuật nội soi nong 
bóng. Do đây là nghiên cứu hồi cứu nên chúng 
tôi không thể ghi nhận được đặc điểm này trong 
hồ sơ. Đây cũng là 1 giới hạn của nghiên cứu. 
Trong phân tích tổng hợp của Chaoyue L 
(2019)(7), nong bóng đạt tỉ lệ thành công 65% 
trong trường hợp hẹp niệu quản có thời gian 
hình thành ≤3 tháng và 52% khi hẹp niệu quản 
>3 tháng, cho thấy nên điều trị sớm hẹp niệu 
quản có thể đạt được kết quả tốt hơn. Một đoạn 
hẹp niệu quản lâu ngày bị xơ hóa dày đặc và 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 239 
nhiều hơn, dẫn đến chèn ép mạch máu nuôi gây 
giảm tốc độ dòng máu. Sự giảm cung cấp ôxy lại 
gây ra xơ hóa, hình thành 1 lớp xơ dày đặc bao 
quanh niệu quản tạo nên 1 vòng bệnh lý. Hơn 
nữa, những tổn thương khi nong đoạn hẹp được 
chữa trị bằng cách lắng đọng các nguyên bào sợi, 
lại tạo thành 1 vòng bệnh lý. Điều này nhấn 
mạnh việc phát hiện sớm và điều trị sớm hẹp 
niệu quản. 
Thất bại của phẫu thuật là do hẹp niệu quản 
tái phát tại chỗ đã can thiệp nội soi nong bóng. 
Để xử trí các trường hợp thất bại, có nhiều 
phương pháp đã được thực hiện và báo cáo. 
Byun SS (2003)(9) và Corcoran AT (2009)(10) đề 
nghị nội soi nong niệu quản bằng bóng lần hai 
hoặc nội soi xẻ hẹp niệu quản để xử trí các 
trường hợp thất bại phẫu thuật nội soi nong 
bóng lần đầu. Tỉ lệ thành công khi điều trị các 
trường hợp thất bại là 60%. Các tác giả đề nghị 
nội soi nong bóng lần hai hay nội soi xẻ hẹp niệu 
quản nên được lựa chọn điều trị các trường hợp 
hẹp niệu quản tái phát trước khi quyết định tạo 
hình niệu quản bằng mổ mở hay nội soi. Trong 
nghiên cứu có 8 TH thất bại được chúng tôi xử lý 
như sau: 4 TH được phẫu thuật cắt đoạn NQ nối 
tận-tận, 1 TH cắm lại NQ vào bàng quang, 3 TH 
đặt thông double J thay định kỳ. 
Những tai biến trong mổ được mô tả trong y 
văn bao gồm: chảy máu, vỡ bóng, thủng niệu 
quản, chuyển mổ hở. Vỡ bóng là do bơm áp lực 
vượt quá khuyến cáo của nhà sản xuất, có thể 
gây tổn thương niệu quản, chảy máu nặng, khả 
năng chuyển mổ mở để tạo hình niệu quản do 
không định vị được đường đi của niệu quản 
nữa Tuy nhiên tai biến vỡ bóng rất hiếm xảy 
ra và trong nhiều nghiên cứu gần đây không 
được ghi nhận trường hợp nào. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi không ghi nhận tai biến trong 
mổ nào. 
Các biến chứng sớm sau mổ được báo cáo 
như: chảy máu, tụ máu và nước tiểu sau phúc 
mạc, tiểu máu kéo dài >1 tuần, nhiễm khuẩn 
đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết, rò niệu 
quản ruột(8,9,12). Nghiên cứu của chúng tôi ghi 
nhận 2 trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu 
sau mổ (chiếm tỉ lệ 5,7%) và 1 trường hợp tụ 
máu dưới bao thận và sau phúc mạc (chiếm tỉ lệ 
2,9%). Các bệnh nhân được xử trí nội khoa, theo 
dõi, không cần phẫu thuật. Chúng tôi nghĩ rằng 
khi phẫu thuật nong niệu quản bằng bóng làm 
niệu quản bị rách và chảy máu, dẫn đến tụ máu 
sau phúc mạc. Mặt khác, việc bơm nước và chất 
cản quang vào niệu quản trong lúc phẫu thuật 
làm cho thận bị căng ra, dẫn đến tổn thương gây 
chảy máu, tụ máu dưới bao thận. 
KẾT LUẬN 
Điều trị hẹp niệu quản bằng phương pháp 
nội soi nong bóng có tỷ lệ thành công cao, dễ 
thực hiện, đường cong học tập ngắn với ít biến 
chứng và chi phí điều trị thấp hơn. Đặc biệt trên 
những bệnh nhân có nhiều nguy cơ phẫu thuật, 
tiên lượng cuộc mổ mở tạo hình khó khăn vì vết 
mổ cũ, bệnh nhân có chất lượng cuộc sống bị 
ảnh hưởng nặng nề vì hẹp niệu quản tái phát, 
phương pháp này sẽ là một cứu cánh và nên 
được cân nhắc là phương pháp tiếp cận ban đầu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Michael Z, Ali F, Joel H, Majid E (2019). Endoscopic 
Management of Distal Ureteral Strictures. In: Arthur DS, Glenn 
MP, Louis RK, Gopal HB. Smith′s Textbook of Endourology, vol 
1, 4th Edition, pp.604-627. John Wiley & Sons, New York, NY. 
2. Stephen YN, Sara LB (2020). Management of Upper Urinary 
Tract Obstruction. In: Alan WB, Roger RD, Louis RK, Craig AP. 
Campbell-Walsh-Wein Urology, 12th Edition, pp.1942-1981. 
Saunders Elsevier, Philadelphia, PA. 
3. Tyritzis SI, Wiklund NP (2015). Ureteral strictures revisited 
trying to see the light at the end of the tunnel: a comprehensive 
review. Journal of Endourology, 29(2):124-136. 
4. Fasihuddin Q, Abel F, Hasan AT, et al. (2001). Effectiveness of 
endoscopic and open surgical management in benign ureteral 
strictures. Journal of Pakítan Medical Association, 51(10):351-3. 
5. Kuntz NJ, Neisius A, Tsivian M, et al. (2015). Balloon Dilation of 
the Ureter: A Contemporary Review of Outcomes and 
Complications. Journal of Urology, 194(2):413-417. 
6. Justin BZ, Brian RM (2018). Complications of ureteroscopic 
surgery. In: Samir ST, Ojas S. Taneja's complications of urologic 
surgery: diagnosis, prevention and management, 5th Edition, 
pp.275-285. Elservier, New York, NY. 
7. Chaoyue L, Wei Z, Yonghan P (2019). Endoscopic Balloon 
Dilatation in the Treatment of Benign Ureteral Strictures: A 
Meta-Analysis and Systematic Review. Journal of Endourology, 
33(4):255-262. 
8. Richter F, Irwin RJ, Watson RA, et al. (2000). Endourologic 
management of benign ureteral strictures with and without 
compromised vascular supply. Urology, 55(5):652-656. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 240 
9. Byun SS, Kim JH, Oh SJ (2003). Simple retrograde balloon 
dilation for treatment of ureteral strictures: etiology-based 
analysis. Yonsei Medical Journal, 44(2):273-278. 
10. Corcoran AT, Smaldone MC, Ricchiuti DD, et al. (2009). 
Management of benign ureteral strictures in the endoscopic era. 
Journal of Endourology, 23(11):1909-1912. 
11. Hafez KS, Wolf JS (2003). Update on minimally invasive 
management of ureteral strictures. Journal of Endourology, 
17(7):453-464. 
12. Lim GW, Yu YD, Choi KH, et al. (2018). Retrograde balloon 
dilation as a therapeutic option for post-gynecologic surgery 
ureteral stricture followed by ureteroureterostomy: a 
comparative study regarding stricture length. Yeungnam 
University Journal of Medicine, 35(2):179-186. 
Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_som_dieu_tri_hep_nieu_quan_bang_phuong_phap_noi_soi.pdf