Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập trong điều trị sỏi gan

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập (ĐRBL) trong điều trị sỏi gan là phẫu thuật

phức tạp, và việc ứng dụng phẫu thuật nội soi rất hạn chế.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi (PTNS) nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập điều trị

sỏi gan (SG).

Đối tượng - Phương pháp: Mô tả loạt trường hợp (TH) bệnh nhân sỏi gan có hoặc không kèm sỏi ngoài

gan (sỏi ống mật chủ: OMC) được phẫu thuật nội soi và nội soi đường mật, sau đó được nối mật da bằng đoạn

ruột biệt lập có hoặc không chuyển mổ mở và cắt gan trong năm 2015 - 2020.

Kết quả: 33 trường hợp. Trong đó sau khi nội soi thám sát đường mật và lấy sỏi, có 7 TH cắt một phần gan

(bên trái) trước khi nối mật da. PTNS thực hiện thành công 25/33 (75,8%) TH, 8 TH chuyển mổ mở sau khi nội

soi ổ bụng và nội soi đường mật thám sát: trong đó 6 TH cắt gan kèm theo và 2 TH nối ĐRBL. 48,5% (16/33)

TH sạch sỏi sau phẫu thuật, 94% (31/33) TH sạch sỏi sau điều trị, 40 lần NSĐM sau mổ. Tai biến, biến chứng: 1

TH rò miệng nối ruột non trong PT nối ĐRBL kéo dài chỉ cần điều trị nội khoa, 1 TH rò mật ở miệng nối OMC

ruột, nhiễm trùng vết mổ, tắc ruột non do lồng ruột tại miệng nối ruột non cần phẫu thuật lại. Không có tử vong.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập trong điều trị sỏi gan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập trong điều trị sỏi gan

Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập trong điều trị sỏi gan
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 186 
KẾT QUẢ SỚM CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI NỐI MẬT DA 
BẰNG ĐOẠN RUỘT BIỆT LẬP TRONG ĐIỀU TRỊ SỎI GAN 
Võ Đại Dũng1, Nguyễn Trung Hiếu2, Trịnh Du Dương1, Phan Minh Trí3, Trần Văn Phơi3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Phẫu thuật nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập (ĐRBL) trong điều trị sỏi gan là phẫu thuật 
phức tạp, và việc ứng dụng phẫu thuật nội soi rất hạn chế. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi (PTNS) nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập điều trị 
sỏi gan (SG). 
Đối tượng - Phương pháp: Mô tả loạt trường hợp (TH) bệnh nhân sỏi gan có hoặc không kèm sỏi ngoài 
gan (sỏi ống mật chủ: OMC) được phẫu thuật nội soi và nội soi đường mật, sau đó được nối mật da bằng đoạn 
ruột biệt lập có hoặc không chuyển mổ mở và cắt gan trong năm 2015 - 2020. 
Kết quả: 33 trường hợp. Trong đó sau khi nội soi thám sát đường mật và lấy sỏi, có 7 TH cắt một phần gan 
(bên trái) trước khi nối mật da. PTNS thực hiện thành công 25/33 (75,8%) TH, 8 TH chuyển mổ mở sau khi nội 
soi ổ bụng và nội soi đường mật thám sát: trong đó 6 TH cắt gan kèm theo và 2 TH nối ĐRBL. 48,5% (16/33) 
TH sạch sỏi sau phẫu thuật, 94% (31/33) TH sạch sỏi sau điều trị, 40 lần NSĐM sau mổ. Tai biến, biến chứng: 1 
TH rò miệng nối ruột non trong PT nối ĐRBL kéo dài chỉ cần điều trị nội khoa, 1 TH rò mật ở miệng nối OMC 
ruột, nhiễm trùng vết mổ, tắc ruột non do lồng ruột tại miệng nối ruột non cần phẫu thuật lại. Không có tử vong. 
Kết luận: Nối đoạn ruột biệt lập trong điều trị sỏi gan là phẫu thuật khá phức tạp, đặc biệt trong những 
trường hợp cần cắt gan kèm theo, tuy nhiên vẫn có thể thực hiện thành công bằng phẫu thuật nội soi một cách an 
toàn và hiệu quả. 
Từ khóa: phẫu thuật nội soi, nội soi đường mật, sỏi trong gan 
ABSTRACT 
EVALUATING THE EARLY RESULT OF LAPAROSCOPIC CHOLEDOCHOSTOMY THROUGH AN 
ISOLATED JEJUNUM TREATMENT FOR HEPATOLITHIASIS 
Vo Dai Dung, Nguyen Trung Hieu, Trinh Du Duong, Phan Minh Tri, Tran Văn Phoi 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 186-192 
Background: Choledochostomy through an isolated jejunum treatment for hepatolithiasis is a complex 
surgery and the application of laparoscopy are very limited. 
Objective: To evaluate the early results of laparoscopic choledochostomy through an isolated jejunum 
treatment for hepatolithiasis. 
Methods: Case series study all of hepatolithiasis patients were operated by laparoscopic surgery with 
cholangioscopy, then performed choledochostomy through an isolated jejunum with or without converted to 
laparotomy and hepatectomy from 2015 to 2020. 
Results: 33 hepatolithiasis patients with or without common bile duct stones were operated by laparoscopic 
surgery with choledochotomy and cholangioscopy via “cutaneous-bilio tube” to remove stones. We performed 26 
choledochostomy through an isolated jejunum and 7 choledochostomy through an isolated jejunum accompanied 
1Bệnh viện Trưng Vương, TP. Hồ Chí Minh 2Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 
3Bộ môn Ngoại, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Võ Đại Dũng ĐT: 0985 990 609 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 187 
hepatectomy (left or segment of left lobe or left lobe hepatectomy). Laparoscopic surgery completed in 75.8% 
(25/33) of total cases, 8 cases converted to laparotomy included 6 hepatectomy and 2 without hepatectomy. 48.5% 
(16/33) of total cases, the stones were completely cleared, postoperatively. 94% (31/33) of total cases, the stones 
were completely cleared, including post-operative cholangioscopy for potential residual stones retrieval. 40 times 
of cholangioscopy after surgery. Complications: 1 patient had a prolonged jejunojejunal anastomosis leak only 
required conservation. 1 patient had choledochojejunostomy leakage, infection of surgery site and intussusception 
at jejunojejunal anastomosis site that required reoperation. No mortality. 
Conclusion: Choledochostomy through an isolated jejunum in intrahepatic stones management is rather a 
complex surgery, especially in cases that required concurrent hepatectomy. However, this surgery can be 
performed successfully via endoscopic surgery. 
Key words: laparoscopic surgery, cholangioscopy, intrahepatic stones 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sỏi gan (SG) là bệnh lý phức tạp vì những 
diễn biến và biến chứng đa dạng khó lường như 
viêm đường mật hay ung thư đường mật, cũng 
như các quan điểm điều trị còn chưa thống nhất 
ở Việt Nam hay các nước khác trên thế giới, vì 
vậy việc điều trị còn vẫn gặp nhiều khó khăn(1,2). 
Hiện nay, có nhiều biện pháp can thiệp không 
mổ như lấy sỏi qua da hay qua đường miệng(3,4), 
ngoài ra sự phổ biến của phẫu thuật cắt gan triệt 
để đã làm tăng hiệu quả trong điều trị sỏi gan(5,6). 
Nhưng, bệnh sỏi gan thường xuất hiện ở nhiều 
thùy gan, và khả năng tái phát của bệnh lý ngay 
cả ở những trường hợp đã cắt gan khiến cho việc 
điều trị lâu dài càng nan giải(7,8). 
Vì vậy việc tạo một ngõ vào lâu dài và thuận 
tiện cho việc can thiệp sỏi tái phát là một giải 
pháp nên được cân nhắc trong nhiều trường 
hợp. Trong đó phương pháp tạo ngõ vào lâu dài 
bằng đoạn ruột biệt lập đã được đề cập, ứng 
dụng và chứng minh hiệu quả trong nhiều 
nghiên cứu(9). Không những tạo một đường vào 
ngắn, thẳng, hiệu quả cho việc nội soi đường 
mật và can thiệp sỏi, mà còn bảo tồn được chức 
năng cơ vòng Oddi, tránh được nguy cơ viêm 
đường mật trào ngược của phẫu thuật nối mật 
ruột thông thường(7,10,11). 
Để bệnh nhân có thể vừa được hưởng lợi ích 
của phẫu thuật nội soi (PTNS), chúng tôi đã tạo 
một ống nối da mật để thực hiện việc lấy sỏi và 
đánh giá bệnh lý sỏi gan tối đa trong trong mổ, 
nhằm đưa ra chỉ định tạo ngõ vào lâu dài phù 
hợp trong mỗi trường hợp (TH), từng bước cải 
thiện các kỹ thuật mổ trong phương pháp. Và 
đến nay, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 
nhằm đánh giá kết quả của PTNS nối mật da 
bằng đoạn ruột biệt lập (ĐRBL) (2015-2020) tại 
bệnh viện Trưng Vương(11). 
Hình 1: Phẫu thuật nối mật da bằng đoạn ruột 
biệt lập(9,12) 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Những bệnh nhân được chẩn đoán có SG có 
hoặc không kèm sỏi ống mật chủ (OMC) được 
PTNS mở OMC và nội soi đường mật (NSĐM) 
trong mổ, đánh giá chức năng cơ vòng Oddi, có 
hoặc không kết hợp với cắt gan/cắt túi mật. Sau 
đó tiến hành nối mật da bằng đoạn ruột biệt lập. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Mô tả loạt ca. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 188 
Kỹ thuật can thiệp 
Dàn máy PTNS và các dụng cụ cắt túi mật 
và mở OMC thông thường. Ống soi mềm 
đường mật CHF-P20Q của Olympus hoặc của 
Karl Storz, máy tán sỏi thủy điện lực 
Calcutript. Dao cắt đốt siêu âm (harmonic), 
Các dụng cụ lấy sỏi khác: Rọ, kềm gắp sỏi, ống 
bơm rửa đường mật. Bộ ống nối da-mật, 
đường kính 8-12 mm, dài 8-15 cm, được uốn 
cong từ thành bụng đến chỗ mở OMC. 
Hình 2: Ống nối da mật(11). 
Vào bụng 4 trocar như phẫu thuật cắt túi 
mật, mở OMC thông thường, trocar thượng vị 
(10 mm) sẽ được thay đổi để tiện cho việc đặt 
ống nối và thường đặt sau cùng khi đã xác định 
được vị trí của OMC. Vị trí được chọn là dưới bờ 
sườn phải 2-3cm trên đường trung đòn. Vị trí 
này thường cũng là vị trí đính đầu ruột ra thành 
bụng. Có thể bổ sung nhiều trocar để hỗ trợ gỡ 
dính hay cắt gan. 
Ống soi đường mật kết hợp với ống nối da-
mật sẽ lấy sạch sỏi OMC và thám sát đánh giá 
chức năng cơ vòng Oddi. Sỏi gan sẽ được lấy và 
đường mật trong gan được thám sát tối đa có 
thể, kết hợp với quan sát bề mặt gan đại thể 
trong PTNS và tình trạng cụ thể mỗi TH. Nhóm 
nghiên cứu sẽ đưa ra chỉ định phương pháp 
phẫu thuật cụ thể tiếp theo và khi cần sẽ chuyển 
mổ mở can thiệp. Trong đó ngõ và lâu dài bằng 
đoạn ruột được thực hiện khi: 
+ Sỏi gan ± ngoài gan tái phát. 
+ Sỏi gan ± ngoài gan lần đầu nhưng sỏi 
phức tạp, ± hẹp đường mật, PTV đánh giá có 
khả năng tái phát cao. 
Với điều kiện: 
+ Oddi bình thường và 
+ Đã cắt túi mật hay túi mật không sỏi 
nhưng không có khả năng tạo đường vào: Túi 
mật viêm mạn tính teo nhỏ, vị trí, cấu trúc phễu 
túi mật và đáy túi mật không thuận lợi cho nối 
mật da hay không bảo tồn được động mạch túi 
mật trong quá trình phẫu tích. 
 - Có kèm cắt gan khi 
+ Sỏi tái phát. 
+ Xơ teo phần gan có sỏi. 
+ Hẹp đường mật nặng. 
+ Nghi ngờ ung thư đường mật. 
+ Sỏi nhiều lan tỏa ngoại vi, khả năng lấy 
sạch sỏi gần như không thể. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm bệnh lý dân số nghiên cứu 
Nữ /Nam: 25 TH/8 TH: 76%/24%. Tuổi TB: 52 
(32-79). 
5 TH cần dẫn lưu đường mật trước mổ. 28/33 
(85%) TH đã từng mở OMC. 
Phân độ ASA: I/II/III: 9/20/4 TH: 
27,3%/60,6%/12,1%. 
Trong 33 TH nối ĐRBL: thực hiện thành 
công qua nội soi 25 TH (24,2%), (có mở bụng nhỏ 
làm đoạn ruột). 8 TH còn lại sau khi nội soi thám 
sát đường mật và lấy sỏi trong thì PTNS, sau đó 
PTV quyết định chuyển mở mở trong đó là 6 TH 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 189 
cắt gan kèm theo và 2 TH nối ĐRBL. 
Tất cả các TH nối ĐRBL chúng tôi đều mở 
bụng nhỏ để làm đoạn ruột và cung mạc treo. 1 
TH nội soi hoàn toàn khi BN đã được nối mật 
ruột da nhưng không cắt ngang OMC, cơ vòng 
Oddi còn bình thường và việc trào ngược có thể 
gây viêm đường mật và sỏi tái phát nên chúng 
tôi quyết định sửa lại thành ĐRBL bằng cách cắt 
ngang quai ruột mà không cần khâu nối ruột lại. 
Trong 8 TH chuyển mở mở có 6 TH cắt gan 
kèm theo và 2 TH nối ĐRBL cần mở bụng để 
thuận tiện gở dính, phẫu tích, cắt gan hay tạo 
hình đường mật qua chỗ hẹp. 
Trong 7 TH cắt gan có 2 TH phẫu tích 
nguyên cuống và 5 TH phẫu tích từng thành. 3 
TH cắt gan trái (2-3-4), 3 TH cắt thùy trái (2-3), 
1 TH cắt HPT 3. Chỉ có 1 TH cắt gan (thùy trái 
2-3) và nối ĐRBL được thực hiện qua nội soi 
và đường mổ nhỏ mà không cần chuyển mở 
bụng lớn. 
Có 1 TH sỏi OMC đơn thuần chúng tôi đưa 
vào nghiên cứu do đây là trường hợp sỏi OMC 
tái phát sau sỏi trong ngoài gan đã được mở 
OMC nối mật da túi mật nhưng hẹp miệng nối 
túi mật nên được phẫu thuật lại. 
4 TH hẹp ống gan chung hay OMC, 1 TH 
ống mật chủ đôi (2 ống gan hợp lưu thấp). 
Chúng tôi sử dụng miệng nối mật ruột như một 
giải pháp tạo hình chỗ hẹp ống mật chủ hay ống 
gan chung, còn TH ống gan phải và trái hợp lưu 
thấp chúng tôi mở vào cả 2 ống gan can thiệp 
sỏi, sau đó tạo hình bằng cách khâu nối mặt 
trong của 2 ống gan vào nhau và nối ruột vào bờ 
ngoài 2 ống mật. 
Vị trí sỏi 
Bảng 1: Vị trí sỏi (N: 33) 
Vị trí sỏi Số TH Tỷ lệ (%) 
OMC 1 3,0 
Phải 4 12,1 
Hai bên 20 60,6 
Trái 8 24,2 
Tổng 33 100 
Sỏi gan đơn thuần: 4 TH, sỏi gan + OMC: 27 
TH, sỏi gan + túi mật: 1 TH 
Hẹp đường mật 
17/33 TH có hẹp đường mật (51,5%), trong 
đó 13 TH hẹp 1 vị trí và 4 TH hẹp nhiều vị trí 
Bảng 2: Vị trí hẹp đường mật (N: 33) 
Hẹp đường mật Số TH Tỷ lệ (%) 
Không hẹp 16 48,5 
OMC 4 12,1 
Phải 1 3,0 
2 bên 3 9,1 
Trái 9 27,3 
Tổng 33 100 
Lấy sỏi trong mổ 
Trong phẫu thuật PTV sẽ quyết định lấy sỏi 
tùy theo từng TH cụ thể: 19 TH (57,6%) lấy sạch 
sỏi theo quan sát trong mổ, 13 TH (39,4%) lấy 
phần lớn sỏi và 1 TH lấy ít sỏi. Sau mổ BN sẽ 
được kiểm tra lại bằng hỉnh ảnh học và nội soi 
đường mật nếu cần, và kết quả như sau: 
Bảng 3: Tình trạng sạch sau mổ (N: 33) 
Sạch sỏi sau mổ Số TH Tỷ lệ (%) 
Không 17 51,5 
Sạch 16 48,5 
Tổng 33 100 
48,5% (16/33) TH sạch sỏi sau mổ, 94% 
(31/33) sạch sỏi sau điều trị. 
40 lần NSĐM sau mổ: 8 TH soi kiểm tra, 32 
lần nội soi lấy sỏi sau mổ cho 17 TH còn sỏi. 
8 TH không cần soi sau mổ vì phẫu thuật 
viên (PTV) đã đánh giá sạch sỏi và các hình ảnh 
học sau mổ không ghi nhận sỏi. 
Bảng 4: Số lần nội soi đường mật (N: 33) 
Số lần NSĐM Số TH Tỷ lệ (%) 
0 8 24,2 
1 14 42,4 
2 7 21,2 
3 4 12,1 
Tổng 33 100 
Bảng 5: Tình trạng sạch sỏi sau điều trị (N: 33) 
Sạch sỏi sau điều trị Số TH Tỷ lệ (%) 
Không 2 6,1 
Sạch 31 93,9 
Tổng 33 100 
Thời gian phẫu thuật trung bình là 460 (60-
780) phút. 
Ngày nằm viện trung bình 20 ngày (9-51), 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 190 
hậu phẫu trung bình 12 ngày (4-25). 
Bảng 6: Sạch sỏi sau mổ với các đặc điểm bệnh lý (không tính TH chỉ có sỏi OMC) (N: 32). 
Sạch sỏi sau 
mổ 
Hẹp đường mật (%) Vị trí sỏi (%) PPPT (%) Tiền sử mở OMC (%) Tổng 
(%) Không Có Phải Hai bên Trái ĐRBL ĐRBL+CG Không Có 
Không 7 (41,2) 10 (58,8) 1 (5,9) 13 (76,5) 3 (17,6) 15 (88,2) 2 (11,8) 2 (11,8) 15 (88,2) 17 (53,1) 
Sạch 8 (53,3) 7 (46,7) 3 (20) 7 (46,7) 5 (33,3) 10 (66,7) 5 (33,3) 3 (20) 12 (80) 15 (46,9) 
Tổng 15 (46,9) 17 (53,1) 4 (12,5) 20 (62,5) 8 (25) 25 (78,1) 7 (21,9) 5 (15,6) 27 (84,4) 32 (100) 
Biến chứng 
1 TH rò miệng nối ruột non kéo dài trong PT 
nối ĐRBL, chỉ cần điều trị nội khoa. 1 TH rò mật 
ở miệng nối OMC ruột non + nhiễm trùng vết 
mổ + tắc ruột non do lồng ruột tại miệng nối ruột 
non cần phẫu thuật lại. Không có tử vong. 
Kết quả theo dõi tới 2020 hiện có 2 TH tái 
phát sỏi. 
BÀN LUẬN 
Thành công của phẫu thuật và tai biến biến chứng 
Phuật thuật nội soi nối đoạn ruột biệt lập có 
thể nói là một PT khá phức tạp trong bệnh lý sỏi 
gan vì gồm nhiều thì mổ: Gỡ dính thám sát gan 
và bộc lộ OMC (± cắt túi mật) → nội soi lấy sỏi 
và thám sát đường mật (→ ± cắt gan nếu có chỉ 
định) → mở bụng nhỏ 3-6 cm làm đoạn hỗng 
tràng biệt lập → nội soi ổ bụng trở lại đưa đoạn 
ruột qua chân mạc treo đại tràng ngang để nối 
vào ống mật chủ và đính vào thành bụng. Mỗi 
thì mổ có thể mất khoảng 1-2 tiếng, vì vậy cuộc 
mổ thường kéo dài, và kết quả trong nghiên cứu 
là 460 phút cũng tương đối kéo dài. Do đó hầu 
hết các trường hợp có kèm cắt gan, chúng tôi chủ 
động mổ mở nhằm rút ngắn thời gian mổ hơn. 
Việc nội soi ổ bụng gỡ dính mở OMC thám sát 
cũng giúp cho việc xác định đường mổ mở tối 
thiểu, hạn chế xâm hại hơn. 
Các thì mổ trong phương pháp này thường 
rất khó tiên lượng về thời gian đặc biệt khi PTNS 
vì trong mỗi trường hợp có thể rất khác nhau do 
mức độ viêm dính ruột và cuống gan, đặc điểm 
sỏi và hẹp đường mật, giải phẫu mạch máu mạc 
treo ruột non và những thay đổi trong giải phẫu 
đường mật. 
4 TH hẹp ống gan chung/OMC: chúng tôi 
mở ống mật trên và dưới chỗ hẹp #1,5 cm và 
khâu nối mật ruột qua chỗ hẹp nhằm sửa lại chỗ 
hẹp. Việc tạo hình đường mật qua chỗ hẹp bằng 
miệng nối mật ruột được thực hiện khá phổ biến 
trong hẹp miệng nối sau phẫu thuật nối mật ruột 
da hay hẹp quanh cuống gan trong bệnh lý sỏi 
gan. Tuy nhiên đối với phẫu thuật nối ĐRBL 
cũng ít được báo cáo. Việc mở OMC và khâu 
miệng nối mật ruột kèm tạo hình trong những 
TH này cũng cần thực hiện cẩn thận và mất thời 
gian hơn và nên phần lớn chúng tôi cần mổ mở 
để thao tác. 
Hiện chúng tôi cũng chưa ghi nhận báo cáo 
về PTNS trong phương pháp mổ này với số 
lượng lớn(9), mặc dù có nhiều các nghiên cứu 
ứng dụng PTNS rất phức tạp trong điều trị sỏi 
gan trên thế giới như cắt gan và đặc biệt là cắt 
gan phải(13). Có thể một vấn đề không phải ở kỹ 
thuật, mà là việc khó can thiệp sỏi trong PTNS 
đo tình trạng rơi vãi sỏi và thoát dịch trong 
bụng, điều mà chúng tôi đã khắc phục bằng bộ 
ống nối da mật trong PTNS. Chỉ với 2 biến 
chứng tương đối đáng ngại và không có tử vong, 
chúng tôi nghĩ rằng đây là một phương pháp 
khá an toàn và hiệu quả, với tỷ lệ thành công 
cao, việc rút ngắn thời gian mổ sẽ được cải thiện 
theo kinh nghiệm của PTV và sự phát triễn của 
của các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. 
Về khả năng sử lý sỏi và thám sát đường mật 
Đây là nghiên cứu về những trường hợp có 
chỉ định nối đoạn ruột biệt lập nên đối tượng 
bệnh nhân thường là nhiều sỏi, sỏi hai bên chiếm 
tỷ lệ cao, và thường kèm theo hẹp đường mật, có 
khả năng tái phát. 
Với ống nối mật da, chúng tôi thực hiện lấy 
sỏi trong mổ nhiều nhất có thể, tùy tình trạng 
bệnh nhân, phương pháp và thời gian mổ ước 
lượng, và mức độ hiệu quả của lấy sỏi trong mổ 
so với sau mổ, PTV sẽ quyết định ngừng lấy sỏi 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 191 
trong từng trường hợp cụ thể. Chúng tôi cũng 
chưa ghi nhận báo cáo nào mô tả việc lấy sỏi 
trong phẫu thuật nội soi, còn trong mổ hở các 
PTV có thể lấy sỏi tối đa(14). Trong một số TH cụ 
thể như sỏi quá nhiều, đường mật dãn rộng 
thành bụng mỏng, chúng tôi lựa chọn lấy sỏi qua 
đường mổ bụng nhỏ #4-5 cm là hiệu quả hơn so 
với ống nối mật da trong PTNS, ngoài ra việc tạo 
đoạn ruột và nối mật da củng có thể thực hiện 
qua đường mổ nhỏ này. 
Có thể nói việc nội soi đường mật và lấy sỏi 
trong mổ không những giúp nhiều BN không 
phải can thiệp thêm sau phẫu thuật (16/33TH 
(48,5%)) mà còn hạn chế số lần lấy sỏi sau mổ ở 
những TH còn sỏi, thể hiện qua kết quả: 40 
lần/33 TH (1,21 lần/1 TH), trong đó 14 TH soi 1 
lần, 7 TH soi 2 lần và 4 TH soi 3 lần. Việc chỉ có 
vài TH lấy sỏi tối da 3 lần sau mổ cũng cho thấy 
lợi ích của phương pháp so với các TH không 
lấy sỏi trong mổ. Ngoài ra có thể đưa ra chỉ định 
cắt gan phù hợp, kịp thời nhằm đem lại kết quả 
điều trị triệt để hơn. 
Trong 7 TH cắt gan kèm theo: chúng tôi thực 
hiện cắt gan theo giải phẫu và theo thương tổn 
đường mật dưới sự hỗ trợ của ống soi đường 
mật nhằm lấy hết thương tổn hẹp và sỏi trong 
đường mật. Phần lớn các trường hợp được phẫu 
tích nguyên cuống 3 thành phần và cắt gan theo 
đường tím bề mặt. Tuy nhiên đặc điểm của sỏi 
gan là đường mật viêm dãn, mô gan xơ teo, làm 
cho cuống gan viêm dày khá lớn gây khó khăn 
cho quá trình phẫu tích và việc kiểm soát 
nguyên cuống chứa ống mật bênh lý có thể gây 
hẹp hay gập góc ống mật không bệnh gần bên. 
Do đó trong vài trường hợp chúng tôi quyết 
định phẫu tích từng thành phần cuống gan trái, 
cột cắt động mạch gan trái và tĩnh mạch cửa trái 
trước, sau đó cắt gan theo đường tím và cuối 
cùng cắt mở đường mật bệnh lý nhằm quan sát 
trược tiếp các ống mật còn lại trong quá trình 
khâu đóng đường mật. Đây cũng là một trong 
những lý do phải mổ mở để phẫu thuật thuật 
tiện và an toàn hơn. 
Chúng tôi xem xét các mối liên quan của 
sạch sỏi sau mổ với các yếu tố đặc điểm bệnh lý 
như: hẹp đường mật, phương pháp phẫu thuật 
(có cắt gan hay không), vị trí sỏi, và tiền căn 
phẫu thuật mở OMC đã cho thấy: Tuy sự khác 
biệt không có ý nghĩa nhưng chúng tôi nhận 
thấy việc xử lý sạch sỏi trong mổ cũng có hiệu 
quả hơn đối với những trường hợp không có 
hẹp đường mật 8/15 TH (53%) so với 7/17 TH 
(41%) có hẹp, trường hợp có cắt gan 5/7 TH 
(71%) so với 10/25 TH (40%) không cắt gan, sỏi 
một bên 8/12 TH (67%) so với 7/20 TH (35%) sỏi 
hai bên và những trường hợp không có tiền căn 
mở OMC (không dính) 3/5 TH (60%) so với 
12/27 TH (44%) có tiền căn mở OMC. Tuy nhiên 
sự chênh lệch này sẽ ngày càng thu hẹp theo sự 
tiến bộ của phương tiện kỹ thuật và kinh nghiệm 
của PTV. 
KẾT LUẬN 
Với 33 trường hợp phẫu thuật nội soi nối 
mật da bằng đoạn ruột biệt lập nêu trên, chúng 
tôi có thể rút ra được những kết luận: Hầu hết 
các trường hợp mở OMC nội soi lấy sỏi trong 
mổ và nối đoạn ruột biệt lập có thể thực hiện 
qua nội soi an toàn và hiệu quả. Cần cân nhắc 
những trường hợp có cắt gan kèm theo. 
1. Về kết quả PTNS (phẫu thuật ít xâm hại): 
thành công 75,8%. Nếu chỉ tính các trường hợp 
nối ĐRBL (không cắt gan): 92%, đa số TH mổ 
mở liên quan tới cắt gan. 
2. Về hiệu quả lấy sỏi trong PT: 
- Tỷ lệ sạch sỏi sau mổ: 48,5% 
- Phẫu thuật nội soi có nội soi đường mật 
làm giảm số lần nội soi lấy sỏi sau mổ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh (2012). Ch 16. Sỏi đường 
mật chính. Trong - Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh. Sỏi 
đường mật, 337- 416. Nhà xuất bản Y học, TP. Hồ Chí Minh. 
2. Nguyễn Hoàng Bắc (2007). Chỉ định của phẫu thuật nội soi 
trong điều trị sỏi đường mật chính. Luận án Tiến sĩ Y học, Đại 
học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
3. Đặng Tâm (2004). Xác định vai trò của phương pháp tán sỏi 
mật qua da bằng điện-thủy lực. Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh. 
4. Lee SK, Seo DW, Myung SJ, et al (2001). Percutaneous 
transhepatic cholangioscopic treatment for hepatolithiasis: An 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Sinh Học Phân Tử 192 
evaluation of long-term results and risk factors for recurrence. 
Gastrointest Endosc, 53(3):318-23. 
5. Đoàn Văn Trân (2014). Phẫu thuật cắt gan theo giải phẫu và 
theo thương tổn điều trị sỏi đường mật trong gan. Luận văn 
Chuyên khoa cấp II, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch. 
6. Lai EC, Ngai TC, Yang GPC, Li MKW (2010). Laparoscopic 
approach of surgical treatment for primary hepatolithiasis: a 
cohort study. Am J Surg,199:716–721. 
7. Lê Nguyên Khôi (2008). Nhận xét kết quả sớm của phẫu thuật 
nối mật da bằng túi mật và bằng đoạn hỗng tràng biệt lập 
trong điều trị sỏi đường mật trong gan. Y học Thành phố Hồ Chí 
Minh, 12(4):109-113. 
8. Tian J, Li JW, Chen J, et al (2013). The safety and feasibility of 
reoperation for the treatment of hepatolithiasis by laparoscopic 
approach. Surg Endosc, 27(4):1315-20. 
9. Lian YG, Zhang WT, Xuv Z, et al (2015). Oddi sphincter 
preserved cholangioplasty with hepaticosubcutaneous stoma 
for hepatolithiasis. World J Gastroenterol, 21(45):12865-12872. 
10. Lê Nguyên Khôi (2010). Hiệu quả của phẫu thuật ít xâm hại 
trong điều trị sỏi đường mật chính. Y học Thành phố Hồ Chí 
Minh, 14(2):117-124. 
11. Võ Đại Dũng (2014). Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều 
trị sỏi đường mật trong gan có nội soi đường mật trong mổ. 
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Dược TP. HCM. 
12. Cui L, Xu Z, Ling XF, et al (2014). Laparoscopic hepaticoplasty 
using gallbladder as a subcutaneous tunnel for hepatolithiasis. 
World J Gastroenterol, 20(12):3350-3355. 
13. Han HS, Yoon YS, et al (2009). Laparoscopic treatment for 
intrahepatic duct stones in the era of laparoscopy: 
Laparoscopic intrahepatic duct exploration and laparoscopic 
hepatectomy. Ann Sugr, 249(2):286-291. 
14. Pan WD, Xu EJ, Fang H, et al (2011). Surgical treatment of 
complicated hepatolithiasis using the ultrasound-guided 
fiberoptic cholechoscope. Surg Endosc, 25:497–502. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_som_cua_phau_thuat_noi_soi_noi_mat_da_bang_doan_ruot.pdf