Kết quả phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot

Mục đích: đánh giá kết quả phẫu thuật triệt để tứ

chứng Fallot tại Khoa PTT giai đoạn từ tháng 01/2007

tới hết tháng 09/2013.

Phương pháp: Phân tích đánh giá dựa trên số liệu

thu được từ 65 bệnh nhân đã được phẫu thuật triệt để

cũng như từ kết quả tái khám cho 62 bệnh nhân sau mổ.

Kết quả: Tuổi phẫu thuật trung bình là 12 ( 03 -

40 tuổi ). Thời gian theo dõi sau mổ trung bình là 18

tháng (6- 35 tháng). Phẫu thuật sửa chữa thì đầu cho

63 trường hợp (96,9%); thứ phát sau khi bệnh nhân

được làm cầu nối chủ phổi là 03 trường hợp ( 4,61%).

4 trường hợp ( 6,15%) mổ lại sớm; không có trường

hợp nào mổ lại muộn. 03 trường hợp ( 4,61 % ) tử

vong trong khi nằm viện; không có tử vong muộn. 62

trường hợp ra viện, hầu hết có cuộc sống sinh hoạt

bình thường. 01 bệnh nhân còn dùng lasix và digoxin

sau 3 tháng ra viện. Phương pháp phẫu thuật có mở

thất phải làm tăng nguy cơ hở van ba lá nặng ( p

0,001 ) và suy thất phải (p < 0,001).="" miếng="" vá="">

vòng van động mạch phổi làm tăng nguy cơ hở van

động mạch phổi nặng (p < 0,001="" ),="" tăng="" nguy="" cơ="">

thất phải ( p < 0,001).="" đánh="" giá="" liên="" quan="" của="" chỉ="">

McGoon và kết quả phẫu thuật.

Kết luận: Kết quả phẫu thuật sửa chữa triệt để tứ

chứng Fallot tại Khoa PTT- BVND 115 là khả quan

với tỷ lệ tử vong tại viện 4,6 %; không có tử vong

muộn với thời gian theo dõi trung bình là 18 tháng.

Hầu hết những bệnh nhân ra viện có cuộc sống bình

thường. Phương pháp phẫu thuật cải tiến đóng TLT

qua van ba lá & hạn chế mở thất P cho kết quả tốt hơn

so với PP kinh điển (đóng TLT qua ngã mở thất P +

vá xuyên vòng van). Chỉ số McGoon < 1="" là="" một="" yếu="">

tiên lượng nặng trước mổ

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot

Kết quả phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 24
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT 
Hoàng Hiệp*, Lê Hữu Dụng*, Huỳnh Văn Cường*, Đỗ Việt Thắng*, 
Huỳnh Võ Hoài Thanh*, Trần Nam Trung*, Nguyễn Hoài Nam** và cộng sự 
Mục đích: đánh giá kết quả phẫu thuật triệt để tứ 
chứng Fallot tại Khoa PTT giai đoạn từ tháng 01/2007 
tới hết tháng 09/2013. 
Phương pháp: Phân tích đánh giá dựa trên số liệu 
thu được từ 65 bệnh nhân đã được phẫu thuật triệt để 
cũng như từ kết quả tái khám cho 62 bệnh nhân sau mổ. 
Kết quả: Tuổi phẫu thuật trung bình là 12 ( 03 - 
40 tuổi ). Thời gian theo dõi sau mổ trung bình là 18 
tháng (6- 35 tháng). Phẫu thuật sửa chữa thì đầu cho 
63 trường hợp (96,9%); thứ phát sau khi bệnh nhân 
được làm cầu nối chủ phổi là 03 trường hợp ( 4,61%). 
4 trường hợp ( 6,15%) mổ lại sớm; không có trường 
hợp nào mổ lại muộn. 03 trường hợp ( 4,61 % ) tử 
vong trong khi nằm viện; không có tử vong muộn. 62 
trường hợp ra viện, hầu hết có cuộc sống sinh hoạt 
bình thường. 01 bệnh nhân còn dùng lasix và digoxin 
sau 3 tháng ra viện. Phương pháp phẫu thuật có mở 
thất phải làm tăng nguy cơ hở van ba lá nặng ( p < 
0,001 ) và suy thất phải (p < 0,001). Miếng vá qua 
vòng van động mạch phổi làm tăng nguy cơ hở van 
động mạch phổi nặng (p < 0,001 ), tăng nguy cơ suy 
thất phải ( p < 0,001). Đánh giá liên quan của chỉ số 
McGoon và kết quả phẫu thuật. 
Kết luận: Kết quả phẫu thuật sửa chữa triệt để tứ 
chứng Fallot tại Khoa PTT- BVND 115 là khả quan 
với tỷ lệ tử vong tại viện 4,6 %; không có tử vong 
muộn với thời gian theo dõi trung bình là 18 tháng. 
Hầu hết những bệnh nhân ra viện có cuộc sống bình 
thường. Phương pháp phẫu thuật cải tiến đóng TLT 
qua van ba lá & hạn chế mở thất P cho kết quả tốt hơn 
so với PP kinh điển (đóng TLT qua ngã mở thất P + 
vá xuyên vòng van). Chỉ số McGoon < 1 là một yếu tố 
tiên lượng nặng trước mổ. 
RESULTS OF COMPLETE REPAIR FOR 
TETRALOGY OF FALLOT 
Hoàng Hiệp*, Lê Hữu Dụng*, Huỳnh Văn Cường*, 
Đỗ Việt Thắng*, Huỳnh Võ Hoài Thanh*, Trần 
Nam Trung*, Nguyễn Hoài Nam** and colleagues. 
Objectives: To evaluate the results of the 
complete repair for Tetralogy of Fallot (TOF) at the 
Hospital 115 from 01/2007 to 09/2013. To compare 
the two techniques of complete repair for TOF. 
Phương pháp: Analyse data from 65 patients being 
Operated for complete repair of TOF. 
Results: Mean age: 12 ( 03 - 40 ys ). Mean post-
op follow-up: 18 months (6- 35 months). First time 
complete repair for 63 patients (96,9%); Complete 
repair after Blalock-Taussig shunt for 03 patients 
(4,61%). 04 patients ( 6,15%) being re-operated soon 
due to bleeding and for closing the sternum. No late 
re-operation. 03 patients ( 4,61 % ) died while in the 
post-op period in the ICU; No late death. 62 patients 
discharged, recovered and lived normally. 01 patients 
needed furosemide and digoxin orally 3 month post-
op. Classic method of operation (open the 
Infundibulum widely and close the VSD through the 
RV opening) has high prevalence of post-op severe 
right ventricle failure (p< 0,001), severe Tricuspid 
regurgitation (p< 0,001), severe pulmonary valve 
regurgitation (p<0,001) compared with the new 
modified technique of complete repair for TOF (close 
the VSD via the tricuspid valve, minimal opening of 
the right ventricle). There is a relation between the 
McGoon’s ratio and the outcome of the complete 
repair for TOF. 5 
Conclusion: The overall results of the complete 
repair for TOF is good. Mortality 4,61% is acceptable. 
Long term follow-up is good with no late death, not 
yet re-operation reported during 18 months. The new 
modified technique of complete repair for TOF shows 
priority than the classic one. This is one developing 
step of the cardiac surgery in our hospital 115. 
McGoon’s ratio < 1 is one predictor for post-op right 
heart failure and death. 
* Bệnh viện 115 
 ** Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 10/10/2013 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/11/2013 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Đặng Hanh Đệ 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT 
 25
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tứ chứng Fallot (viết tắt là TOF, Tetralogy of 
Fallot) là bệnh tim bẩm sinh tím thường gặp nhất 
chiếm xấp xỉ 01% trẻ sinh ra còn sống. Bệnh đặc 
trưng bởi 4 tổn thương chính: hẹp động mạch phổi, 
thông liên thất, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách 
liên thất và phì đại thất phải. Nếu không được phẫu 
thuật, 25 % trẻ chết trong năm đầu, 40% chết dưới 3 
tuổi và 70 % chết trước 10 tuổi. Nếu được phẫu thuật 
triệt để, người bệnh sẽ có trái tim và cuộc sống gần 
như bình thường. 
Phẫu thuật sửa chữa triệt để TOF bao gồm đóng lỗ 
thông liên thất và mở rộng đường ra thất phải. Thao 
tác được thực hiện qua chỗ mở thất phải (phương 
pháp kinh điển) hoặc qua đường tự nhiên là van 3 lá 
và van động mạch phổi. Trong 10 năm lại đây, 
phương pháp thứ hai trở thành một xu thế mới do 
giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng và tử vong sau mổ. 
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá kết quả phẫu 
thuật triệt để TOF tại Khoa Phẫu thuật tim, Bệnh viện 
Nhân Dân 115, đặc biệt là phương pháp không mở 
thất phải, từ đó rút ra những kết luận khách quan 
nhằm nâng cao hiệu quả điều trị loại bệnh lý này. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU: 
2.1: Đối tượng nghiên cứu: 
Tất cả các bệnh nhân Tứ chứng Fallot hẹp động 
mạch phổi được phẫu thuật triệt để tại Khoa Phẫu 
thuật tim, Bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng 01/2007 
đến tháng 09/2013 nằm trong nhóm nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ: 
TOF có chỉ số McGoon < 0,8. 
Những trường hợp teo van động mạch phổi hoặc 
có các bệnh lý nặng phối hợp khác (kênh nhĩ thất 
chung, Ebstein,), có bất thường đm vành quan trọng 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
 Thiết kế: nghiên cứu mô tả và phân tích so sánh, 
tiền cứu kết hợp hồi cứu. 
- So sánh kết quả lâm sàng giữa 2 nhóm: Nhóm 
bn được phẫu thuật theo phương pháp kinh điển 
(Đóng TLT qua đường mở thất phải + miếng vá xuyên 
vòng van) và nhóm bệnh nhân được phẫu thuật theo 
phương pháp cải tiến (đóng TLT qua đường nhĩ P và 
hạn chế mở thất P) qua các thông số: Suy tim P sau 
mổ, hở van động mạch phổi, hở van ba lá, thời gian 
nằm hồi sức. 
- Phân tích thống kê dựa trên chương trình phần 
mềm SPSS 15.0 P < 0,05 được coi là có ý nghĩa. 
- Tử vong tại viên được qui định là tử vong trong 
thời gian nằm viên hoặc trong vòng 30 ngày sau mổ. 
2.3. Thu nhập số liêu: 
Các dữ liêu được lấy trực tiếp từ lâm sàng, từ hồ 
sơ cũ của bệnh nhân, qua các lần tái khám. 
Các thông tin thu nhập bao gồm các thông tin 
trước , trong và sau mổ. 
2.4. Phương pháp thực hiện 
Lâm sàng: tuổi, giới, cân nặng, tím, ngón tay dùi 
trống 
Cận lâm sàng: 
- Các đặc điểm về hình ảnh học trên Siêu Âm 
tim và MSCT: ghi nhận đặc điểm của lỗ thông liên 
thất, hẹp đường ra thất P, van động mạch phổi, kích 
thước Vòng van động mạch phổi, nhánh động mạch 
phổi P và Động mạch phổi T, giá trị Z, chỉ số 
McGoon. 
- Các đặc điểm Huyết học, sinh hóa: Hồng cầu, 
Hematocrit, Hemoglobin, tiểu cầu, 
Các thông số trong Phòng mổ: thời gian mổ, 
phương pháp mổ, thời giam chạy máy tim-phổi nhân 
tạo, thời gian kẹp động mạch chủ, Chỉ số áp lực thất 
P/thất T sau mổ, 
Các thông số sau mổ (trong hồi sức và trại bệnh): 
Thời gian thở máy, Thời gian nằm hồi sức, Các biến 
chứng chảy máu, suy thận, cung lượng tim thấp, suy 
thất P, rối loạn nhịp, tràn dịch, tràn khí màng phổi, . 
2.5. Theo dõi sau mổ 
- Theo dõi các biến chứng sau mổ: chảy máu, 
nhiễm trùng, suy tim, suy thận,  
- Bênh nhân sau khi ra viên được tái khám vào 
các thời điểm: tuần đầu, 1 tháng đầu, 2 tháng, 6 tháng 
và mỗi năm sau đó. 
Các yếu tố ghi nhận khi tái khám: triệu chứng lâm 
sàng, điện tim, siêu âm tim, điều trị nội khoa, các lần 
nhập viện cấp cứu và các biến chứng có liên quan đến 
cuộc mổ. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 26
3. KẾT QUẢ 
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân trước mổ (n = 65) 
Đặc điểm N Tỉ lệ (%) 
Tuổi 12 ± 6,5 (2,5 – 35) 
44 67,69 Giới 
21 32,31% 
Cân Nặng 20 ± 8,2 (12 – 55) 
Tím trước mổ 65 100% 
Ngất trước mổ 19 29,2% 
NYHA III – IV 36 65% 
Hct 64,3 ± 8,3 
Shunt trước mổ 03 4,6% 
Thời gian điều trị sau mổ 10 ± 06 (08 – 30) 
Thời gian theo dõi sau mổ 18 ± 06 ( 12 – 36) 
Bảng 2. Đặc điểm giải phẫu học và kĩ thuật mổ (N = 65) 
 Đặc điểm N % 
Dưới động mạch chủ 65 100% 
Thông liên thất 
Đk: 20 ± 05 mm 
Còn Ống Động Mạch 40 61,53% 
Tồn tại lỗ bầu dục 05 07,69% 
< -2 39 60% 
Giá trị Z vòng van động mạch phổi 
Tb: -2,3 ± 1,6 
< -2 38 58,46% 
Giá trị Z động mạch phổi 
Tb : -2,4 ± 1,6 
Giá trị Z ĐkTTTtr Tb: -0,3 ± 1,2 
< 1 03 4,61% 
1-1,5 37 56,92% 
>1,5 25 38,47% 
Chỉ số McGoon 
Tb: 1,3 ± 0,5 (0,7 – 2,1) 
Miếng vá qua vòng van động mạch phổi 44 67,69% 
Bảo tồn vòng van động mạch phổi 21 32,31% 
Đóng TLT Qua thất P 23 35,38% 
 Qua van ba lá 42 64,62% 
Tỉ số áp lực thất P/thất T Tb: 0,51 ± 0,2 (0,25 – 0,73) 
Chênh áp thất P-Động mạch phổi Tb: 20 ± 08 mmHg (00 – 35) 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT 
 27
 Bảng 3. Các thông số khác trong phòng mổ và hồi sức 
 Trung bình sd Min - max 
Thời gian cặp đmc 78 phút 20 (phút) 45 – 120 (phút) 
Thời gian chạy máy 125 phút 20 (phút) 90 – 240 (phút) 
Thời gian nằm hồi sức 3,5 ngày 02 01 – 21 (ngày) 
Truyền hồng cầu lắng 02 (đv) 01 (đv) 00 – 06 (đv) 
Truyền huyết tương 06 (đv) 02 (đv) 04 – 10 (đv) 
Truyền tiểu cầu 01 (kít) 01 00 – 04 (kít) 
Bảng 4. Các biến chứng 
 N % Ghi chú 
Loạn nhịp sau mổ 15 20,07 % Nhịp nhanh trên thất sau mổ 
Block nhánh P hoàn toàn 21 32% 
Chảy máu phải mổ lại 02 3,07 % 01 ca đứt đmc do chỉ thép, 01 ca do chảy máu xương ức 
Để hở xương ức 02 3,07 % Mổ lại sau 48h 
Thẩm phân phúc mạc 04 6,14 % Suy thận hồi phục sau khoảng 01 tuần. 
Tràn dịch máng phổi 14 21,53 % Do suy thất P, đáp ứng với điều trị nội 
Tử vong 03 4,61 % Tại phòng hồi sức 
Bảng 5. Các vấn đề đặc biệt sau mổ 
 N % 
Suy thất P 39 60% 
Hở van động mạch phổi 44 67,69% 
Hở van ba lá > 2,5/4 25 38,46% 
Bảng 6. Liên quan giữa suy thất P và vá qua vòng van (N =65) 
 qua vòng van (bao 
gồm 23 tr hợp đóng TLT 
qua ngã mở phễu thất P) 
Bảo tồn vòng van Tổng % 
Suy thất P 39 0 39 60% 
Không suy thất P 05 21 26 40% 
Tổng 44 21 65 
Tỉ lệ Suy thất P /xẻ vòng van = 39/44 = 88,64%. 
Chi Square = 46,53. p < 0,001 
Tỉ lệ Suy thất P/đóng TLT qua phễu thất P = 23/23 = 100%. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 28
Bảng 7. Liên quan giữa hở van ba lá và đóng TLT qua mở phễu thất P 
 Đóng TLT qua 
mở phễu thất P 
Đóng TLT 
qua ngã van ba lá Tổng % 
Hở ba lá (> 2,5/4) 15 02 17 26,15% 
Không hở / hở nhẹ 
ba lá (<2/4) 
08 40 48 73,85% 
Tổng 23 42 65 100% 
Tỉ lệ hở ba lá nặng/Đóng TLT qua ngã thất P = 15/23 = 65,22%. 
Chi Square = 28,12. p < 0,001 
Bảng 8. Liên quan giữa hở van động mạch phổi và vá qua vòng van 
 Vá qua vòng van Bảo tồn vòng van Tổng % 
Hở van động 
mạch phổi 
44 00 44 67,69 
Không hở van 
động mạch phổi 
00 21 21 32,31 
Tổng 44 21 65 
Tỉ lể hở van động mạch phổi/vá qua vòng van =100%. 
Bảng 9. Liên quan giữa chỉ số McGoon và tử vong 
 Tử vong Sống Tổng % 
McGoon < 01 02 01 03 4,61 
McGoon >01 01 61 62 95,39 
Tổng 03 62 65 
Tỉ lệ (Chỉ số McGoon < 1)/tử vong = 02/03 = 66,67%. 
Chi Square = 42,65. P < 0,001 
03 ca tử vong trong thời gian nằm hồi sức: 
1. Trần văn A, 07 tuổi, chẩn đoán : TOF, Hct 
68%, McGoon Ratio 0,82. Z value vòng van động 
mạch phổi -2,3, Z value than động mạch phổi: -2,3. Z 
value thất trái tâm trương : -0,5. Phẫu thuật đóng TLT 
qua ngã van ba lá, patch xuyên vòng van động mạch 
phổi. Đo áp lực sau mổ RV/LV = 0,72. Chênh áp qua 
van động mạch phổi: 20mmHg. Tại hồi sức biểu hiện 
suy tim, cung lượng tim thấp. Ngưng tim sau 15h nằm 
hồi sức. 
2. Nguyễn thi Thanh Th, 07 tuổi. Chẩn đoán 
TOF, hct 67%, McGoon ratio 0,85. Z value vòng van 
động mạch phổi và thân động mạch phổi = -2,1. Z 
value thất T tâm trương = 0,4. Đã làm B-T shunt cách 
2 năm. Phẫu thuật đóng TLT qua ngã van ba lá, patch 
xuyên vòng van động mạch phổi. Đo áp lực sau mổ 
RV/LV = 0,73. Chênh áp qua van động mạch phổi: 
12mmHg. Tại hồi sức biểu hiện suy tim, cung lượng 
tim thấp. Ngưng tim sau 10 h nằm hồi sức. 
3. Nguyên Minh T, 09 tuổi. Chẩn đoán TOF, Hct 
64%. McGoon ratio = 1,4. Z value vòng van động 
mạch phổi và thân động mạch phổi = -2,1. Z value 
thất T tâm trương = -0,9 . Phẫu thuật đóng TLT qua 
ngã mở phễu thất P, patch xuyên vòng van động mạch 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT 
 29
phổi. Đo áp lực sau mổ RV/LV = 0,67. Chênh áp qua 
van động mạch phổi: 12mmHg. Tại hồi sức biểu hiện 
suy tim, cung lượng tim thấp. Sau đó suy thận, suy đa 
cơ quan. Ngưng tim sau 72h nằm hồi sức. 
- Nhận xét 03 trường hợp tử vong : hai trường 
hợp đầu có bệnh cảnh tương tự nhau. Bệnh nhân tím 
nhiều,có nhánh động mạch phổi nhỏ (chỉ số McGoon 
= 0,82 và 0,85). Chỉ số đo áp lực RV/LV cao hơn 0,7. 
Tử vong trong bệnh cảnh suy thất P không hồi phục. 
Trường hợp thứ ba có McGoon ratio tốt (1,4), các chỉ 
số vòng van động mạch phổi, thân động mạch phổi 
cũng khá tốt, có khác biệt ở chỗ đóng TLT qua ngã 
phễu thất P, mở sâu xuống thất P do lỗ TLT đóng khó 
khăn. Sau mổ các chỉ số áp lực đạt yêu cầu nhưng 
bệnh nhân có biểu hiện suy thất P, vào hội chứng cung 
lượng tim thấp, suy thận, suy đa cơ quan sau đó ngưng 
tim. Nguyên nhân tử vong của 02 ca đầu có thể do 
kích thước động mạch phổi nhỏ. Của ca thứ ba có thể 
do suy thất P nặng không hồi phục mà nguyên nhân là 
do mở thất P nhiều. Kết quả này cũng phù hợp với các 
tác giả khác như Nguyễn Hữu Ước, Lê Thành Khánh 
Vân [1,2]. 
- Tạm loại 02 ca có McGoon < 01 ra khỏi nhóm 
nghiên cứu. Làm so sánh giữa 02 nhóm bệnh nhân 
được mổ theo pp kinh điển (đóng TLT qua ngã mở 
phễu thất P, vá qua vòng van) và nhóm bn được mổ 
theo phương pháp cải tiến (đóng TLT qua van ba lá, 
hạn chế mở phễu thất P). 
Bảng 10. So sánh 02 phương pháp phẫu thuật 
 Pp kinh điển 
( N= 23) 
PP cải tiến 
(N=40) 
Nhận xét 
Suy thất P 23 (100%) 14 (38%) Giảm 62% 
Hở ba lá >2,5/4 15 (65,22%) 02 (05%) Giảm 60,22% 
Hở van đm phổi 23 100%) 19 (47,5%) Giảm 52,5% 
Tử vong 01 ( 4,34%) 00 Giảm 4,34% 
Thời gian nằm hồi sức (trung 
bình ) (ngày) 3,48 ± 0.62 2,01 ± 0,43 Giảm 1,47 ngày 
Nhận xét: khác biệt đáng kể giữa 02 nhóm. 
Bảng 11. Theo dõi sau xuất viện (18 tháng) 
 N % Ghi chú 
Thông liên thất tồn lưu 05 7,69% Có 01ca có chỉ định 
mổ lại. 
Tím lại 00 00 
NYHA III – IV (Sau mố 01 
tháng) 
00 00 01 trường hợp phải 
dùng furosemide và 
digoxin 03 tháng sau 
mổ do suy thất P. 
Tử vong 00 00 
Nhận xét: kết qủa sau mổ tốt. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 30
4. BÀN LUẬN 
4.1. Về đặc điểm bệnh nhân 
Tất cả các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều 
trên 02 tuổi. Hầu hết có cân nặng trên 15kg (93%). Có 
07 % bệnh nhân trên 20 tuổi, cá biệt có bệnh nhân 35 
tuổi. Đây cũng là đặc điểm về bệnh tim bẩm sinh ở 
các nước đang phát triển khi điều kiện về chẩn đoán 
và điều trị còn chưa đầy đủ. Bệnh nhân phẫu thuật 
muộn có nhiều bất lợi về phát triển tinh thần và thể 
chất do thiếu oxy máu kéo dài. Những biến chứng đã 
gặp trong số 65 bệnh nhân là : Áp xe não, cơn ngất 
tím, suy tim. 
4.2. Về kỹ thuật: 
Trong thời gian đầu khi mới triển khai phẫu thuật 
triệt để TOF, các bệnh nhân được mổ theo phương 
pháp kinh điển. Từ giữa năm 2009, phẫu thuật theo 
phương pháp mới là đóng TLT qua van ba lá và hạn 
chế tối đa mở thất P bắt đầu được áp dụng một cách hệ 
thống. trong số 65 bệnh nhân có tới 42 bệnh nhân được 
mổ theo phương pháp mới. Qua thực tế chúng tôi nhận 
thấy diễn tiến sau mổ của các bệnh nhân này thuận lợi 
hơn rất nhiều so với các bệnh nhân đã được mổ theo 
phương pháp kinh điển. Các phép kiểm cho thấy tỉ lệ 
Suy thất P sau mổ, hở van đm phổi, hở van ba lá sau 
mổ của phương pháp có mở phễu thất P cao hơn có ý 
nghĩa thống kê so với phương pháp mới. Phân tích 
phép kiểm Chi Bình Phương cho thấy tỉ lệ suy thất P 
sau mổ, hở van đm phổi, hở van ba lá sau mổ có liên 
quan mạnh với việc mở phễu thất P (p < 0,001) 
Theo nhiều nghiên cứu, chính việc mở thất P đã 
giúp phẫu thuật viên cắt bỏ khối cơ thất P tương đối 
nhiều và quan trọng hơn là làm mất tính toàn vẹn của 
thất P, từ đó làm giảm đột ngột độ đàn hồi buồng tim, 
đặc biệt ở những bệnh nhân TOF “già” khi mà cơ thất 
đã phì đại quá mức, xơ hóa, giảm đàn hồi do hệ quả 
của việc thiếu Oxy mô lâu ngày. [5,6]. Việc khâu 
miếng vá vào chỗ mở thất P dẫn đến hiện tượng vận 
động nghịch thường của miếng vá so với thành thất P, 
từ đó cũng làm giảm khả năng tống máu thất P, góp 
phần gây suy thất P sau mổ [6,7]. Tất cả những yếu tố 
kể trên góp phần làm suy thất P nặng sau mổ, tăng tỉ 
lệ tử vong sau mổ. 
4.3. Về tỉ lệ tử vong: 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 03 ca tử vong 
như đã trình bày trong phần kết quả. 01 ca trong số đó 
tử vong nghĩ do nguyên nhân suy thất P do mở thất P 
nhiều như mô tả ở trên. Chiếm 4% nếu tính tỉ lệ riêng 
phần trong nhóm mở thất P kinh điển (23 trường hợp). 
Có 02 ca tử vong còn lại có chỉ số đo áp lực Thất 
P/Thất T sau mổ cao >0,7 dù đã mở rộng “thênh 
thang” đường thất P lên động mạch phổi. Cả 02 ca này 
có chỉ số McGoon lần lượt là 0,8 và 0,85 (<1). Theo 
nhiều tác giả chính đường kính nhánh động mạch phổi 
nhỏ làm cho hiện tượng hẹp phổi vẫn tồn tại biểu hiện 
bằng chỉ số áp lực Thất P/ Thất T cao hơn 0,7 ( vì 
phẫu thuật chỉ can thiệp mở rộng thân và phần gần của 
nhánh động mạch phổi). Chính vì vậy hầu hết các tác 
giả thống nhất không sửa chữa hoàn toàn TOF khi Chỉ 
số McGoon < 0,5. Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn với 
nguy cơ cao khi chỉ số McGoon < 1, và phẫu thuật 
triệt để là rất an toàn khi chỉ số McGoon >1,5. 
[3,4,7,8]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 03 ca có chỉ số 
McGoon <1. Tỉ lệ tử vong trong nhóm này là 2/3 
(66,67%). Chúng tôi tạm đưa ra một yếu tố dự báo 
tiên lượng nặng trước mổ là khi bệnh nhân có chỉ số 
Mc Goon < 1. 
4.4. Về các biến chứng sau mổ: 
Nhìn chung các biến chứng sau mổ là ít, chấp 
nhận được. 
Chưa có ca nào phải mổ lại vì TLT tồn lưu. Tuy 
nhiên gần đây có 01 ca TLT tồn lưu muộn sau mổ có 
xu hướng to dần, trường hợp này đang chuẩn bị nhập 
viện để mổ lại. 
Về mổ lại sớm sau mổ có 04 ca, trong đó 02 ca 
chảy máu sau mổ, 02 ca hở xương ức chủ động do tim 
to : đóng lại xương ức sau 3 ngày. Tỉ lệ này cũng 
tương đương với các tác giả khác. [1,2,4,8,9] 
Có 04 ca suy thận cấp sau mổ trong thời gian nằm 
hồi sức, hậu quả của suy tim sau mổ. Chúng tôi tiến 
hành làm thẩm phân phúc mạc tại phòng hồi sức. 03 
trong số 04 ca sau đó hồi phục chức năng thận sau 01 
tuần khi suy tim được điều trị ổn định. Theo Kirklin, 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ TỨ CHỨNG FALLOT 
 31
Karl TR và cộng sự, việc dùng Thẩm phân phúc mạc 
để cứu nguy cho bệnh nhân trong tình trạng suy thận 
cấp sau mổ tim với liều vận mạch cao là một giải pháp 
thay thế thận tốt.[7,8]. 
Về tỉ lệ loạn nhịp sau mổ chúng tôi ghi nhận 20,07 
% trường hợp loạn nhịp nhanh trên thất . Block nhánh 
P 21 trường hợp (32 %). Không có ca nào bị block 
nhĩ-thất. Không có ca nào loạn nhịp thất. Đây là một 
kết quả đáng khích lệ. Kết quả này cũng tương tự của 
tác giả Diet CA và cộng sự.[5]. 
4.5. Về kết quả theo dõi sau mổ: 
62 trường hợp sau mổ sửa chữa hoàn toàn có thời 
gian theo dõi trung bình là 18 tháng. Không có trường 
hợp tử vong muộn nào ghi nhận. Hầu hết các bệnh 
nhân hồi phục, hết suy tim. Chưa có trường hợp nào 
phải mổ lại. Kết quả này cũng tương đồng với các tác 
giả trong nước và quốc tế. [1,2,3,4,8,9] 
5. KẾT LUẬN 
Qua 65 trường hợp TOF được phẫu thuật triệt để 
tại Khoa Phẫu Thuật Tim, BVND 115 chúng tôi có 
một vài nhận xét sau: 
1. Kết quả chung của phẫu thuật triệt để TOF là tốt. 
Tỉ lệ tử vong 4,61% chấp nhận được . Kết quả 
theo dõi sau mổ tốt, không có tử vong muộn sau 
mổ với thời gian theo dõi sau mổ là 18 tháng 
2. Phương pháp phẫu thuật cải tiến (đóng TLT qua 
ngã van ba lá + hạn chế mở thất P) có kết quả ưu 
việt hơn pp phẫu thuật kinh điển do làm giảm tỉ 
lệ suy thất P, hở van ba lá và hở van động mạch 
phổi sau mổ, rút ngắn thời gian nằm hồi sức. Đây 
chính là một bước phát triển của Phẫu thuật tim 
BVND 115. 
3. Chỉ số McGoon < 1 là một yếu tố tiên lượng 
nặng chính trước mổ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Hữu Ước, Đặng Hanh Đệ. Kết Quả 
Ban Đầu của phẫu thuật sửa chữa toàn bộ Fallot 
4 ở trẻ em lớn. Tạp chí Tim Mạch Học Việt Nam 
số 28, 12- 1999 ; 46-54. 
2. Lê Thành Khánh Vân. Chẩn Đoán và Phẫu 
Thuật Sửa Chữa Toàn Bộ Tứ Chứng Fallot. 
Luận án chuyên khoa cấp II, ĐHYD tp HCM-
2007 
3. Nguyễn Minh Trí Viên. Kết quả điều trị của 
phẫu thuật Blalock – Taussig Trong Bệnh lý Tứ 
Chứng Fallot. Luận Văn Thạc Sỹ Ngoại Lồng 
Ngực, ĐHYD Tp HCM, 2002. 
4. Christopher J. Knott- Craig et al. A 26- Years 
Experience with Surgical Management of 
Tetralogy of Fallot : Risk Analysis for Mortality 
or Late Reintervention. Ann Thorac Surg 1998 ; 
66 :506-11 
5. Dietl CA et al. Life-threatening arrhythmias and 
RV dysfunction after surgical repair of tetralogy 
of fallot. Comparison between transvetricular 
and transatrial approaches. Circulation. 2004 
Nov ;90( 5 Pt 2) ; II7-12 
6. Jenifer C.Hirsch ; Edward L.Bove. Tetralogy 
of Fallot. Pediatric Cardiac Surgery. Mosby 2003 
; 383- 397 . 
7. Karl TR, Sano S ; Porniviliwan S ; Mee RBB. 
Tetralogy of Fallot : Favorable Outcome of 
Neonatal Transatrial, Transpulmonary repair. 
Ann Thorac Surg 2002 ; 54-90 
8. Kirklin JW ; Boyes B ; Kouchoukos NT. 
Ventricular Septal Defect and Pulmonary 
Stenosis or Atresia. Cardiac Surgery. Churchill 
Livingstone 2003 ; 946- 1074 
9. Martin A Norgaard et al. Twenty-to-thirty- 
seven- year follow-up after repair for Tetralogy 
of Fallot. European Journal of Cardio- thoracic 
Surgery 16 (1999) 125-130 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_phau_thuat_triet_de_tu_chung_fallot.pdf