Kết quả phẫu thuật nội soi cắt một thùy tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi

(PTNS) tuyến giáp mới được thực hiện ở một số

trung tâm lớn ở một số bệnh nhất định của tuyến

giáp với số lượng còn rất hạn chế. Nghiên cứu

đánh giá kết quả ban đầu ứng dụng PTNS điều trị

ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa nguy cơ

thấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô

tả tiến cứu theo dõi dọc. Bệnh nhân (BN) UTTG

thể biệt hóa nguy cơ thấp điều trị PTNS cắt một

thùy tuyến giáp (không nạo vét hạch) theo kỹ

thuật của Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Thống

kê các chỉ tiêu nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý,

kỹ thuật mổ, kết quả sớm. Kết quả: từ 7/2019 đến

2/2020 có 85 BN được lựa chọn. Tuổi trung bình

32,9 ± 7,1 (16-45). Nữ có 71 BN (83,5%). Kích

thước trung bình u 6,7 ± 2,2mm. Thời gian mổ

trung bình 48,2 ± 7,5 phút. 73 BN UTTG thể nhú,

12 BN UTTG thể nang. Có 1 BN chảy máu sau

mổ, không có BN nào phải chuyển mổ mở, không

có BN suy cận giáp hay tổn thương thần kinh

thanh quản quặt ngược tạm thời.Kết luận: PTNS

cắt một thuỳ tuyến giáp không nạo vét hạch là an

toàn và hiệu quả trong điều trị UTTG thể biệt hóa

nguy cơ thấp.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật nội soi cắt một thùy tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phẫu thuật nội soi cắt một thùy tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương

Kết quả phẫu thuật nội soi cắt một thùy tuyến giáp điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT MỘT THÙY TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ... 
 51 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT MỘT THÙY TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ 
UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HÓA NGUY CƠ THẤP TẠI BỆNH VIỆN 
NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG 
Đinh Ngọc Triều*, Trần Ngọc Lương*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT. Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi 
(PTNS) tuyến giáp mới được thực hiện ở một số 
trung tâm lớn ở một số bệnh nhất định của tuyến 
giáp với số lượng còn rất hạn chế. Nghiên cứu 
đánh giá kết quả ban đầu ứng dụng PTNS điều trị 
ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa nguy cơ 
thấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô 
tả tiến cứu theo dõi dọc. Bệnh nhân (BN) UTTG 
thể biệt hóa nguy cơ thấp điều trị PTNS cắt một 
thùy tuyến giáp (không nạo vét hạch) theo kỹ 
thuật của Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Thống 
kê các chỉ tiêu nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý, 
kỹ thuật mổ, kết quả sớm. Kết quả: từ 7/2019 đến 
2/2020 có 85 BN được lựa chọn. Tuổi trung bình 
32,9 ± 7,1 (16-45). Nữ có 71 BN (83,5%). Kích 
thước trung bình u 6,7 ± 2,2mm. Thời gian mổ 
trung bình 48,2 ± 7,5 phút. 73 BN UTTG thể nhú, 
12 BN UTTG thể nang. Có 1 BN chảy máu sau 
mổ, không có BN nào phải chuyển mổ mở, không 
có BN suy cận giáp hay tổn thương thần kinh 
thanh quản quặt ngược tạm thời.Kết luận: PTNS 
cắt một thuỳ tuyến giáp không nạo vét hạch là an 
toàn và hiệu quả trong điều trị UTTG thể biệt hóa 
nguy cơ thấp.Từ khóa: ung thư tuyến giáp biệt hóa, 
phẫu thuật tuyến giáp nội soi, nguy cơ thấp. 
ENDOSCOPIC LOBECTOMY FOR 
LOW-RISK DIFFERENTIATED THYROID 
CANCER IN NATIONAL HOSPITAL OF 
ENDOCRINOLOGY 
ABTRACTS. Background: Endoscopic 
thyroid surgery is performed in some medical 
centres for lilited type of thyroid's diseases. The 
aim of this study is to evaluate surgical outcomes 
of endoscopic thyroid surgery treatment patients 
with low-risk differentiated thyroid 
cancer.Materials and Methods: prospective 
research. Patients with low-risk differentiated 
thyroid cancer who underwent endoscopic 
lobectomy without lymph node resection in 
National hospital of Endocrinology. We analyzed 
the clinico-pathologicalcharacteristics, surgical 
techniques and surgical outcomes. Results: from 
July 2019 to February 2020, 85 patients were 
included. Mean age was 32,9±7,1. 71 female 
patients (83,5%). Mean operative time was 
48,2±7,5. 75 patients have papillary thyroid 
cancer. 1 patient with postoperative bleeding. 
There was no conversion to open surgery, no 
transient hypoparathyroidism or injury recurrent 
laryngeal nerve. Conclusions: Endoscopic thyroid 
lobectomy without lymph node resection is a safe 
and effective procedure for patients with low-risk 
differentiated thyroid cancer.Keywords: 
Differentiated thyroid cancer, Endoscopic thyroid 
surgery, Low-risk.1 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
UTTGlà ung thư phổ biến nhất trong hệ nội 
tiết, chiếm tỉ lệ >90% các trường hợp ung thư của 
hệ nội tiết. Hiện nay UTTG đứng hàng thứ 5 trong 
số các ung thư phổ biến nhất ở nữ giới 
[1],[2].UTTG tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ thấp 
là ung thư có tỉ lệ tái phát < 5%, trên lâm sàng đây 
* BV Nội tiết Trung ương 
** BV HN Việt Đức, Trường ĐH Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Đinh Ngọc Triều 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 52 
là nhóm BN có kích thước u ≤2cm, chưa xâm lấn 
ra ngoài tuyến giáp, không có hạch di căn [3].Ở 
Mỹ, tỉ lệ phát sinh ung thư biệt hóa đã tăng lên gấp 
3 lần trong 30 năm. Sự gia tăng tỉ lệ phát sinh này 
chủ yếu ở nhóm phụ nữ trẻ tuổi với kích thước u 
≤2 cm. Tương tự, sự gia tăng tỉ lệ phát sinh cũng 
được ghi nhận trên toàn thế giới, với mức tăng lớn 
nhất tại Hàn Quốc [1],[2]. Nguyên nhân của sự gia 
tăng này do chẩn đoán sớm với sự phát triển của 
siêu âm tuyến giáp, chọc hút tế bào kim nhỏ cũng 
như ý thức của BN về sức khỏe. Xu hướng thay 
đổi về kích thước u này dẫn tới việc thay đổi trong 
chiến lược điều trị ban đầu cũng như theo dõi lâu 
dài cho BN UTTG thể biệt hóa, chỉ định phẫu 
thuật cắt 1 thùy tuyến giáp không kèm nạo vét 
hạch được mở rộng hơn [3]. 
PTNS tuyến giáp cho đến nay đã được 
thực hiện ở một số trung tâm phẫu thuật nhất 
định trong nước cũng như trên thế giới. Từ năm 
2004 bệnh viện Nội tiết Trung ương đã PTNS 
điều trị bướu giáp nhân lành tính với số lượng 
lớn, cho thấy đây là phương pháp an toàn và 
hiệu quả [4]. Từ những kinh nghiệm này, chúng 
tôi tiếp tục triển khai ứng dụng phẫu thuật nội 
soi trong điều trị UTTG thể biệt hóa. Nghiên cứu 
nhằm mục đích đánh giá kết quả ban đầu khi 
ứng dụng PTNS điều trị ung thư tuyến giáp 
(UTTG) thể biệt hóa nguy cơ thấp. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1 Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả BN được chẩn đoán UTTG thể biệt 
hóa nguy cơ thấp và được điều trị phẫu thuật cắt 1 
thùy tuyến giáp nội soi theo kỹ thuật của Bệnh 
viện Nội tiết Trung ương từ tháng 7/2019 đến 
2/2020 không kể tuổi, giới. 
2.2 Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:mô tả tiến cứu 
theo dõi dọc, chọn mẫu thuận tiện 
Tiêu chuẩn lựa chọn: BN UTTG biệt hóa 
kích thước khối u ≤ 1 cm, chưa xâm lấn ra ngoài 
tuyến giáp, không có u ở thùy đối bên, không 
phát hiện hạch di căn hoặc nghi ngờ di căn (qua 
khám lâm sàng, siêu âm + chụp CT vùng cổ, đánh 
giá trong mổ). Tiêu chuẩn loại trừ: BN có tiền sử 
tia xạ vùng cổ, tiền sử mổ cũ vùng cổ, tiền sử gia 
đình ung thư tuyến giáp. Chỉ tiêu nghiên cứu: đặc 
điểm lâm sàng, cận lâm sàng; kết quả phẫu thuật: 
kích thước u, thời gian mổ, thời gian nằm viện 
sau mổ; và biến chứng sau mổ: chảy máu sau mổ, 
suy cận giáp, tổn thương thần kinh quặt ngược 
tạm thời. 
2.2.2. Kỹ thuật mổ:đãđược thông qua hội 
đồng khoa học BV Nội tiết Trung Ương: 
 Gây mê: Gây mê toàn thân có đặt nội 
khí quản 
 Tư thế BN: Nằm ngửa, cổ ưỡn, mặt quay 
về phía đối diện với bên định phẫu thuật. Tay dạng 
90 độ để lộ rõ vùng hõm nách, kê gối dưới vai. 
 Vị trí phẫu thuật viên và phụ: Phẫu 
thuật viên đứng ngay cạnh nách. Phụ 1 đứng phía 
dưới phẫu thuật viên, phụ 2 đứng đối diện. Dụng 
cụ đứng đối diện bên dưới phụ 2. 
Các bước mổ 
* Thì 1: Đặt trocar 
- Đặt trocar 10mm ở nách tại đường nách giữa 
ngang với bờ trên tuyến vú. 
- Bơm CO2 với lưu lượng 6 l/phút và duy 
trì áp lực 6 mmHg. 
- Đặt trocar 5mm dưới quan sát của camera: 
Vị trí: 1 trocar ở đỉnh hõm nách cùng bên u, 
1 trocar ở quầng vú cùng bên u tại điểm 2 giờ 
(mổ bên thùy phải) và 10 giờ (mổ bên thùy trái). 
Đặt 2 trocar 5mm dưới sự quan sát của camera 
sao cho đều vào đường bóc tách của khí CO2 và 
vị trí ngoài da cách đều trocar 10mm. 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT MỘT THÙY TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ... 
 53 
* Thì 2: Tạo khoang phẫu thuật 
Dùng đốt điện để bóc tách da vào hõm ức, 
sau đó bóc tách da lên trên tới ngang sụn giáp, 
sang hai bên tới bờ trong cơ ức-đòn-chũm. 
* Thì 3: Tách cơ vào tuyến giáp 
- Tách bờ trước cơ ức-đòn-chũm, cơ vai-
móng 
- Bổ dọc cơ ức-giáp để vào thùy tuyến giáp. 
* Thì 4: Đánh giá tổn thương, cắt thùy 
tuyến giáp 
- Đánh giá tổn thương (vị trí, ranh giới, sự xâm 
lấn vỏ bao tuyến giáp) 
- Dùng dao siêu âm cắt thùy tuyến giáp theo 
thứ tự: cắt giải phóng cực dưới trước, tách 
khoảng vô mạch, cắt cực trên tuyến giáp, tìm bộc 
lộ dây thần kinh quặt ngược rồi cắt dây chằng 
Berry, cắt eo tuyến giáp. 
- Kiểm tra đánh giá hạch bất thường khoang 
trung tâm. 
* Thì 5: Lấy bệnh phẩm và đặt dẫn lưu 
- Kiểm tra lại thần kinh quặt ngược, cận giáp, 
rửa sạch máu cục (nếu có) và cầm máu kỹ. 
- Lấy bệnh phẩm bằng túi nylon, đặt dẫn 
lưu qua trocar 10mm 
- Đóng các lỗ trocar. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1 Tuổi và giới của BN 
Tuổi: trung bình 32,9±7,1; nhỏ nhất 16 tuổi, 
lớn nhất 45 tuổi 
Giới: Nam 14 trường hợp (16,5%), nữ 71 
trường hợp (83,5%). Tỷ lệ nam/nữ là 1/5 
3.2. Hoàn cảnh phát hiện bệnh 
Bảng 3.1: Hoàn cảnh phát hiện bệnh (N=85) 
Triệu chứng Số BN Tỷ lệ % 
Phát hiện u tuyến giáp khi kiểm tra sức khỏe 78 91,7 
Thấy khối u vùng cổ trước 6 7,1 
Nói khàn 1 1,2 
Nuốt vướng 0 0 
Khó thở 0 0 
3.3 Phân độ TIRADS trên siêu âm 
Bảng 3.2: Phân độ TIRADS trên siêu âm (N=85) 
Phân độ TIRADS Số BN Tỷ lệ % 
TIRADS 3 2 2,4 
TIRADS 4 22 25,9 
TIRADS 5 61 71,7 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 54 
3.4 Kết quả giải phẫu bệnh 
Bảng 3.3: Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ (N=85) 
KQ Giải phẫu bệnh Số BN Tỷ lệ % 
Thể nhú 73 85,9 
Thể nang 12 14,1 
3.5. Kết quả phẫu thuật 
Kích thước khối u: 0,67±0,22 cm ; u nhỏ nhất là 0,3cm, lớn nhất là 1cm 
Thời gian mổ: 48,2±7,5 phút; ngắn nhất 35 phút, lâu nhất 65 phút 
Thời gian nằm viện sau mổ: 3,5±1 ngày, nhanh nhất 2 ngày, lâu nhất 6 ngày 
3.6. Biến chứng 
Bảng 3.4: Các biến chứng khác (N=85) 
Biến chứng Số BN Tỷ lệ % 
Chảy máu sau mổ 1 1,1 
Tê bì da vùng mổ 9 10,6 
Suy cận giáp tạm thời 0 0 
Tổn thương thần kinh thanh quản tạm thời 0 0 
Tụ dịch sau mổ 0 0 
Chuyển mổ mở 0 0 
Thủng khí quản 0 0 
IV. BÀN LUẬN 
4.1 Tuổi và giới 
Tỷ lệ nam/nữ trong PTNStheo Hong Kyu 
Kim [5] là 3/17, Jinbeom Cho [6] là 1/24, của 
chúng tôi là 1/5. So với tỷ lệ nam/nữ trong mổ mở 
của Lê Văn Quảng[7] là 2/5thì trong PTNStỷ lệ 
nam/nữ thấp hơn nhiều, có thể là do nhu cầu thẩm 
mỹ ở nữ cao hơn, tuy nhiên vẫn thể hiện rằng 
UTTG hay gặp ở nữ giới hơn so với nam giới. 
4.2 Hoàn cảnh phát hiện bệnh 
Theo kết quả bảng 3.1,BN đi kiểm tra sức 
khỏe định kỳ phát hiện ra bệnh là lý do vào viện 
hay gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm 
91,7%.Tỷ lệ tự sờ thấy u vùng cổ chỉ chiếm 7,1%, 
đây là các trường hợp có khối u nằm tại eo hoặc sát 
eo tuyến giáp. Có 1BN khàn tiếng đi khám chuyên 
khoa tai mũi họng thấy có hạt xơ dây thanh.Như 
vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lý do vào 
viện chủ yếu là do khám sức khỏe định kỳ còn 
trong nghiên cứu của Lê Văn Quảnglý do vào 
viện chủ yếu do BN tự sờ thấy khối u vùng cổ 
trước [7]. Sở dĩ có sự khác nhau là do đặc thù 
bệnh viện nơi chúng tôi nghiên cứu là chuyên 
khoa nội tiết, nên các BN khi đi kiểm tra sức 
khỏe định kỳ đã phát hiện u giáp qua siêu âm 
vùng cổ. Siêu âm tuyến giáp là thăm dò không 
xâm lấn, dễ thực hiện cùng với đó tỷ lệ nhân 
tuyến giáp cao nên nhiều nơi hiện nay đã đưa vào 
khám sức khỏe định kỳ. Tất nhiên siêu âm sẽ giúp 
đo chính xác kích thước u, phân loại theo 
TIRADS để xếp loại (Bảng 3.2) 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT MỘT THÙY TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ... 
 55 
4.3 Kỹ thuật mổ 
PTNS tuyến giáp cho tới nay có 5 đường 
vào chính: đường cổ, đường ngực, đường nách, 
đường miệng và đường sau mang tai. Các tác 
giả có thể dùng từng đường vào riêng biệt, cũng 
có khi kết hợp giữa các đường với nhau. Thao 
tác phẫu thuật có thể thực hiện bằng dụng cụ 
nội soi hay qua cánh tay robot [8]. 
Mỗi đường vào PTNS tuyến giáp đều đòi 
hỏi phẫu thuật viên phải được đào tạo chuyên 
sâu. Do đó mỗi tác giả chỉ quen với một đường 
vào, không có tác giả nào thực hiện bằng cả 
hai đường. Kyung Tae đã thực hiện phân tích 
tổng hợp đánh giá ưu nhược điểm của các 
đường vào này [9]. 
Ảnh minh họa các đường vào trong nội soi tuyến giáp (Nguồn Kyung Tae [9]) 
Bảng 4.1: So sánh ưu nhược điểm của các đường vào PTNS tuyến giáp[9] 
Tiêu chí so sánh 
Đường 
nách 
Đường 
ngực 
Đường 
sau tai 
Đường 
miệng 
Mức độ xâm lấn để phẫu tích tạo khoang làm việc +++ ++++ +++ ++ 
Khả năng thao tác các dụng cụ ++++ +++ +++ +++ 
Khả năng bộc lộ phẫu trường ++++ +++ ++++ +++ 
Khả năng cắt toàn bộ tuyến giáp ++ +++ + +++ 
Khả năng nạo vét hạch khoang trung tâm +++ ++ +++ +++ 
Khả năng nạo vét hạch khoang bên ++++ ++ ++++ +/– 
Mức độ hài lòng về thẩm mỹ +++ ++++ +++ ++++ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 56 
Tại bệnh viện Nội tiết Trung ương, từ năm 
2004 PTNS tuyến giáp được thực hiện theo kỹ 
thuật của Trần Ngọc Lương: kết hợp đường ngực – 
nách, đi bằng đường bên để vào thùy tuyến 
giáp[4]. Đây cũng là kỹ thuật chúng tôi được đào 
tạo và đã thực hiện nhiều trong điều trị bướu giáp 
nhân lành tính và ứng dụng điều trị cho các 
BNUTTG thể biệt hóa trong nghiên cứu này. 
Chúng tôi nhận thấy theo kỹ thuật này cơ ức-giáp 
phủ ngay mặt trước của thùy tuyến giáp, khi tách 
dọc cơ này thì thùy tuyến giáp tự đẩy lồi và bộc lộ 
hoàn toàn ra phía trước. Dễ bộc lộ mạch máu cực 
trên, dây thần kinh thanh quản và tuyến cận giáp ở 
thành bên. Không phải khâu lại sau mổ. 
4.4 Chỉ định và lựa chọn BN 
Chỉ định cắt 1 thùy tuyến giáp: Hiện tại 
BV Nội tiết Trung ương chúng tôi đang áp dụng 
theoGuidelines của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ 
2015 với khuyến cáo 35: Các trường hợp nhân 
ung thư ≤1cm chưa xâm lấn ra ngoài tuyến 
giáp, không có hạch di căn(qua khám lâm sàng, 
Siêu âm + chụp CT vùng cổ, đánh giá trong 
mổ) lựa chọn điều trị là cắt 1 thùy tuyến giáp. 
Với các trường hợp nhân ung thư kích thước từ 
1-4cm, chưa xâm lấn ra ngoài tuyến giáp, 
không có hạch di căn thì lựa chọn điều trị có 
thể là cắt 1 thùy tuyến giáp hoặc cắt toàn bộ 
tuyến giáp (tuổi >45, có nhân tuyến giáp thùy 
đối diện, tiền sử tia xạ vùng đầu cổ, tiền sử gia 
đình UTTG là các trường hợp nên cắt toàn bộ 
tuyến giáp) [3]. 
Lựa chọn BN mổ nội soi 
Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ 2016 đưa ra 
khuyến cáo về lựa chọn BN cho PT nội soi: 
kích thước u nên <3cm, không xâm lấn vỏ bao 
tuyến giáp, không có hạch di căn không viêm 
giáp, không bệnh Basedow, không tiền sử mổ 
cũ vùng cổ [8]. 
Lựa chọn BN mổ nội soi cũng rất khác nhau giữa các tác giả. 
Bảng 4.2: Kích thước khối u được mổ so với các tác giả khác 
Tác giả Số BN Đường vào Kích thước u (cm) 
Hong Kyu Kim[5] 91 Đường miệng 0,8±0,5 (0,2-2,8) 
Jinbeom Cho[6] 75 Đường nách 0,50±0,19 (0,2-1,0) 
Chúng tôi 85 Đường ngực - nách 0,67±0,22 (0,3-1,0) 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các BN 
đều ở giai đoạn I, kích thước u ≤ 1cm và bản chất 
giải phẫu bệnh là 85,9% là UTTG thể nhú (Bảng 
3.3). Kết quả này phù hợp với phần lớn các tác giả 
lựa chọn BN để PTNS. Việc lựa chọn ở giai đoạn I 
và kích thước nhân ≤ 1cm chúng tôi nhận thấy: các 
nhân kích thước nhỏ sẽ làm cho thùy tuyến không 
quá to, nhân chưa xâm lấn vỏ bao tuyến giáp nên khi 
phẫu thuật chúng tôi có thể cắt trọn vẹn toàn bộ thùy 
tuyến giáp mà không làm rách vỏ bao. Điều này giúp 
cho việc phẫu thuật triệt để và an toàn về mặt ung 
thư học. 
Phẫu thuật mổ mở có thế mạnh là thực hiện 
được ở tất cả các giai đoạn của bệnh, trong khi đó 
PTNS không thực hiện được ở các giai đoạn III, 
IV là do việc tạo khoang vùng cổ có giới hạn, có 
nhiều cơ quan dễ bị tổn thương. Đây cũng là hạn 
chế của phương pháp nội soi so với mổ mở.
. 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT MỘT THÙY TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ... 
 57 
4.5 Kết quả phẫu thuật và biến chứng 
Bảng 4.3: Thời gian mổ trung bình 
Tác giả Số BN Thời gian mổ trung bình (phút) 
Hong Kyu Kim[5] 91 210,8±32,9 
Jinbeom Cho[6] 75 130,8±36 
Chúng tôi 85 48,2±7,5 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian 
mổ trung bình là 48,2 phút, thời gian ngắn nhất 
35 phút, lâu nhất là 65 phút. Thời gian mổ trong 
nghiên cứu của chúng tôi ngắn hơn so với các tác 
giả, điều này có lẽ do sự thuần thục về kỹ thuật 
của các phẫu thuật viên đã mổ nội soi tuyến giáp 
lành tính trước đó, ngoài ra chúng tôi lựa chọn 
BN đều ở giai đoạn sớm với u ≤ 1cm. Thời gian 
mổ của chúng tôi còn được rút ngắn do việc ứng 
dụng dao đốt cắt siêu âm thay thế cho dao điện. 
Dao điện tạo ra rất nhiều khói trong quá trình mổ, 
sau mỗi lần đốt hay cắt thì chúng tôi phải dừng lại 
để cho khói thoát hết ra ngoài rồi mới có thể làm 
tiếp được, trong khi đó dao siêu âm ít tạo khói, 
cầm máu và cắt nhanh góp phần rút ngắn thời 
gian mổ. 
 Về biến chứng sau mổ Hong Kyu Kimmổ 
91 BN có 1 BNchảy máu, 1 BN tổn thương thần 
kinh quặt ngược tạm thời, 8 ca tê bì vùng mổ, 
không có suy cận giáp sau mổ [5]. Cho Jinbeom 
mổ 75 BN có 1 BN chảy máu, 3 BN tổn thương 
thần kinh quặt ngược tạm thời, 7 BN tê bì vùng 
mổ, 1 BN tụ dịch sau mổ, không có suy cận giáp 
sau mổ [6]. Yu Yang so sánh giữa nhóm mổ nội 
soi (n=85) và mổ mở (n=112) thấy không có sự 
khác nhau về biến chứng sau mổ của 2 nhóm này, 
trong đó mổ nội soi (n=85) có 2 BN tổn thương 
thần kinh quặt ngược tạm thời, 1 ca suy cận giáp 
tạm thời, 1 ca tụ dịch sau mổ, không có BN chảy 
máu sau mổ; mổ mở (n=112) có 3 BN tổn thương 
TK thanh quản quặt ngược tạm thời, 1 ca suy cận 
giáp tạm thời, 1 BN chảy máu [10].Như vậy, các 
biến chứng sau mổ của chúng tôi là tương đương 
với các tác giả khác (Bảng 3.4) 
V. KẾT LUẬN 
PTNS cắt một thuỳ tuyến giáp là an toàn và 
hiệu quả trong điều trị UTTG thể biệt hóa nguy 
cơ thấp. Việc lựa chọn bệnh nhân giai đoạn sớm, 
kích thước u nhỏ, thành thạo kỹ thuật đặt Trocar 
và phẫu tích tuyến, trang thiết bị đầy đủ... ảnh 
hưởng tới kết quả phẫu thuật. Cần làm các nghiên 
cứu quy mô hơn để đánh giá tiên lượng lâu dài 
của nhóm bệnh nhân này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Louise Davies, H Gilbert, Welch (2006). 
"Increasing incidence of thyroid cancer in the 
United States, 1973-2002", JAMA. 295(18), 
2164-2167. 
2. F. Bray, J. Ferlay, I. Soerjomataram, et 
al. (2018). Global cancer statistics 2018: 
GLOBOCAN estimates of incidence and 
mortality worldwide for 36 cancers in 185 
countries, CA Cancer J Clin,(6), 394-424. 
3. B. R. Haugen, E. K. Alexander, K. C. 
Bible, et al. (2016). 2015 American Thyroid 
Association Management Guidelines for Adult 
Patients with Thyroid Nodules and Differentiated 
Thyroid Cancer: The American Thyroid 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 58 
Association Guidelines Task Force on Thyroid 
Nodules and Differentiated Thyroid Cancer, 
Thyroid,(1), 1-133. 
4. Trần Ngọc Lương (2012). Phẫu thuật nội 
soi qua 8 năm thực hiện, Phẫu thuật nội soi và 
nội soi Việt nam,(2), 5-10 
5. Hong Kyu Kim, Young Jun Chai, 
Gianlorenzo Dionigi, et al. (2019). Transoral 
Robotic Thyroidectomy for Papillary Thyroid 
Carcinoma: Perioperative Outcomes of 100 
Consecutive Patients, World journal of 
surgery,(4), 1038-1046. 
6. Jinbeom Cho, Yohan Park, Jongmin 
Baek, et al. (2017). Single-incision endoscopic 
thyroidectomy for papillary thyroid cancer: A 
pilot study, International Journal of Surgery, 1-6. 
7. Lê Văn Quảng, Nguyễn Bá Đức, Nguyễn 
Quốc Bảo (2002). Nhận xét đặc điểm lâm sàng và 
các phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp tại 
Bệnh viện K từ năm 1992 - 2000, Tạp chí Y 
học,(431), 323 - 326. 
8. Eren Berber, Victor Bernet, Thomas J 
Fahey III, et al. (2016). American Thyroid 
Association statement on remote-access thyroid 
surgery, Thyroid,(3), 331-337. 
9. Kyung Tae, Yong Bae Ji, Chang Myeon 
Song, et al. (2019). Robotic and endoscopic 
thyroid surgery: evolution and advances, Clinical 
and experimental otorhinolaryngology,(1), 1. 
10. Yang, Y., Sun, D., Yang, J., Chen, J., & 
Duan, Y. (2020). Endoscopic Thyroidectomy in 
Anterior Chest Approach Versus Open 
Thyroidectomy for Patients with Papillary 
Thyroid Carcinomas, a Retrospective Study. 
Journal of Laparoendoscopic & Advanced 
Surgical Techniques,(5), 30-37. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_phau_thuat_noi_soi_cat_mot_thuy_tuyen_giap_dieu_tri.pdf