Kết quả phẫu thuật kết hợp xương sườn gãy bằng tấm nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Tổng quan: Gãy xương sườn là tổn thương

chính trong chấn thương ngực, hầu hết chỉ điều trị

bảo tồn. Trường hợp gãy nhiều xương, gãy di

lệch nhiều thì có chỉ định phẫu thuật cố định

xương gãy. Có nhiều kỹ thuật mổ, trong đó cố

định bằng tấm nẹp vít là phổ biến nhất. Bệnh viện

Hữu nghị Việt Đức đã bắt đầu ứng dụng phương

pháp này từ năm 2018. Nghiên cứu nhằm đánh

giá kết quả ban đầu của phương pháp.

Đối tượng phương pháp: Nghiên cứu mô

tả cắt ngang tiến cứu trên các bệnh nhân chấn

thương ngực phức tạp, được chỉ định và thực hiện

phẫu thuật cố định ổ gãy xương sườn bằng tấm

nẹp vít loại RibFixBlu, và đánh giá kết quả sớm

sau mổ, từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2020

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật kết hợp xương sườn gãy bằng tấm nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phẫu thuật kết hợp xương sườn gãy bằng tấm nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Kết quả phẫu thuật kết hợp xương sườn gãy bằng tấm nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG SƯỜN GÃY BẰNG TẤM NẸP VÍT TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 39
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG SƯỜN GÃY BẰNG TẤM NẸP VÍT 
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Nguyễn Hữu Ước*, Nguyễn Việt Anh*, Nguyễn Văn Trường**, Phạm Hữu Lư* 
TÓM TẮT 
Tổng quan: Gãy xương sườn là tổn thương 
chính trong chấn thương ngực, hầu hết chỉ điều trị 
bảo tồn. Trường hợp gãy nhiều xương, gãy di 
lệch nhiều thì có chỉ định phẫu thuật cố định 
xương gãy. Có nhiều kỹ thuật mổ, trong đó cố 
định bằng tấm nẹp vít là phổ biến nhất. Bệnh viện 
Hữu nghị Việt Đức đã bắt đầu ứng dụng phương 
pháp này từ năm 2018. Nghiên cứu nhằm đánh 
giá kết quả ban đầu của phương pháp. 
Đối tượng phương pháp: Nghiên cứu mô 
tả cắt ngang tiến cứu trên các bệnh nhân chấn 
thương ngực phức tạp, được chỉ định và thực hiện 
phẫu thuật cố định ổ gãy xương sườn bằng tấm 
nẹp vít loại RibFixBlu, và đánh giá kết quả sớm 
sau mổ, từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2020. 
Kết quả: Bao gồm 22 bệnh nhân, tuổi 45,3 
± 13,1 (23–68), nam chiếm 68,2 %. Khá nhiều 
chấn thương ngực thể nặng: mảng sườn di động 
bên 40,9% (9 ca), biến dạng lồng ngực 54,5% (12 
ca). Số xương sườn gãy gãy phát hiện được trên 
chụp CLVT là 8,86 ± 3,53 xương / 1 bệnh nhân 
(6–19), cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với phim 
X quang ngực thẳng, nhưng tương đương nhau 
đối với các xương sườn 4-6. Chỉ số xương sườn 
gãy (RFS) hầu hết đều ở mức độ 3-4. Thời gian 
phẫu thuật trung bình là 98,5 ± 12,5 phút (82 – 
130). Số lượng xương được kết hợp trung bình là 
3,1 ± 1,03 xương, nhiều nhất là 6 xương cho bệnh 
nhân bị gãy 19 xương, đa số ở cung bên xương 
sườn 4 - 7, trong đó có 100% ở xương sườn 5 và 
81,8% ở xương sườn 6. Không có các biến chứng 
đáng kể nào trong khi mổ. Hiệu quả giảm đau sau 
mổ được thấy rõ ở hầu hết các bệnh nhân. Kết 
quả sớm: khỏi không có biến chứng 86,4% (19 
ca), 2 ca xẹp phổi và 1 ca viêm phổi; thời gian 
nằm viện 12,2 ± 4,9 ngày (8-25); không có ca nào 
tử vong trong nhóm nghiên cứu. 
Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương sườn 
gãy bằng tấm nẹp vít là phương pháp an toàn và 
hiệu quả. Chỉ định phẫu thuật được chọn lựa cẩn 
thận và đảm bảo tính hợp lý dựa trên triệu chứng 
lâm sàng và cận lâm sàng. Cần có nghiên cứu so 
sánh với nhóm điều trị bảo tồn, cũng như đánh 
giá hiệu quả lâu dài của phẫu thuật. 
Từ khóa: cố định xương sườn, nẹp vít, 
Việt Đức 
SUMMARY 
RESULTS OF THE RIB FRACTURES 
STABILISATION BY LOCKED PLATE 
FIXATION AT VIET DUC UNIVERSITY 
HOSPITAL 
Overview: Fractures of the ribs are a major 
lesion of chest trauma, mostly with conservative 
treatment. In case of multiple fractures, multiple 
displacement fractures, surgical fixation of the 
broken rib is indicated. There are many surgical 
techniques, of which fixing with a blocked plate is 
the most common. Viet Duc Hospital has started to 
apply this method since 2018. The study aims to 
evaluate the initial results of the method. 6 
Method: A prospective cross-sectional 
descriptive study in patients with complex chest 
trauma, indicated and performed surgery to fix 
the rib fracture with a RibFixBlu type blocked 
plate, and early evaluation of the ealier results, 
from January 2018 to March 2020. 
Results: Including 22 patients, aged 45.3 ± 
13.1 (23–68), male take 68.2%. Quite a lot of 
* Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Đại học Y Hà Nội 
** Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Hữu Ước 
Ngày nhận bài: 26/12/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 26/01/2021 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 40
serious chest injuries: chest fail 40.9% (9 cases), 
chest deformity 54.5% (12 cases). The number of 
fractured ribs detected on CT scan was 8.86 ± 
3.53 ribs / 1 patient (6–19), which was 
significantly higher (p <0.05) than with a normal 
chest radiograph, but equivalent for 4th-6th ribs. 
The index of rib fractures (RFS) is mostly at the 
level of 3-4. Average surgery time is 98.5 ± 12.5 
minutes (82 - 130). The average number of rib 
fixation was 3.1 ± 1.03, up to 6 ribs for patients 
with 19 fractures, most in the lateral 4th-7th ribs, 
of which 100% was in the 5th rib and 81.8% in 6th 
rib. No significant complications during surgery. 
The postoperative analgesic effect is evident in 
most of the patients. Early results: 86.4% 
uncomplicated cure (19 cases), 2 cases of 
atelectasis and 1 case of pneumonia; length of 
stay in hospital 12.2 ± 4.9 days (8-25); There 
were no deaths in the study group. 
Conclusion: Rib’s fixation with a blocked 
plate is a safe and effective method. Surgical 
indications are carefully selected and reasonable 
based on clinical and subclinical symptoms. 
There is a need for comparative studies with the 
conservative treatment group, as well as 
evaluating the long-term effectiveness of surgery. 
Keywords: rib fixation, blocked plate 
fixation, Viet Duc 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Gãy xương sườn là một tổn thương rất 
thường gặp trong chấn thương ngực kín, gây ra 
nhiều hậu quả khác nhau, từ nhẹ như đau ngực, 
hạn chế hô hấp; đến tràn máu - tràn khí màng 
phổi; rồi biến dạng lồng ngực và suy hô hấp nặng 
do mảng sườn di động. Mảng sườn là một thể 
bệnh đặc biệt của chấn thương ngực kín, gây ra 
nhiều rối loạn toàn thân, thậm chí dẫn tới tử vong. 
Các biến chứng cũng như tử vong do chấn thương 
ngực kín thường liên quan tới 3 yếu tố chính 
gồm: giảm thông khí do đau và biến dạng lồng 
ngực, giảm khả năng trao đổi khí do tổn thương 
phổi, và các biến chứng của thở máy [1],[2]. 
Đối với đa số các dạng gãy xương sườn, 
bảo tồn là giải pháp điều trị chủ đạo; các can 
thiệp ngoại khoa chủ yếu dành cho tổn thương 
của phổi – khoang màng phổi. Tuy nhiên, với 
những trường hợp chấn thương ngực kín nặng, 
gãy – di lệch nhiều xương sườn, điều trị bảo tồn 
không đủ giải quyết tốt những tổn thương nặng 
nề của thành ngực, gây chậm phục hồi của các 
thương tổn ở phổi và các cơ quan khác, làm thời 
gian nằm viện kéo dài với nhiều biến chứng kèm 
theo như viêm phổi, xẹp phổi, ổ cặn màng phổi 
thậm chí suy hô hấp, thở máy kéo dài và tử vong. 
Nếu qua được, lâu dài cũng để lại nhiều di chứng 
như hạn chế hô hấp, biến dạng lồng ngực, đau 
mạn tính[1],[3],[4]. 
Kết hợp xương sườn (KHXS) là phương 
pháp điều trị có từ những năm 1960, đã có nhiều 
nghiên cứu đánh giá và so sánh về hiệu quả của 
KHXS trong điều trị chấn thương ngực nặng, đặc 
biệt trong thể bệnh mảng sườn di động; theo đó 
KHXS giúp giảm tỷ lệ biến chứng cũng như tử 
vong, giảm tình trạng đau mạn tính cũng như hạn 
chế hô hấp và biến dạng lồng ngực [1],[5]. Tại 
Việt Nam, KHXS bắt đầu được áp dụng tại bệnh 
viện (BV) Hữu nghị Việt Đức cho một số bệnh 
nhân từ cách đây 20 - 30 năm, với hiệu quả không 
cao do biến chứng nhiễm trùng vết mổ và chi phí 
vật tư quá lớn ở thời điểm đó. Vài năm gần đây, 
có một số dụng cụ KHXS bắt đầu du nhập vào 
Việt Nam, như tấm nẹp vít RibFixBlu (công ty 
Zimmer Biomet), và bước đầu được ứng dụng ở 
vài cơ sở y tế lớn, tuy nhiên chưa có báo cáo 
chuyên sâu nào về chủ đề này. Tại BV Việt Đức, 
phương pháp KHXS bằng tấm nẹp vít này bắt đầu 
được thực hiện thường qui từ đầu năm 2018. Để 
đánh giá đúng hiệu quả của phương pháp, chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu “Kết quả phẫu thuật kết 
hợp xương sườn gãy bằng tấm nẹp vít tại bệnh 
viện Hữu nghị Việt Đức” nhằm mục tiêu nhận xét 
chỉ định và đánh giá kết quả bước đầu của 
phương pháp mới này. 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG SƯỜN GÃY BẰNG TẤM NẸP VÍT TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 41
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 
các bệnh nhân chấn thương ngực kín, xương sườn 
gãy phức tạp, được thực hiện phương pháp 
KHXS từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2020, tại 
Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, BV Hữu 
nghị Việt Đức; với các chỉ số nghiên cứu gồm: 
tuổi, giới, hoàn cảnh tai nạn, triệu chứng lâm sàng 
và cận lâm sàng (X quang và chụp cắt lớp vi tính 
ngực), chỉ định KHXS, thông số phẫu thuật và 
hậu phẫu. Phương pháp xử lý số liệu bằng phần 
mềm Excel 2010 và SPSS 16.0. Phương tiện thực 
hiện KHXS là bộ tấm nẹp, vít các cỡ và dụng cụ 
kết hợp xương RibFixBlu của công ty Zimmer 
Biomet, nhập qua phòng Vật tư của BV Việt Đức. 
Qui trình nghiên cứu: Chấn thương ngực 
kín + gãy xương sườn phức tạp (lâm sàng, chẩn 
đoán hình ảnh) → Chỉ định KHXS gãy bằng tấm 
nẹp vít → Phẫu thuật KHXS bằng tấm nẹp vít → 
Săn sóc hậu phẫu tới khi ra viện. 
Đạo đức nghiên cứu: chỉ định và qui trình 
phẫu thuật được thông qua Hội đồng khoa học 
của BV Việt Đức, được Bảo hiểm y tế chấp nhận 
thanh toán vật tư theo qui định, và được lãnh đạo 
Trung tâm tim mạch và lồng ngực trực tiếp chỉ 
đạo. Bệnh nhân và gia đình được giải thích kỹ về 
mọi bước của nghiên cứu và ký cam kết thực hiện 
phẫu thuật. 
III. KẾT QUẢ 
Có 22 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn nghiên cứu, 
tuổi trung bình 45,3 ± 13,1 (23 – 68), nam giới 
chiếm 68,2 %. Nguyên nhân chấn thương ngực 
kín do tai nan giao thông chiếm tới 72,7%. Dấu 
hiệu cơ năng chủ đạo là đau ngực và khó thở 
(100%). Các dấu hiệu thực thể nặng có tỷ lệ khá 
cao, như mảng sườn di động thể bên 40,9% (9 
ca), biến dạng lồng ngực 54,5% (12 ca) [Biểu đồ 
1]. Chấn thương ngực kín đơn thuần gặp ở 7 bệnh 
nhân (31,8%). Các tổn thương phối hợp rất đa 
dạng, trong đó hay gặp nhất là gãy xương chi 
54,5% (12 ca). Chẩn đoán xác định thể bệnh chấn 
thương ngực kín trước mổ KHXS gồm: 100% có 
tràn máu - tràn khí màng phổi, có tổn thương 
đụng dập phổi / chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ở 12 
ca (54,5%), 1 ca ổ cặn màng phổi chấn thương. 
Biểu đồ 1: Triệu chứng thực thể của chấn thương ngực trước mổ KHXS 
Số lượng vị trí xương sườn gãy phát hiện 
được trên chụp CLVT là 8,86 ± 3,53 xương / 1 
bệnh nhân (6 – 19), cao hơn một cách có ý nghĩa 
(p<0,05) so với phim X quang ngực thẳng thông 
thường là 6,86 ± 3,70 xương / 1 bệnh nhân (5 – 
18). Khả năng phát hiện gãy xương sườn của X 
quang ngực kém hơn so với chụp CLVT đối với 
các xương sườn ở cao và thấp, nhưng vẫn rất hiệu 
quả đối với các xương sườn 4-6 (biểu đồ 2). Chỉ 
số tính điểm xương sườn gãy (Rib fracture score 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 42
– RFS)[1] được tính theo công thức: “RFS = (số 
điểm xương sườn gãy x số bên gãy) + yếu tố 
tuổi”; trong đó, số điểm xương sườn gãy được 
hiểu là số các ổ gãy xương sườn, trên một cung 
xương sườn có thể có nhiều vị trí gãy khác nhau, 
đặc biệt trong mảng sườn di động; yếu tố tuổi già 
ảnh hưởng đến tỷ lệ biến chứng và tử vong trong 
bệnh lý gãy xương sườn (Hình 1). Theo đó, chỉ 
định KHXS hầu hết dành cho đối tượng có RFS 
mức độ 3-4 (Bảng 1). 
Biểu đồ 2: Phân bố vị trí xương sườn gãy (1-12) theo X quang và Cắt lớp vi tính (CLVT) 
Bảng 1: Phân bố theo điểm gãy xương sườn (RFS) 
Mức độ Khuyến cáo điều trị theo May L. [1] 
Số lượng (%) 
(n=22) 
1 (RFS từ 3-6 điểm) Giảm đau thông thường. 0 (0%) 
2 (RFS từ 7-10 điểm) Giảm đau phối hợp thông thường và morphin. 1 (4,5%) 
3 (RFS từ 11- 15 điểm) 
Giảm đau morphin tĩnh mạch liên tục phối hợp 
giảm đau thần kinh. 
4 (18,2%) 
4 (RFS >15 điểm) 
- Giảm đau bằng đặt catheter phong bế cơ răng 
trước hoặc cạnh sống. 
- Phẫu thuật cố định xương sườn. 
17 (77,3%) 
Thời gian phẫu thuật KHXS trung bình là 
98,5 ± 12,5 phút (82 – 130). Số lượng xương 
được kết hợp trung bình là 3,1 ± 1,03 xương; hầu 
hết bệnh nhân được kết hợp 3 xương sườn 
(63,6%), nhiều nhất là 6 xương cho bệnh nhân bị 
gãy 19 xương. Vị trí xương hay được kết hợp 
nhất là xương sườn 4 - 7 tại vị trí cung bên, trong 
đó có 100% ở xương sườn 5 và 81,8% ở xương 
sườn 6. Không có các biến chứng đáng kể nào 
trong khi mổ. Sau mổ các bệnh nhân đều được 
điều trị giảm đau toàn thân bằng paracetamol, 
trong đó có 2 ca (9,1%) cần kết hợp thêm bằng 
giảm đau vùng (giảm đau cạnh sống hoặc ngoài 
màng cứng). Kết quả chung sau mổ ở bảng 2, 
trong đó khỏi không có biến chứng ở 19 bệnh 
nhân (86,4%), 2 ca xẹp phổi và 1 ca viêm phổi / 
tổn thương phối hợp nặng (chấn thương động 
mạch cánh tay đầu) và điều trị hồi sức 3 ngày – 
với thời gian nằm viện 25 ngày. Không có trường 
hợp nào tử vong trong nhóm nghiên cứu.
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG SƯỜN GÃY BẰNG TẤM NẸP VÍT TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 43
Bảng 2: Kết quả chung sau mổ KHXS 
Thời gian (ngày) Trung bình Ngắn nhất Dài nhất 
Thời gian nằm hồi sức 1,17 ± 0,65 0 3 
Thời gian rút dẫn lưu màng phổi 5,2 ± 1,7 3 12 
Thời gian nằm viện٭ 12,2 ± 4,9 8 25 
٭ Tính đến thời điểm bệnh nhân hoàn toàn ổn định về lồng ngực. 
IV. BÀN LUẬN 
Phẫu thuật KHXS đã được thực hiện trong 
nhiều thập kỷ gần đây. Nhờ những cải tiến về 
trang thiết bị, dụng cụ, điều trị chống nhiễm 
khuẩn; mà tới nay phẫu thuật KHXS đã chứng 
minh được hiệu quả trong điều trị và mang lại 
nhiều lợi ích rõ rệt ở nhóm các bệnh nhân có 
tổn thương ngực nặng phải thở máy, mảng 
sườn di động, nhờ giúp sớm định hình lại 
khung lồng ngực, phục hồi chức năng phổi và 
giảm đau. Ngoài ra, phẫu thuật KHXS cũng 
được chỉ định trong các trường hợp đau do gãy 
xương sườn - không đáp ứng với kiểm soát đau 
thông thường, gãy xương sườn dị lệch nhiều 
và khi có phẫu thuật lồng ngực phối hợp 
[1],[5],[6],[7]. Tuy nhiên, do KHXS là một can 
thiệp có chi phí lớn hơn nhiều so với điểu trị 
bảo tồn kinh điển, nên hiện nay trên thế giới 
vẫn chưa có đồng thuận chung về chỉ định 
KHXS. Có một số quan điểm, song 2 chỉ định 
phổ biến nhất là theo Marc de Moya (2017) [7] 
và May L (2015) [1]. 
So sánh với chỉ định của May L (Hình 1) 
[1], chỉ định theo Marc de Moya (Hình 2) [7] chủ 
yếu phụ thuộc theo số xương sườn gãy và độ tuổi 
bệnh nhân. Số lượng xương sườn gãy liên quan trực 
tiếp tới tình trạng nặng của chấn thương, cũng như 
tiên lượng tỷ lệ biến chứng và tử vong có thể xảy ra 
với người bệnh. Theo đó, trong nghiên cứu có 
77,3% bệnh nhân đáp ứng chỉ định kết hợp xương 
sườn, với chỉ số xương sườn gãy (RFS) > 15 điểm, 
còn lại 5 bệnh nhân (chiếm 22,7%) có RFS dưới 15 
điểm. Tuy nhiên 5 bệnh nhân này đều đáp ứng kém 
với điều trị giảm đau bằng morphin (sau 3 ngày sử 
dụng giảm đau tích cực vẫn không hiệu quả), đặt ra 
vấn đề cần kết hợp xương sườn. Ngoài ra, chỉ định 
của May L còn bộc lộ một số hạn chế khi chỉ định 
phẫu thuật chỉ căn cứ vào số xương sườn gãy và độ 
tuổi bệnh nhân, mà hoàn toàn bỏ qua triệu chứng cơ 
năng và thực thể như biến dạng lồng ngực, mảng 
sườn di động; chính những cải tiến trong chỉ định 
của Marc de Moya đưa ra đã khắc phục được 
những hạn chế này, nên nhanh chóng được áp dụng 
phổ biến hơn trong chỉ định phẫu thuật KHXS. 
Hình 1: Chiến lược điều trị gãy nhiều xương sườn (dịch theo May L 2015) [1] 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 44
Dựa theo chỉ định của Marc de Moya 
(2017) [7], 100% bệnh nhân của nghiên cứu đã 
đáp ứng hoàn toàn chỉ định này: 100% có gãy 
từ 6 xương sườn dị lệch trở lên, cá biệt có một 
bệnh nhân gãy tối đa 19 xương sườn; 40,9% 
bệnh nhân có mảng sườn di động; 54,5% bệnh 
nhân có biến dạng lồng ngực; và một trường 
hợp có gãy xương sườn kết hợp với ổ cặn màng 
phổi chấn thương - được kết hợp xương sườn 
và sử lý làm sạch khoang màng phổi cùng một 
thì. Không có bệnh nhân nào có chống chỉ định 
phẫu thuật KHXS (Hình 2). Theo kết quả 
nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng chỉ định của 
Marc de Moya (2017) giúp thực hiện chỉ định 
được dễ dàng và phân loại điều trị bệnh nhân 
một cách hiệu quả hơn, cũng như đưa ra những 
chống chỉ định cụ thể cho phẫu thuật KHXS. 
Hình 2: Chỉ định kết hợp xương sườn (dịch theo Marc de Moya 2017) [7] 
Về phương pháp phẫu thuật, nhóm nghiên 
cứu sử dụng đường rạch ngang tại vị trí tương 
ứng với ổ gãy xương sườn, mở dọc theo thớ cơ - 
không cắt cơ, bộc lộ xương sườn, đặt nẹp và 
KHXS bằng nẹp vít RibFixBlu. Loại nẹp sử dụng 
là nẹp 8 lỗ với vít tự khóa, nẹp được định hình 
sẵn cong theo chiều cong của xương sườn, và có 
thể sử dụng uốn để phù hợp hơn cho từng bệnh 
nhân. Trung bình số xương sườn gãy được kết 
hợp xương là 3,1 ± 1,03 xương, và chủ yếu kết 
hợp tại vị trí cung bên xương sườn. Điều này 
cũng tương tự với các nghiên cứu khác như của 
Kocher GJ và cộng sự nghiên cứu ở 105 bệnh 
nhân KHX sườn năm 2016, số lượng xương 
sườn kết hợp trung bình là 4,5 ± 1,8 xương [6], 
vị trí chủ yếu là cung bên và sử dụng nẹp 8 lỗ ở 
mỗi vị trí gãy. Tương tự, nghiên cứu của 
Campbell N năm 2009 ở 32 bệnh nhân với số 
lượng kết hợp xương trung bình là 3 xương [8]. 
Vị trí kết hợp xương sườn cũng rất quan trọng, 
theo nghiên cứu của Cameron Gettel năm 2014, 
KHXS chỉ nên thực hiện từ xương sườn thứ 3 
đến thứ 10, đặc biệt là xương sườn 5 - được coi 
là chìa khóa để giải quyết tình trạng mảng sườn 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG SƯỜN GÃY BẰNG TẤM NẸP VÍT TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 45
di động cũng như mất ổn định của lồng ngực; 
còn xương sườn 1,2 và 11,12 có vai trò không 
lớn trong việc đảm bảo chức năng hô hấp của 
lồng ngực; vị trí được kết hợp nhiều nhất cũng là 
cung bên xương sườn từ 3 đến 6 [9]. Kết quả này 
cũng giống như trong nghiên cứu của chúng tôi 
khi vị trí xương hay được kết hợp nhất là xương 
sườn 4-7 tại vị trí cung bên, trong đó 100% 
xương sườn 5 được kết hợp, 81,8% bệnh nhân 
được kết hợp xương sườn 6. 
Hình 3: Kết hợp xương sườn bằng tấm nẹp vít [nguồn: tác giả] 
Bảng 3: So sánh kết quả phẫu thuật và hậu phẫu giữa các nghiên cứu 
Chỉ số 
Chúng tôi 
(n=22) 
Kocher GJ 
[6] (n=102) 
Althausen PL 
[3] (n=22) 
Marasco SF 
[4] (n=23) 
Thời gian mổ trung bình (phút) 98,5 ± 12,5 - 55 - 
Số xương sườn kết hợp (cái) 3,1 ± 1,03 4,5 ± 1,8 - - 
Thời gian nằm hồi sức (ngày) 1,17 ± 0,65 4,5 ± 5,02 2,68 11,8 
Thời gian nằm viện (ngày) 12,2 ± 4,9 9,54 ± 7,12 11,9 ± 7,79 20,0 
Biến 
chứng 
(n/%) 
Không 19 (86,4%) 96 (94,1%) - - 
Suy hô hấp 0 1 (1,6%) - - 
Xẹp phổi 2 (9,1%) 0 - - 
Viêm phổi 1 (4,55%) 5 (8,2%) 1 (4,55%) 11 (47,83%) 
Tỷ lệ tử vong 0% 4,9% 0% 0% 
Thời gian mổ trung bình trong nghiên cứu 
là 98,5 ± 12,5 phút, ngắn nhất là 80 phút, dài nhất 
là 130 phút. Thời gian này có dài hơn so với công 
bố của Althausen năm 2014 [3], nguyên nhân do 
kỹ thuật KHXS mới được triển khai tại Trung tâm 
Tim mạch và Lồng ngực, kinh nghiệm của phẫu 
thuật viên còn hạn chế và thiếu một số trang thiết 
bị phục vụ quá trình phẫu thuật. Dù vậy, thời gian 
nằm hồi sức sau mổ của bệnh nhân chúng tôi lại 
ngắn nhất, là 1,17 ± 0,65 ngày, so với 2,68 ngày 
theo nghiên cứu của Althausen và 4,5-11,8 ngày 
theo công bố của các tác giả khác (Bảng 3). Đây 
là một trong những ưu điểm nổi trội của phẫu 
thuật KHXS đáng được ghi nhận so với phương 
pháp điều trị bảo tồn. Cũng theo những nghiên 
cứu trên, KHXS mang lại hiệu quả rõ rệt khi giảm 
thời gian thở máy, thời gian điều trị hồi sức sau 
mổ cũng như các biến chứng liên quan đến hô 
hấp [4],[5],[8]. Thời gian nằm viện trong nghiên 
cứu của chúng tôi là 12,2 ± 4,9 ngày, cũng tương 
tự với các nghiên cứu khác, và không có tử vong 
trong giai đoạn hậu phẫu. Trong nghiên cứu của 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 46
Kocher GJ, 3 trong số 102 bệnh nhân có 5 ca tử 
vong (4,9%), nhưng đều do biến chứng nặng của 
các tổn thương phổi hợp khác [6]. Biến chứng 
gặp ở 3 trường hợp gồm 2 bệnh nhân có xẹp phổi 
và 1 bệnh nhân viêm phổi đều được điều trị nội 
khoa tích cực, lý liệu pháp hô hấp và soi hút khí 
phế quản ở bệnh nhân xẹp phổi, không có trường 
hợp nào phải mổ lại. Theo Leinicke JA [10], đánh 
giá tổng quan về điều trị phẫu thuật KHXS thông 
qua hơn 1400 nghiên cứu đã cho thấy rõ ràng 
hiệu quả của phương pháp, gồm: giảm thời gian 
nằm thở máy, thời gian nằm hồi sức, giảm thời 
gian nằm viện cũng như giảm các biến chứng 
viêm phổi và tỷ lệ tử vong của nhóm phẫu thuật 
khi so sánh với nhóm điều trị bảo tồn [10]. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật KHXS bằng tấm nẹp vít để điều 
trị gãy xương sườn là phẫu thuật mới áp dụng tại 
Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, bệnh viện Hữu 
nghị Việt Đức. Chỉ định phẫu thuật được chọn lựa 
cẩn thận và đảm bảo tính hợp lý dựa trên triệu 
chứng lâm sàng và cận lâm sàng. Phẫu thuật KHXS 
đã chứng minh được hiệu quả điều trị, mang lại tính 
an toàn, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh 
nhân. Từ những thành công bước đầu này, phẫu 
thuật KHXS bằng tấm nẹp vít hiện đã được áp dụng 
một cách thường quy tại bệnh viện Hữu nghị Việt 
Đức và được đang đánh giá sâu hơn thông qua các 
đề tài nghiên cứu khác, đặc biệt cần so sánh với 
nhóm điều trị bảo tồn, cũng như đánh giá hiệu quả 
lâu dài của phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. May L, Hillermann C, Patil S. Rib 
fracture management. BJA Education. 
2015;16(1):26-32. 
2. Vyhnánek F, Jirava D, Očadlík M, 
Škrabalová D. Surgical Stabilisation of Flail 
Chest Injury: Indications, Technique and Results. 
Acta chirurgiae orthopaedicae et traumatologiae 
Cechoslovaca. 2015;82(4):303-307. 
3. Althausen PL, Shannon S, Watts C, et 
al. Early surgical stabilization of flail chest with 
locked plate fixation. Journal of orthopaedic 
trauma. Nov 2011;25(11):641-647. 
4. Marasco SF, Davies AR, Cooper J, et al. 
Prospective randomized controlled trial of 
operative rib fixation in traumatic flail chest. 
Journal of the American College of Surgeons. 
May 2013;216(5):924-932. 
5. Caragounis EC, Fagevik Olsén M, 
Pazooki D, Granhed H. Surgical treatment of 
multiple rib fractures and flail chest in trauma: a 
one-year follow-up study. World journal of 
emergency surgery : WJES. 2016;11:27. 
6. Kocher GJ, Sharafi S, Azenha LF, 
Schmid RA. Chest wall stabilization in ventilator-
dependent traumatic flail chest patients: who 
benefits?. European journal of cardio-thoracic 
surgery : official journal of the European 
Association for Cardio-thoracic Surgery. Apr 1 
2017;51(4):696-701. 
7. De Moya M, Nirula R, Biffl W. Rib 
fixation: Who, What, When?. Trauma surgery & 
acute care open. 2017;2(1):e000059. 
8. Campbell N, Conaglen P, Martin K, 
Antippa P. Surgical stabilization of rib fractures 
using Inion OTPS wraps--techniques and quality 
of life follow-up. The Journal of trauma. Sep 
2009;67(3):596-601. 
9. Cameron Gettel DM. Rib Fracture 
Repair: Assessing the Effects of Various Levels 
of Fixation on Stability of a Flail Chest Segment. 
AMSRJ. 2014;1. 
10. Leinicke JA, Elmore L, Freeman BD, 
Colditz GA. Operative management of rib 
fractures in the setting of flail chest: a systematic 
review and meta-analysis. Annals of surgery. Dec 
2013;258(6):914-921. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_phau_thuat_ket_hop_xuong_suon_gay_bang_tam_nep_vit_t.pdf