Kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ năm 2011 đến năm 2015

Kén phế quản là một dị tật bẩm sinh của

phổi, cần được chẩn đoán và phẫu thuật sớm. Từ

năm 2011 đến năm 2015 có 44 trường hợp (19

nam, 25 nữ) sau phẫu thuật có kết quả mô bệnh

học là kén phế quản, độ tuổi trung bình 41,86

tuổi. Triệu chứng chủ yếu ho, ho máu, đau ngực,

khó thở, sốt. Hình ảnh trên phim XQuang ngực

thường quy và CT scanner ngực chủ yếu: kén khí,

kén có mức dịch khí, khối mờ đều, khối mờ trong

kén khí. Kén phế quản trong phổi tổn thương bên

phải chiếm ưu thế, trong khi đó kén phế quản

trung thất chủ yếu ở ngực trái. Điều trị chủ yếu là

phẫu thuật, với kén phế quản trung thất cắt kén,

trong khi đó kén phế quản trong phổi chủ yếu cắt

thùy phổi chứa kén phế quản. Biến chứng trong

mổ, sớm ngày đầu sau mổ ít, trong khi đó biến

chứng sau mổ muộn hơn thường nhẹ và xử lý đơn

giản chủ yếu ổ dịch khí khu trú. Thời gian nằm

viện sau mổ trung bình 16,39 ngày

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ năm 2011 đến năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ năm 2011 đến năm 2015

Kết quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ năm 2011 đến năm 2015
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 30 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 
Khiếu Mạnh Cường*, Nguyễn Lê Vinh*, Nguyễn Sỹ Khánh*, Đinh Văn Lượng *, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT 
Kén phế quản là một dị tật bẩm sinh của 
phổi, cần được chẩn đoán và phẫu thuật sớm. Từ 
năm 2011 đến năm 2015 có 44 trường hợp (19 
nam, 25 nữ) sau phẫu thuật có kết quả mô bệnh 
học là kén phế quản, độ tuổi trung bình 41,86 
tuổi. Triệu chứng chủ yếu ho, ho máu, đau ngực, 
khó thở, sốt. Hình ảnh trên phim XQuang ngực 
thường quy và CT scanner ngực chủ yếu: kén khí, 
kén có mức dịch khí, khối mờ đều, khối mờ trong 
kén khí. Kén phế quản trong phổi tổn thương bên 
phải chiếm ưu thế, trong khi đó kén phế quản 
trung thất chủ yếu ở ngực trái. Điều trị chủ yếu là 
phẫu thuật, với kén phế quản trung thất cắt kén, 
trong khi đó kén phế quản trong phổi chủ yếu cắt 
thùy phổi chứa kén phế quản. Biến chứng trong 
mổ, sớm ngày đầu sau mổ ít, trong khi đó biến 
chứng sau mổ muộn hơn thường nhẹ và xử lý đơn 
giản chủ yếu ổ dịch khí khu trú. Thời gian nằm 
viện sau mổ trung bình 16,39 ngày. 
Từ khóa: Kén phế quản 
SUMMARY 
RESULTS OF BRONCHOGENIC CYSTS 
SURGERY AT THE NATIONAL LUNG 
HOSPITAL FROM 2011 TO 2015 
Bronchogenic cysts is a congentinal 
pulmonary malformation and it needs to be 
diagnosed and treated early. 44 cases at the 
National Lung Hospital from 2011 to 2015 
were establish diagnosis based on postoperation 
on histologic examination and performed an 
analysis: sex ratio male/female: 19/25. Mean age: 
41,86. Clinical signs were cough, fever, pain and 
dyspnea, hemoptysis. Images in Xray and CT-
scanner were bullae, hemogenous shadow, bullae 
within fluid level, hemogenous shadow in the 
bullae. Intrapulmonary bronchogenic cysts was 
dominant on the right side, and mediastinal 
bronchogenic cyst was dominant on the left side. 
Surgical procedure of bronchogenic cysts 
composed: lobectomy with intrapulmonary 
bronchogenic cyst and surgical excision of the 
cyst in the mediastinum was approached. 
Postoperative complications are common seen: 
air or fluid in plueral cavity. Postoperative 
hospital days was 16,39 days. 
Keyword: Bronchogenic cysts.* 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Sự phát triển bất thường của mầm phổi 
trong thời kỳ bào thai xảy ra từ ngày thứ 26 đến 
ngày thứ 40 của thai kỳ (tức từ tuần thứ 4 đến 
tuần thứ 6 của thai kỳ) hình thành nên một số dị 
tật bẩm sinh của phế quản và phổi như: kén phế 
quản, dị dạng nang tuyến bảm sinh, khí phế 
thũng, phổi biệt lập, 
Kén phế quản là một trong những dị tật bẩm 
sinh hiếm gặp của phổi, có thể được chẩn đoán 
trước sinh, ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ bởi vì các triệu 
chứng chèn ép cơ quan lân cận. Ở người lớn thường 
được chẩn đoán khi chụp phim XQuang phổi kiểm 
tra sức khỏe hoặc có biến chứng: viêm nhiễm, đau 
ngực, khó thở, vỡ kén, ho máu. 
Vị trí kén phế quản có thể ở trong nhu mô 
phổi, rãnh phổi, trung thất, Bình thường kén 
phế quản không thông với cây phế quản nhưng 
khi có bội nhiễm kén sẽ thông với phế quản tạo 
* Bệnh viện Phổi Trung ương, 
 ** Bệnh viện Việt Đức- Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 31 
hình mức nước - hơi. Do vậy, trên lâm sàng 
bệnh nhân sẽ có những đợt nhiễm trùng tái diễn 
với triệu chứng hay gặp là ho khạc đờm, sốt, ho 
ra máu,và dễ chẩn đoán điều trị sang các 
bệnh khác. 
Triệu chứng lâm sàng của kén phế quản 
không đặc hiệu nên chẩn đoán kén phế quản chủ 
yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh: XQuang phổi 
thường quy, đặc biệt chụp cắt lớp vi tính, nhưng 
việc chẩn đoán chính xác trước mổ còn hạn chế. 
Điều trị triệt để duy nhất bằng phẫu thuật: cắt bỏ 
kén hoặc cắt thùy phổi hay phần thùy phổi chứa 
kén phế quản. 
Việc chẩn đoán và điều trị sớm kén phế 
quản là cần thiết để hạn chế những biến chứng 
không mong muốn có thể xảy ra, bởi vậy mục 
đích chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá kết 
quả phẫu thuật kén phế quản tại Bệnh viện 
Phổi Trung ương từ năm 2011 đến năm 2015” 
với 2 mục tiêu sau: 
· Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, 
cận lâm sàng kén phế quản. 
· Nhận xét kết quả sớm phẫu thuật kén 
phế quản tại bệnh viện Phổi trung ương từ năm 
2011 đến năm 2015. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
· 2.1. Đối tượng nghiên cứu 
· 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 
Nghiên cứu hồi cứu được tiến hành trên các 
bệnh nhân được chẩn đoán mô bệnh kén phế quản 
tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 1 năm 
2011 đến tháng 12 năm 2015. 
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 
- Không phân biệt tuổi, giới. Có chẩn đoán 
giải phẫu bệnh sau mổ là kén phế quản. 
- Bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu. 
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 
· Không có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ. 
· Có kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu 
thuật viêm mạn tạo kén. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả hồi cứu, mẫu thuận tiện. 
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 
Khai thác thông tin hồ sơ bệnh án sẵn có 
điền vào mẫu bệnh án nghiên cứu. 
2.3. Phương pháp xử lý số liệu 
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata. Xử 
lý số liệu bằng phần mềm Stata 10.0. Các thuật 
toán được sử dụng là tính tỷ lệ %, tính trung bình, 
độ lệch (X±SD), các thuật toán kiểm định. 
III. KẾT QUẢ 
Nghiên cứu hồi cứu 44 trường hợp sau phẫu 
thuật có kết quả giải phẫu bệnh là kén phế quản 
từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2015 cho 
kết quả sau: 
3.1. Phân bố tuổi, giới 
- Tuổi trung bình 41,86 ±11,97, thấp nhất 
15 tuổi, cao nhất 65 tuổi. 
- Tỷ lệ giới tính: nam 19 trường hợp 
(43,18% ), nữ 25 trường hợp (56,82%). 
3.2. Triệu chứng lâm sàng 
Bảng 1. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu 
Triệu chứng lâm sang chủ yếu 
 Đau ngực Khó thở Ho khan Ho máu Đờm mủ Sốt 
n 29 16 12 17 14 12 
% 26.85 14.81 11.11 15.74 12.96 11.11 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 32 
3.3. Chẩn đoán hình ảnh 
Bảng 2. Hình ảnh tổn thương và số lượng kén trên phim X quang ngực 
Hình ảnh kén Số lượng kén 
 Kén 
khí 
Dịch 
khí 
Mờ 
đều 
Mờ 
không 
đều 
Khối 
trong 
kén 
Không 
rõ 
Đơn 
kén 
Đa 
kén 
Không 
rõ 
n 13 7 16 4 3 1 30 11 3 
% 29,54 15,90 36,36 9,09 6,82 2,27 68.18 25 6,82 
Bảng 3. Hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực 
Hình ảnh kén 
Kén khí Dịch khí Khối mờ đều Mờ không đều Khối trong kén 
n 9 10 16 1 8 
% 20,45 22,73 36,36 2,77 18,18 
Vị trí: Trong phổi 30/44(68,18%), trung thất 11/44(25%), phối hợp 3/44(6,82%). 
Ngực phải: 24/44 (54,56%), Ngực trái: 19/44 (43,18%), Giữa trung thất 1/44(2,27%). 
 3.4. Kết quả mô bệnh (Bảng 4) 
 Giải phẫu bệnh 
Kén đơn thuần Kén bội nhiêm nấm Kén bội nhiễm 
n 17 11 16 
% 38,64 25,00 36,36 
3.5. Điều trị 
· Kén phế quản trong phổi 28/30 trường hợp cắt thùy phổi, 2/30 trường hợp cắt kén. 
· Kén phế quản trung thất 10/11 trường hợp cắt kén, 1/11 trường hợp phải cắt thùy phổi kèm theo. 
· Kén phế quản phối hợp cả trung thất và phổi: 1/3 trường hợp cắt nguyên kén, 2/3 trường hợp 
cắt kén trung thất và thùy phổi chứa kén. 
· Thời gian mổ trung bình: 167,6 ± 56,36 phút, ngắn nhất: 45 phút, lâu nhất: 300 phút. 
3.6. Biến chứng (Bảng 5) 
Trong mổ: 42 (95,45 %) trường hợp không biến chứng, 2 (4,55 %) trường hợp chảy máu. 
Sau mổ Chảy máu Viêm phổi 
Viêm màng 
phổi 
Dịch/ khí kéo 
dài 
Nhiễm trùng vết 
mổ 
n 1 2 2 10 2 
% 2,27 4,55 4,55 22,72 4,55 
3.7. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật 
· Trung bình 16,39 ± 14,03 ngày, ngắn 
nhất 6 ngày, lâu nhất 85 ngày. 
3.8. Kết quả phẫu thuật 
- Tình trạng ra viện 100% trong tình trạng 
lâm sang ổn định, 41 trường hợp trên phim 
xquang phổi nở sát thành ngực, 3 trường hợp có 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 33 
hình ảnh dày dính màng phổi. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Tuổi giới 
- Tuổi: trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi 
trung bình 41,86 tuổi, tương tự như tác giả: Vũ 
Chí Thành [1] tuổi trung bình 40 tuổi, 
Faten Limaïem [2] trung bình 41 tuổi. 
- Giới tính: một số nghiên cứu cho rằng tỷ 
lệ nam cao hơn nữ, một số nghiên cứu lại chỉ ra 
rằng nữ cao hơn nam. Vũ Chí Thành [1] nam/ nữ 
: 1,2/1; McAdams HP nam/nữ 1,3/1. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nam/ nữ: 1/1,3; 
như vậy sự mắc bệnh của nam và nữ là không có 
sự khác biệt với p > 0,05. 
4.2. Triệu chứng 
- Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh 
cảnh hô hấp: ho, ho máu, đau ngực, khó thở, sốt 
(bảng 1). Điều đó nói nên việc chẩn đoán và điều 
trị nhầm là dễ hiểu. Các triệu chứng tương tự 
trong kết quả nghiên cứu Vũ Chí Thành (2003) 
[1] nghiên cứu 33 bệnh nhân kén phế quản triệu 
chứng chủ yếu là đau ngực, sốt, ho khan, ho ra 
máu, khó thở. Theo Faten Limaïem [2] nghiên 
cứu kén phế quản trung thất 94% trường hợp có 
triệu chứng thì có đến 48,5 % là đau ngực. 
- Chỉ có một trường hợp tình cờ phát hiện, 
không có triệu chứng khi khám sức khỏe định kỳ, 
so với một số tác giả khác là rất thấp: Sarper và 
cộng sự 18% [3]. Điều đó càng nói lên việc phát 
hiện và điều trị muôn khi đã có biến chứng. 
4.3. Chẩn đoán hình ảnh 
- Bên tổn thương: Nhìn các con số có vẻ 
ngực phải chiêm ưu thế. Sử dụng thuật toán so 
sánh tỷ lệ thì tổn thương bên ngực phải và trái là 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 
0.445 (Bảng 3). Vũ Chí Thành 2003 [1] gặp bên 
phải cao hơn bênh trái gấp 2 lần. Philippe 
Cuypers tỷ lệ phải/ trái: 1,7/1. Trong khi đó kén 
phế quản trong phổi tỷ lệ gặp bên phải cao hơn 
bên trái còn kén ở trung thất thì ngược lại tỷ lệ 
bên trái cao hơn. 
- Vị trí kén phế quản gặp chủ yếu trong 
phổi hơn là trung thất, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê p < 0,05 (Bảng 3) tương tự một số 
nghiên cứu khác tỷ lệ kén phế quản trung thất ít 
gặp hơn so ở phổi: Vũ Chí Thành 2003 [1] 100% 
kén phế quản phổi, có lẽ các kén phế quản trung 
thất chưa được quan tâm tới. 
- Hình ảnh kén trên phim XQuang thường 
quy: chủ yếu là dạng khối mờ đồng nhất, kế đến 
là dạng kén khí, kén mức dịch khí, khối mờ trong 
kén, (Bảng 2) điều đó việc chẩn đoán ban đầu 
dễ nhầm sang bệnh lý khác khi kết hợp với các 
triệu chứng lâm sang như lao phổi, u phổi, u 
trung thất, áp xe phổi, làm cho việc điều trị 
thực thụ bị chậm trễ. Sunit R. Patel [4] nghiên 
cứu 18 trường hợp kén phế quản thấy 17 trường 
hợp có bất thường trên phim chụp xquang ngực 
thường quy nhưng không được chẩn đoán. Theo 
Faten Limaïem[2] trong 27 trường hợp trên phim 
chụp xquang thường quy thấy 18 trường hợp mờ 
đồng nhất, 7 trường hợp mức dịch khí, 2 trường 
hợp xẹp phổi. 
- Trên phim CT scanner ngực: Cho hình 
ảnh kén phế quản rõ ràng hơn so với phim 
XQuang thường quy, đặc biệt các kén nằm ở 
đường giữa mà trên xquang thường không nhìn 
thấy được. Các khối mờ đồng nhất được đo tỷ 
trọng giúp cho việc chẩn đoán phân biệt giữa khối 
u đặc và nang dịch, thậm chí dạng tổn thương kén 
khí, dịch khí, khối mờ trong kén cũng rõ hơn 
(Bảng 3). Nhưng việc chẩn đoán xác định các dạng 
tổn thương kén khí, dịch khí, khối mờ trong kén 
vẫn dễ nhầm với các bệnh cảnh khác như lao, áp 
xe, u nấm trong hang lao khi mà tổ chức phổi 
xung quanh bị viêm nhiễm lâu ngày làm thay đổi 
hình dáng ban đầu của kén phế quản. McAdams 
năm 2000 [5] nghiên cứu hình ảnh kén phế quản 
trung thất trên phim chụp CTscanner ngực 58 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 34 
trường hợp kén phế quản trung thất thấy 25 trường 
hợp nang dich, 25 trường hợp mô mềm, 2 trường 
hợp kén khí, 2 trường hợp kén dịch - khí, 2 trường 
hợp can xi hóa không có mô tả hình ảnh khối mờ 
trong kén, có lẽ do điều kiện môi trường mà biến 
chứng nhiễm nấm gặp nhiều ở nước ta. 
4.4. Điều trị 
- Các kén phế quản nằm trong phổi phẫu 
thuật chủ yếu cắt thùy phổi chứa kén 28/30, có số 
ít 2/30 trường hợp cắt kén bảo tồn phổi. Kén phế 
quản trung thất 100% cắt kén nhưng có 1 trường 
hợp phải cắt thùy phổi phối hợp di tình trạng 
viêm của phổi kèm theo. 3 trường hợp có kén cả 
phổi và trung thất thì có 1 trường hợp cắt nguyên 
kén, 2 trường hợp cắt kén ở trung thất và cắt thùy 
chứa kén. Cách thức phẫu thuật là phù hợp với 
tình trạng tổn thương và tình trạng viêm dính kèm 
theo của phổi. Theo Vũ Chí Thành 2003 [1] 
100% cắt thùy phổi do các kén nằm trong thùy. 
- Theo nghiên cứu của Faten Limaïem 32 
trường hợp mổ mở 1 trường hợp mổ nội soi lồng 
ngực. 31 trường hợp cắt kén 1 trường hợp cắt kén 
từng phần. Theo Philippe Cuypers [6], nghiên 
cứu 20 trường hợp thì 19 trường hợp mổ mở cắt 
kén, 1 trường hợp kén phế quản trung thất được 
mổ nội soi. Theo Sunit R. Patel [4] 22 trường hợp 
kén phế quản đều mổ mở, 6 trường hợp trong 
thùy thì 3 trường hợp cắt thùy không điển hình, 3 
trường hợp cắt thùy, còn lại kén phế quản trung 
thất đều cắt kén. Một số tác giả nghiên cứu phẫu 
thuật nội soi điều trị kén phế quản như: De 
Giacomo [7] nghiên cứu 30 trường hợp mổ có nội 
soi hỗ trợ thì có 28 trường hợp thành công cho 
thấy được một số ưu điểm của mổ nội soi, chỉ có 
2 trường hợp phải chuyển mổ mở. Thời gian phẫu 
thuật thường kéo dài do tình trạng viêm dính của 
phổi với thành ngực, trung thất, cơ hoành được 
mô tả khi phẫu thuật, như vậy việc phát hiện và 
điều trị phẫu thuật sớm sẽ giúp cho phẫu thuật 
thuận tiện và an toàn hơn cho người bệnh. 
- Thời gian nằm viện trung bình cao hơn 
hẳn so với báo cáo của tác giả Philippe Cuypers 
[6] thời gian nằm viên trung bình 14,6 ngày, Vũ 
Chí Thành [1] 13,2 ngày sự khác biệt này không 
có ý nghĩa thống kê p > 0,05. 
- Biến chứng trong mổ tỷ lệ thấp và kiểm 
soát được chủ yếu là chảy máu do viêm dính 
nhiều shunt mạch tân tạo giữa phổi và thành 
ngực, một trường hợp phổi viêm dính chắc vào 
động mạch dưới đòn được xử lý kịp thời tránh 
được hậu quả đáng tiếc. 
- Biến chứng sớm sau mổ thường ít như 
chảy máu, viêm phổi sau mổ, không có tử vong 
sau mổ. Các biến chứng muộn khác thường gặp 
sau rút dẫn lưu màng phổi, chủ yếu ổ dịch khí 
khu trú (Bảng 5). So với các tác giả khác các 
biến chứng trong nghiên cứu của chúng tôi nhiều 
hơn hẳn do tình trạng viêm dính , tổn thương 
phổi phối hợp: Theo Sunit R. Patel [4] chỉ 1 
trường hợp rò khí sau mổ. Theo Vũ Chí Thành 
[1], biến chứng sau mổ nhẹ và ít: sớm 1 trường 
hợp chảy máu sau mổ, 1 trường hợp viêm phổi, 
biến chứng muộn có 3 trường hợp nhiễm trùng 
vết mổ. 
- Khi ra viện 100% lâm sàng ổn định, x 
quang ngực phổi nở tốt, một số ít trường hợp có 
viêm dày màng phổi nhẹ. 
4.5. Kết quả giải phẫu bệnh 
- Giải phẫu bệnh các kén phế quản trung 
thất đều không có tình trạng bội nhiễm và nấm 
phát triển. Trong khi đó kén phế quản bội nhiễm 
và nhiễm nấm đều gặp kén ở phổi. Trong 3 
trường hợp kén cả ở phổi và trung thất thì có đến 
2 trường hợp kén bị bội nhiễm (Bảng 4). Điều đó 
càng nói lên sự cần thiết chẩn đoán sớm và can 
thiệp kịp thời khi chưa có biến chứng. So với 
nghiên cứu của Vũ Chí Thành [1] chỉ có 1/33 
trường hợp nhiễm nấm Aspergillus. Kén phế 
quản đơn thuần và bội nhiễm thì tương tự như kết 
quả của chúng tôi. 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KÉN PHẾ QUẢN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG 
 35 
V. KẾT LUẬN 
Kén phế quản là bệnh lý bẩm sinh, nhưng 
việc chẩn đoàn và điều trị thường muộn khi có 
biến chứng do vậy việc điều trị phẫu thuật khó 
khăn và việc bảo tồn phổi với các kén ở phổi gặp 
hạn chế, để lại nhiều di chứng, biến chứng trong 
và sau phẫu thuật. 
Để tránh các vấn đề trên cần chẩn đoán sớm 
dựa trên Xquang thường quy, CT scanner ngực và 
điều trị triệt để bằng phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Vũ Chí Thành (2003), Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng Xquang của bệnh nhân kén phế 
quản, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội. 
2. Limaïem, Faten, Ayadi-Kaddour, Aïda, 
Djilani, Habiba, et al. (2008), "Pulmonary and 
mediastinal bronchogenic cysts: a 
clinicopathologic study of 33 cases", Lung. 
186(1), pp. 55-61. 
3. Sarper, Alpay, Ayten, Arife, Golbasi, 
Ilhan, et al. (2003), "Bronchogenic cyst", Texas 
Heart Institute Journal. 30(2), pp. 105-108. 
4. Patel, Sunit R, Meeker, David P, 
Biscotti, Charles V, et al. (1994), "Presentation 
and management of bronchogenic cysts in the 
adult", CHEST Journal. 106(1), pp. 79-85. 
5. McAdams, H. P., Kirejczyk, W. M., 
Rosado-de-Christenson, M. L., et al. (2000), 
"Bronchogenic cyst: imaging features with 
clinical and histopathologic correlation", 
Radiology. 217(2), pp. 441-6. 
6. Cuypers, Philippe, De Leyn, Paul, 
Cappelle, Lieve, et al. (1996), "Bronchogenic 
cysts: a review of 20 cases", European journal of 
cardio-thoracic surgery. 10(6), pp. 393-396. 
7. De Giacomo, Tiziano, Diso, Daniele, 
Anile, Marco, et al. (2009), "Thoracoscopic 
resection of mediastinal bronchogenic cysts in 
adults", European Journal of Cardio-Thoracic 
Surgery. 36(2), pp. 357-359. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_phau_thuat_ken_phe_quan_tai_benh_vien_phoi_trung_uon.pdf