Kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương động mạch khoeo do trật khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nghiên cứu mô tả các bệnh nhân chấn

thương động mạch khoeo do trật khớp gối được

điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt

Đức từ tháng 01/2017 đến tháng 07/2019. Có tổng

số 21 bệnh nhân, 19/21 là nam giới, tuổi trung

bình: 35,6 ± 13. Thời gian thiếu máu chi trung

bình 22,4 ± 31,9 giờ. Mất mạch ngoại vi gặp ở tất

cả bệnh nhân. 52,4% được phẫu thuật tái lập tuần

hoàn bằng ghép đoạn tĩnh mạch hiển. Không có

trường hợp nào tử vong, cắt cụt sau mổ.

Chấn thương động mạch khoeo do trật khớp

gối là tổn thương nặng, đe dọa sự sống còn của

chi thể cũng như tính mạng người bệnh. Phẫu

thuật cố định xương đồng thời tái lập lưu thông

mạch máu cần được thực hiện cấp cứu để đạt

được hiệu quả điều trị tối đa

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương động mạch khoeo do trật khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương động mạch khoeo do trật khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Kết quả phẫu thuật điều trị chấn thương động mạch khoeo do trật khớp gối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO DO TRẬT KHỚP GỐI... 
 17 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO 
DO TRẬT KHỚP GỐI TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Dương Ngọc Thắng*, Vũ Ngọc Tú**, Trần Trung Kiên***, Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu mô tả các bệnh nhân chấn 
thương động mạch khoeo do trật khớp gối được 
điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt 
Đức từ tháng 01/2017 đến tháng 07/2019. Có tổng 
số 21 bệnh nhân, 19/21 là nam giới, tuổi trung 
bình: 35,6 ± 13. Thời gian thiếu máu chi trung 
bình 22,4 ± 31,9 giờ. Mất mạch ngoại vi gặp ở tất 
cả bệnh nhân. 52,4% được phẫu thuật tái lập tuần 
hoàn bằng ghép đoạn tĩnh mạch hiển. Không có 
trường hợp nào tử vong, cắt cụt sau mổ. 
Chấn thương động mạch khoeo do trật khớp 
gối là tổn thương nặng, đe dọa sự sống còn của 
chi thể cũng như tính mạng người bệnh. Phẫu 
thuật cố định xương đồng thời tái lập lưu thông 
mạch máu cần được thực hiện cấp cứu để đạt 
được hiệu quả điều trị tối đa. 
SUMMARY 
The retrospective study included all patients 
diagnosed with arterial injury associated with knee 
dislocation who underwent surgical treatment at 
Viet Duc University Hospital from 01/2017 to 
07/2019. Male 19/21. Age 35.6 ± 13. Ischemic 
time was 22.4 ± 31.9 hours. Absent peripheral 
pouls in all of patients. Popliteal revascularization 
by great saphenous vein in 11/21 cases. No 
inhosptilality amputation and mortality. 
Arterial injury associated with knee 
dislocation are severe. Acute surgery with 
orthopedic stabilization and revascularization as 
soon as possible. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trật khớp gối chiếm tỉ lệ từ 0,02% đến 
0,1% tổng số các chấn thương xương khớp nói 
chung [1]. Nguyên nhân thường là các tai nạn với 
lực tác động rất mạnh trực tiếp vào vùng gối hoặc 
những chấn thương nhẹ ở bệnh nhân béo phì [2]. 
Động mạch khoeo bám sát vào các thành phần 
xung quanh khớp gối nên dễ bị tổn thương khi 
sang chấn xương khớp vùng này xảy ra. Đây là 
tổn thương mạch máu phối hợp khá thường gặp 
và nặng nề của trật khớp gối, với tỉ lệ từ 7- 40% 
[3], và tỉ lệ cắt cụt khoảng 10% [4]. Do đó, khi 
chấn thương vùng gối có tổn thương động mạch 
khoeo đi kèm, phẫu thuật tái lập tuần hoàn cần 
được thực hiện sớm nhất có thể với mục đích bảo 
tồn chi thể cũng như tránh các biến chứng nguy 
hiểm khác.1 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả tất cả các bệnh nhân được 
chẩn đoán trật khớp gối có tổn thương động mạch 
khoeo được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Hữu 
nghị Việt Đức từ tháng 01/2017 đến tháng 
07/2019. Trật khớp gối được chẩn đoán dựa vào 
lâm sàng: sưng đau, tụ máu, hạn chế vận động 
vùng gối, khớp gối lỏng và phim chụp XQuang. 
Chẩn đoán tổn thương động mạch khoeo dựa vào 
các dấu hiệu lâm sàng: mất mạch mu chân, chày 
sau, cẳng bàn chân lạnh, tím, giảm hoặc mất vận 
động, cảm giác kết hợp với siêu âm doppler 
mạch hoặc chụp MSCT mạch chi dưới. Tổn 
thương giải phẫu bệnh đại thể của động mạch 
khoeo trong mổ gồm hai dạng chính đụng dập, 
huyết khối kém đứt rời hoặc không đứt rời và co 
thắt, không thấy thương tổn thực thể thành mạch. 
Sau khi chẩn đoán xác định chấn thương 
động mạch khoeo kèm trật khớp gối, bệnh nhân 
được chỉ định phẫu thuật cấp cứu và được thực 
* Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 
** Trường Đại học Y Hà Nội 
*** Bệnh viện Thanh Nhàn 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Dương Ngọc Thắng 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 18 
hiện bởi hai nhóm phẫu thuật viên: chấn thương 
chỉnh hình và mạch máu. Nguyên tắc cơ bản là cố 
định khớp gối trước bằng găm kim hoặc khung cố 
định ngoài nếu có thương tổn xương đùi và/hoặc 
xương chày kèm theo, sau đó là phục hồi lưu 
thông động mạch khoeo. Đường tiếp cận mạch 
máu là đường mặt trong khớp gối, cắt gân cơ bán 
gân và bán màng. Hai đầu của đoạn mạch trên và 
dưới thương tổn được kiểm soát bằng kẹp mạch 
máu không sang chấn (clamp, bulldog) sau khi sử 
dụng heparin toàn thân liều 50UI/kg cân nặng. 
Sau đó đoạn mạch thương tổn được cắt bỏ đến 
phần lành. Nếu đoạn mạch cắt bỏ dưới 1cm thì 
phục hồi lưu thông động mạch bằng nối trực tiếp. 
Nếu đoạn mạch cắt bỏ từ 1cm trở lên thì ưu tiên 
sử dụng đoạn tĩnh mạch hiển tự thân để tái lập 
tuần hoàn. Những ngày đầu sau mổ bệnh nhân 
được sử dụng chống đông heparin đường tĩnh 
mạch liều 150UI/kg/24h. Khi tình trạng ngoại 
khoa mạch máu đã ổn định, người bệnh được sử 
dụng thêm đồng thời aspirin 100mg/ngày đường 
uống trong vòng 2-3 ngày, sau đó ngừng heparin 
và chỉ dùng aspirin trong 20 ngày đến 1 tháng. 
Người bệnh được chụp XQuang khớp gối và siêu 
âm Doppler mạch máu kiểm tra trước khi ra viện, 
khám lại sau 1 tháng. 
Các dữ liệu về lâm sàng và cận lâm sàng 
trước, trong và sau phẫu thuật được thu thập và 
xử lý với phần mềm SPSS 25.0. 
III. KẾT QUẢ 
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 
đến tháng 07/2019, tại bệnh viện Hữu nghị Việt 
Đức, có 21 bệnh nhân được chẩn đoán trật khớp 
gối tổn thương động mạch khoeo được phẫu thuật 
xử trí thương tổn xương và tái lập tuần hoàn. Tuyệt 
đại đa số là nam giới với 19/21. Độ tuổi trung bình 
là 35,6 ± 13.0 (15 - 63 tuổi). Thời gian trung bình 
tính từ lúc bệnh nhân bị tai nạn đến lúc được đưa 
vào bệnh viện là 16,9 ± 30.0 giờ (1 -–144 giờ). 
Thời gian trung bình tính từ lúc bệnh nhân bị tai 
nạn đến lúc được phẫu thuật là 22,4 ± 31.9 giờ 
(8 -–157 giờ). Trường hợp lâu nhất là bệnh nhân 
được chẩn đoán trật khớp gối trái, nắn và bó bột 
tại một cơ sở y tế khác, phát hiện tình trạng thiếu 
máu chi sau 1 tuần. Nếu không tính trường hợp 
đặc biệt này thì thời gian thiếu máu chi trung bình 
là 15,3 giờ. 
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước phẫu thuật (n = 21) 
Biến số n (%) 
Đặc điểm lâm sàng 
 Mất vận động cảm giác 3 (14,3) 
 Chi lạnh 12 (57,1) 
 Dấu hiệu chèn ép khoang 5 (23,8) 
 Cứng khớp 2 (9,5) 
 Mất mạch ngoại vi 21 (100) 
Tổn thương phối hợp 
 Sọ não 1 (4,8) 
 Gãy xương chi trên 1 (4,8) 
Cận lâm sàng 
 Siêu âm doppler mạch 21 (100) 
 Chụp cắt lớp vi tính mạch máu 3 (14,3) 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO DO TRẬT KHỚP GỐI... 
 19 
Bảng 2. Đặc điểm phẫu thuật (n = 21) 
Biến số n (%) 
Tổn thương mạch máu đại thể 
 Đụng dập đoạn 1cm 11 (52,4) 
 Đụng dập đoạn < 1cm 9 (42,8) 
 Co thắt mạch 1 (4,8) 
Tổn thương động mạch dưới gối kèm theo 
 Động mạch chày trước 1 (4,8) 
 Động mạch chày sau 3 (14,3) 
Tổn thương mạch máu thần kinh phối hợp 
 Tĩnh mạch 3 (14,3) 
 Thần kinh 2 (9,5) 
Tổn thương xương phối hợp 
 Gãy đầu dưới xương đùi 1 (4,8) 
 Gãy đầu trên hai xương cẳng chân 1 (4,8) 
 Vỡ mâm chày 9 (42,9) 
Xử lý tổn thương mạch máu 
 Nối trực tiếp 9 (42,8) 
 Ghép đoạn tĩnh mạch hiển 11 (52,4) 
 Nong mạch 1 (4,8) 
Xử lý tổn thương xương 
 Cố định ngoại vi 2 (9,5) 
 Xuyên kim cố định khớp gối 19 (90,5) 
Mở cân cẳng chân 20 (95,2) 
Bảng 3. Kết quả sau phẫu thuật (n = 21) 
Biến số n (%) 
Thời gian nằm viện 13,2 ± 7,9 ngày (4 - 31) 
Biến chứng 
 Nhiễm trùng 2 (9,5) 
 Tắc mạch 1 (4,8) 
 Chảy máu 1 (4,8) 
 Hoại tử cơ cẳng chân 5 (23,8) 
 Tử vong 0 (0) 
Mổ lại 5 (23,8) 
 Thắt mạch 1 (4,8) 
 Cắt lọc cơ hoại tử 4 (19,1) 
Có 1 trường hợp mổ lại thắt mạch do biến chứng nhiễm trùng, chảy máu miệng nối động mạch 
khoeo. Bệnh nhân được khám lại sau 24 tháng tình trạng ổn định, vận động và cảm giác chi tốt. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 20 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Bệnh cảnh lâm sàng trước mổ 
Có tới 19/21 bệnh nhân của nghiên cứu là 
nam giới với độ tuổi trung bình ở trong độ tuổi 
lao động (35,6), hầu hết liên quan tới tai nạn giao 
thông và lao động. Đây là một gánh nặng không 
nhỏ cho xã hội, kể cả sau khi kết thúc quá trình 
điều trị. Điều này cũng phù hợp với thực tế an 
toàn giao thông tại Việt Nam hiện nay, với trên 
85% là do nam giới [5]. Tỉ lệ nam giới trong 
nghiên cứu của Đoàn Hữu Hoạt cũng chiếm tới 
81,8% [6]. 
Hình 1: Tụ máu, bầm tím vùng khoeo trong chấn thương động mạch khoeo, trật khớp gối. 
Chấn thương động mạch khoeo gây thiếu 
máu chi nặng và khả năng cắt cụt chi cao do hệ 
thống tuần hoàn bàng hệ nhỏ và kém thích nghi. 
Mặc dù mạng mạch quanh khớp gối tương đối 
phong phú với 7 nhánh bên từ động mạch khoeo, 
tuy nhiên các nhánh bên này đều có kích thước 
nhỏ và nằm trong bao xơ khớp gối. Do đó cần 
phải chẩn đoán và xử trí sớm tổn thương mạch 
máu phối hợp trong trật khớp gối. Theo các 
nghiên cứu, tỉ lệ cắt cụt tăng tỉ lệ thuận với thời 
gian thiếu máu chi [7]. Trong nghiên cứu của 
Katsamouris từ năm 1995, thời gian thiếu máu 
chi trung bình chỉ là 1,5 giờ [8]. Bonnevialle và 
Pidhorz báo cáo 9 trường hợp cắt cụt chi trong số 
54 bệnh nhân trật khớp gối tổn thương mạch 
khoeo (16,6%) với thời gian thiếu máu chi trung 
bình là 9,6 giờ cao hơn so với nhóm không cắt 
cụt là 8,8 giờ [9]. Trong nghiên cứu này, thời gian 
thiếu máu chi trung bình trong nghiên cứu là 15,3 
giờ, chủ yếu do người bệnh chủ quan, tự sơ cứu 
tại nhà hay do quá trình vận chuyển y tế với 
khoảng cách xa và hạ tầng giao thông còn nhiều 
khó khăn của một quốc gia đang phát triển. Điều 
này cũng được minh chứng trong nghiên cứu của 
tác giả Trường Công Bình, với thời gian thiếu máu 
trước mổ là 30 giờ trong chấn thương mạch máu 
chi dưới [10]. Tuy không có trường hợp nào phải 
cắt cụt chi trong nghiên cứu của chúng tôi, nhưng 
rõ ràng, đối với tổn thương thiếu máu chi cấp tính, 
đây là khoảng thời gian dài, cần phải giảm nhiều 
trong thời gian tới. Ngoài ra, năng lực chẩn đoán 
của tuyến y tế cơ sở cũng có thể làm chậm trễ xử 
trí người bệnh. Việc chẩn đoán trật khớp gối có 
biến chứng tổn thương mạch hoàn toàn có thể dựa 
vào lâm sàng với dấu hiệu thực thể điển hình là tụ 
máu vùng quanh gối và mất mạch ngoại vi (gặp ở 
100% số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng 
tôi) (Hình 1). Xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán 
hình ảnh mang giá trị tham khảo. 
4.2. Chẩn đoán hình ảnh 
Tuy không nhất thiết phải thực hiện để chẩn 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO DO TRẬT KHỚP GỐI... 
 21 
đoán xác định, tất cả các bệnh nhân trong nghiên 
cứu đều được tiến hành siêu âm doppler đánh giá 
mạch máu. Đây là biện pháp thăm dò không xâm 
lấn, có thể thực hiện nhanh, ngay tại giường bệnh 
nên không ảnh hưởng tới thời gian thiếu máu chi. 
Ngoài ra, phương pháp này còn giúp định vị 
chính xác hơn vị trí tổn thương mạch để có kế 
hoạch phẫu thuật chính xác hơn, nhất là với 
những trường hợp gãy xương đa tầng, có bệnh lý 
mạch máu kèm theo. 
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) mạch 
máu chi dưới là phương pháp có độ nhạy và độ 
đặc hiệu cao, kết quả không phụ thuộc vào người 
thực hiện như siêu âm nhưng khó triển khai 
thường quy trong điều kiện cấp cứu và chi phí 
cao nên chỉ được chỉ định rất hạn chế khi có sự 
bất tương xứng giữa lâm sàng và kết quả siêu âm 
doppler, nghi ngờ có các bệnh lý mạch máu mạn 
tính từ trước, với điều kiện là tình trạng thiếu máu 
chi không nặng. Do đó, chỉ hơn 14,3% bệnh nhân 
được chỉ định MSCT trong nghiên cứu này (Hình 
2). Một số nghiên cứu có cùng khuyến cáo chỉ 
định chụp MSCT mạch máu hạn chế [11], [12], 
tuy nhiên cũng có tác giả cho rằng cần chụp 
MSCT mạch máu một cách hệ thống đối với tất 
cả các trường hợp chấn thương mạch máu [13]. 
Hình 2: A – Trật khớp gối trên phim chụp XQ; B – Tắc động mạch khoeo trên phim chụp MSCT 
mạch chi dưới 
4.3. Điều trị phẫu thuật 
Chúng tôi chỉ định phẫu thuật cấp cứu tất cả 
các trường hợp chấn thương động mạch khoeo do 
trật khớp gối. Tác giả Xu đề xuất phẫu thuật cố 
định khớp gối trước nếu thời gian thiếu máu chi 
ngắn (dưới 1 giờ) và phẫu thuật tái lập tuần hoàn 
trước nếu thời gian thiếu máu chi dài (trên 1 giờ) 
[14]. Tuy nhiên, sau khi đã ghép nối mạch máu, 
quá trình cố định xương có thể gây giằng xé 
miệng nối, căng giãn hay co thắt mạch. Do đó 
chúng tôi thực hiện cố định tổn thương xương 
trước khi tái lập tuần hoàn. 
Mở cân cẳng chân là một biện pháp có vai 
trò quan trọng trong chấn thương mạch máu chi 
dưới, vừa để chẩn đoán chính xác nhất tình trạng 
thiếu máu cơ, vừa để giải phóng chèn ép khoang 
với thiếu máu chi giai đoạn muộn cũng như để 
đánh giá, theo dõi tình trạng tưới máu và diễn 
biến hồi phục cơ sau mổ. Trong nghiên cứu này, 
có tới 20/21 bệnh nhân được mở cân cẳng chân 
trong mổ, vì đa phần bệnh nhân được phẫu thuật 
sau tai nạn trên 12 giờ. Nhiều tác giả thực hiện 
mở cân đối với tổn thương mạch máu chi dưới có 
thời gian thiếu máu chi > 6 giờ [6]. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 22 
Hình 3: A – đụng dập, huyết khối, đứt rời động mạch khoeo (mũi tên); B – ghép đoạn động 
mạch khoeo bằng tĩnh mạch hiển tự thân (1: đoạn ghép tĩnh mạch hiển, 2: động mạch khoeo) 
Trong nghiên cứu, có 11 trường hợp được 
tái lập tuần hoàn động mạch khoeo bằng ghép 
đoạn tĩnh mạch hiển đảo chiều lấy từ chân bên 
đối diện, chiếm 52,4%, tương ứng với 11 trường 
hợp tổn thương đụng dập và huyết khối lòng 
mạch trên đoạn dài hơn 1cm (có đứt rời hoặc 
không đứt rời động mạch) (Hình 3). Nghiên cứu 
của Tessier và cộng sự cho thấy có 57,1%, của Lê 
Minh Hoàng là 35,3% sử dụng cầu nối tĩnh mạch 
hiển lớn lấy từ chân đối bên [13],[15]. Tĩnh mạch 
hiển lớn chân đối diện được sử dụng làm mạch 
ghép do tĩnh mạch sâu chi bên tổn thương có thể 
có huyết khối hoặc đụng dập phối hợp, nếu lấy đi 
tĩnh mạch hiển lớn sẽ có nguy cơ làm giảm lưu 
lượng máu về từ tuần hoàn tĩnh mạch, từ đó làm 
tăng tình trạng phù nề cơ vùng cẳng chân. Nếu 
không còn tĩnh mạch hiển lớn ở cả hai chân (bệnh 
nhân suy van tĩnh mạch hiển đã can thiệp, viêm 
tắc tĩnh mạch hiển, đã sử dụng tĩnh mạch hiển lớn 
cho các phẫu thuật khác như bắc cầu chủ vành, 
thiếu máu mạn tính chi...), việc sử dụng mạch 
nhân tạo có thể được cân nhắc. Rehman [16] chỉ 
ra rằng không có sự khác biệt về tỉ lệ cắt cụt chi 
thì hai, nhiễm trùng vết mổ hay nhiễm trùng giữa 
2 nhóm bệnh nhân chấn thương động mạch khoeo 
được tái lập tuần hoàn bằng đoạn mạch nhân tạo 
PTFE hay tĩnh mạch hiển lớn tự thân. 
Tỉ lệ biến chứng sớm sau mổ trong nghiên 
cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu 
của các tác giả Pháp [13], tuy nhiên tỉ lệ cắt cụt 
thì 2 thấp hơn, thời gian nằm viện trung bình 
cũng ngắn hơn (13,2 ngày so với 35 ngày). Chỉ 
định cắt cụt chi khi tình trạng thiếu máu không 
hồi phục với biểu hiện cứng khớp, toàn bộ các cơ 
vùng cẳng chân không đáp ứng với kích thích 
điện hoặc tình trạng nhiễm trùng, suy đa tạng với 
men creatinine kinase tăng cao, suy chức năng 
thận cấp [17]. Điều này có thể lý giải bởi việc các 
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đa 
phần là bệnh nhân trẻ, ít có bệnh lý toàn thân phối 
hợp, không có tình trạng béo phì. 
V. KẾT LUẬN 
Chấn thương động mạch khoeo trong trật 
khớp gối là tổn thương nặng, ảnh hưởng đến sự 
sống còn cũng chức năng lâu dài của chi thể, cần 
được chẩn đoán và phẫu thuật kịp thời bằng cố 
định xương và phục hồi lưu thông mạch máu. Với 
những trường hợp đến muộn (sau 6 giờ) mở cân 
cẳng chân cần được thực hiện để giảm bớt nguy cơ 
cắt cụt chi. Phẫu thuật lưu thông động mạch khoeo 
được thực hiện bằng ghép nối mạch trực tiếp (đối 
với đoạn tổn thương ngắn dưới 1cm) hoặc sử dụng 
tĩnh mạch hiển tự thân (với tổn thương từ 1cm). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Rihn JA, Groff YJ, Harner CD et al. 
(2004). The acutely dislocated knee: evaluation 
and management. J Am Acad Orthop Surg, 12, 
334-346. 
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH KHOEO DO TRẬT KHỚP GỐI... 
 23 
[2] Peltola EK, Lindahl J, Hietaranta H et 
al. Knee dislocation in overweight patients. Am J 
Roentgenol, 192, 101-106. 
[3] Stannard JP, Sheils TM, Lopez-Ben 
RR et al. (2004). Vascular injuries in knee 
dislocations: the role of physical examination in 
determining the need for arteriography. J Bone 
Joint Surg Am, 86(5), 910-915. 
[4] Vascular and Nerve Injury After Knee 
Dislocation: A Systematic Review. Clin Orthop 
Relat Res, 472(9), 2621-2629. 
[5] Vũ Hoàng Vũ (2018). Báo cáo tình 
hình trật tự an toàn giao thông quí I năm 2018. 
Giao thông vận tải, 4, 26-27. 
[6] Đoàn Hữu Hoạt, Nguyễn Hữu Ước, Vũ 
Ngọc Tú (2019). Đặc điểm lâm sàng và thương 
tổn giải phẫu bệnh chấn thương động mạch chi 
dưới tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 
2017-2019. Y học thực hành, 7 (1103), 38-42. 
[7] Lustig S, Barbier O, Boisgard S et al. 
(2009). Dislocations of the knee, complex 
knee ligament injury, what care? Rev Chir 
Orthopedique Reparatrice Appar Mot, 95, 
177-187 
[8] Katsamouris (1995). Limb arterial 
injuries associated with limbfracture: clinical 
presentation, assessment and management. 
EurJVasc. Endovasc. Surg, 9(1), 64-70. 
[9] Bonnevialle P, Pidhorz L (2006). 
Traumatismes des genoux associés à une 
rupture de l’artère poplitée - 54 cas. Rev Chir 
Orthopédique Réparatrice Appar Mot, 92, 
508-517. 
[10] Trương Công Bình, Vũ Hữu Vĩnh 
(2010). Sử dụng cầu nối tạm tự chế trong xử trí 
các chấn thương chi có tổn thương mạch máu. Y 
học Việt Nam, 2, 332-338. 
[11] Maitrias P, Molin V, Belhomme D et 
al. (2014). Superficial femoral artery 
transposition repair for traumatic popliteal 
rupture. Ann Vasc Surg, 28, 492-494. 
[12] Yahya MM, Mwipatayi BP, Abbas M 
et al. (2005). Popliteal artery injury: royal Perth 
experience and literature review. ANZ J Surg, 75, 
882-886. 
[13] T. e. al. (2019). Importance of early 
diagnosis and care in knee dislocations associated 
with vascular injuries. Annals of Vascular 
Surgery, 1, 1-8. 
[14] Xu YQ, Li Q, Shen TG et al. (2015). 
Early diagnosis and treatment of trauma in knee 
joints accompanied with popliteal vascular injury. 
Int J Clin Exp Med, 8, 9421-9429. 
[15] Lê Minh Hoàng, Nguyễn Thái Sơn, 
Vũ Nhất Định et al. (2011). Kết quả điều trị tổn 
thương động mạch lớn kèm theo gãy xương, sai 
khớp chi dưới. Y học Việt Nam, Số đặc biệt, 
174-178. 
[16] Rehman (2020). Outcomes of 
popliteal artery injuries repair: autologous vein 
versus prosthetic interposition grafts. Annals of 
Vascular Surgery, 1, 1-5. 
[17] Pourzand A, Fakhri BA, Azhough R 
et al. (2010). Management of high-risk popliteal 
vascular blunt trauma: clinical experience with 62 
cases. Vasc Health Risk Manag, 6, 613-618. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_phau_thuat_dieu_tri_chan_thuong_dong_mach_khoeo_do_t.pdf