Kết quả phá thai quý ii trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Phá thai quý II là phương pháp chấm dứt thai nghén khi tuổi thai từ

13 đến 22 tuần (tuổi thai được tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối hoặc theo

siêu âm ba tháng đầu). Việc này khi thực hiện trên thai phụ có sẹo mổ

đẻ cũ luôn tiềm ẩn các nguy cơ tai biến như chảy máu, nhiễm trùng, vỡ

tử cung. vì vậy một vấn đề đặt ra đối với người thầy thuốc sản khoa là

thái độ xử trí phá thai trên thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ như thế nào cho tốt,

đạt được hiệu quả cao và giảm tỷ lệ gặp tai biến.

Mục tiêu: Tìm hiểu các phương pháp phá thai quý II đang được thực

hiện trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

và kết quả của từng phương pháp.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tất cả các trường

hợp có tiền sử mổ đẻ cũ được chỉ định đình chỉ thai nghén ở quý II tại

khoa Điều trị theo yêu cầu Bệnh viên Phụ sản Trung ương từ ngày

01/08/2014 đến ngày 30/02/2015.

Kết quả: Trong tổng số 55 thai phụ trong nghiên cứu thì có 44 trường

hợp được chỉ định phá thai nội khoa, 11 trường hợp được chỉ định phá

thai ngoại khoa trong đó có 6 ca nong gắp, 1 ca đặt túi nước và 4 ca

mổ lấy thai. Tỷ lệ thành công của phương pháp nội khoa là 75%, ngoại

khoa là 100%. Nhưng tỷ lệ tai biến của phương pháp nội khoa là 3%

thấp hơn phương pháp ngoại khoa là 13,6%.Tỷ lệ tai biến cao nhất là

nhóm có tiền sử mổ cũ 3 lần 33,3% và nhóm có khoảng cách mổdưới

1 năm là 20%.

Kết luận: Có thểáp dụng phá thai bằng phương pháp nội khoa cho

tất cả các thai phụ có sẹo mổ cũ (trừ trường hợp chống chỉ định) vì tỷ lệ

thành công cao và tỷ lệ tai biến thấp

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phá thai quý ii trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả phá thai quý ii trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Kết quả phá thai quý ii trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 157 - 161, 2016
157
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Bích Vân(1), Trần Thị Phương Thanh(2), Vũ Văn Du(1), Phan Thị Anh(1)
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ sản Trung ương
KẾT QUẢ PHÁ THAI QUÝ II
TRÊN BỆNH NHÂN CÓ SẸO MỔ ĐẺ CŨ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Phá thai quý II là phương pháp chấm dứt thai nghén khi tuổi thai từ 
13 đến 22 tuần (tuổi thai được tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối hoặc theo 
siêu âm ba tháng đầu). Việc này khi thực hiện trên thai phụ có sẹo mổ 
đẻ cũ luôn tiềm ẩn các nguy cơ tai biến như chảy máu, nhiễm trùng, vỡ 
tử cung... vì vậy một vấn đề đặt ra đối với người thầy thuốc sản khoa là 
thái độ xử trí phá thai trên thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ như thế nào cho tốt, 
đạt được hiệu quả cao và giảm tỷ lệ gặp tai biến.
Mục tiêu: Tìm hiểu các phương pháp phá thai quý II đang được thực 
hiện trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
và kết quả của từng phương pháp. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tất cả các trường 
hợp có tiền sử mổ đẻ cũ được chỉ định đình chỉ thai nghén ở quý II tại 
khoa Điều trị theo yêu cầu Bệnh viên Phụ sản Trung ương từ ngày 
01/08/2014 đến ngày 30/02/2015. 
Kết quả: Trong tổng số 55 thai phụ trong nghiên cứu thì có 44 trường 
hợp được chỉ định phá thai nội khoa, 11 trường hợp được chỉ định phá 
thai ngoại khoa trong đó có 6 ca nong gắp, 1 ca đặt túi nước và 4 ca 
mổ lấy thai. Tỷ lệ thành công của phương pháp nội khoa là 75%, ngoại 
khoa là 100%. Nhưng tỷ lệ tai biến của phương pháp nội khoa là 3% 
thấp hơn phương pháp ngoại khoa là 13,6%.Tỷ lệ tai biến cao nhất là 
nhóm có tiền sử mổ cũ 3 lần 33,3% và nhóm có khoảng cách mổdưới 
1 năm là 20%. 
Kết luận: Có thểáp dụng phá thai bằng phương pháp nội khoa cho 
tất cả các thai phụ có sẹo mổ cũ (trừ trường hợp chống chỉ định) vì tỷ lệ 
thành công cao và tỷ lệ tai biến thấp.
Từ khóa: Đình chỉ thai nghén, sẹo mổ đẻ cũ. 
Abstract 
THE RESULT OF ABORTION AT THE 2ND TRIMESTER 
OF PATIENTS WITH CESARIAN SCAR AT NHOG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Bích Vân,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Đình chỉ thai nghén, 
sẹo mổ đẻ cũ. 
Keywords: Abortion, cesarian 
scars.
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN, TRẦN THỊ PHƯƠNG THANH, VŨ ĂN DU, PHAN THỊ ANH
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
158
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Second trimester abortion is the method of termination of the pregnancy from the 13th week to the 
22nd week (the fetal age is counted either from the first day of the last mentrual cycle or on the basis 
of the echograhic diagnosis of the first trimester). The application of this method on patients that have 
cesarian scars always potentially brings such accidents as bleeding, infection, uterus breaking 
So, it raises a question to doctors for the attitude of treatment in a way that can reach the highest 
efficiency and reduce the risk of accidents. 
Objective: To research the methods of second trimester abortion applied on patients that have 
cesarian scars at the NHOG and the corresponding results of every method. 
Objects of method of research: The research was carried out on all abortion cases that have historical 
cesarian opertions at the Department of Voluntary Service at the NHOG from 01/08/2014 to 28/02/2015. 
Results: Out of the 55 cases of the research, 44 cases were instructed to use medicine for pregnacy 
termination, 11 cases were interferent termination in which 5 case undergoing curetage, 1 case udergoing 
kovak and 4 cases undergoing surgery. The succsess ratio of the medical method was 75%, and it was 
100% for the interferent method. However, the accident ratio for the former was 3% while it was 13.6% for 
the latter. The highest accident ratio was for the cases that had undergone 3 times of cesarian operations 
(33.3%) and for the cases that had cesarian opertion interval less than 1 year (20%). 
Conclusion: medical method can be applied for all patients that have cesarian scars (except contra-
indicative cases) due to high ratio of success and low accidental risk. 
Keywords: abortion, cesarian scars.
1. Đặt vấn đề
Phá thai hay đình chỉ thai nghén là việc sử dụng 
một phương pháp nào đó có thể là thủ thuật, phẫu 
thuật hay thuốc để kết thúc sự mang thai đưa các 
sản phẩm của thai nghén ra khỏi đường sinh dục 
của người mẹ. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế 
giới (WHO) năm 1999 và 2004 thì Việt Nam được 
đánh giá là một trong những nước có tỷ lệ phá thai 
cao trong các nước mà phá thai được coi là hợp 
pháp. Hàng năm có trên 1,5 triệu ca phá thai và tỷ 
lệ phá thai ngày càng tăng ở nước ta.
Phá thai quý II là phương pháp chấm dứt thai 
nghén khi tuổi thai từ 13 đến 22 tuần (tuổi thai 
được tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối hoặc theo 
siêu âm ba tháng đầu). Các phương pháp phá thai 
quý II trên thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ được áp dụng 
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương bao gồm phá 
thai bằng thuốc, nong và gắp, đặt túi nước, mổ lấy 
thai,.. Phá thai quý II trên thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ, 
các nguy cơ tai biến có thể gặp như chảy máu, vỡ 
tử cung, nhiễm trùng...
Và một vấn đề đặt ra đối với người thầy thuốc 
sản khoa là thái độ xử trí phá thai trên phụ nữ có sẹo 
mổ đẻ cũ như thế nào cho tốt. Ở những sản phụ này, 
việc nạo hút một thai nhỏ đã khó khăn nhưng việc gây 
chuyển dạ đối với một thai quý II lại khó khăn gấp 
bội và không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả, 
tỷ lệ gặp tai biến lại cao. Đứng trước thực trạng trên, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu 
các phương pháp phá thai quý II đang được thực hiện 
trên bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương và kết quả của từng phương pháp.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tất cả các 
trường hợp có tiền sử mổ đẻ cũ được chỉ định đình 
chỉ thai nghén tại khoa Điều trị theo yêu cầu - Bệnh 
viên Phụ sản Trung ương từ ngày 01/08/2014 đến 
ngày 30/02/2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Các thông số nghiên cứu: Các biến số nghiên 
cứu được thu thập theo mẫu với các thông số về 
tuổi, nghề nghiệp, lý do phá thai, các tai biến trong 
Bảng 2: 80% Các trường hợp được chỉ định phá 
thai nội khoa
Bảng 3: Dù ở nhóm tuổi thai nào thì phương 
pháp phá thai nội khoa cũng là chủ yếu
Tỷ lệ thành công chung của các phương pháp 
phá thai ngoại khoa là 100%.Phương pháp phá thai 
nội khoa có tỷ lệ thất bại chung là 11/44 = 25%
Không có sự khác biệt về thời gian sảy và liều 
MSP ở 2 nhóm 13-17 tuần và 18-22 tuần.
Không có sự khác biệt về tỷ lệ tai biến của 
phương pháp phá thai nội khoa và ngoại khoa.
4. Bàn luận
Trong 55 thai phụ thì có 44 trường hợp được 
chỉ định phá thai nội khoa,và 11 trường hợp 
được chỉ định phá thai ngoại khoa ngay từ đầu 
trong đó có 6 ca nong gắp, 1 ca đặt túi nước và 
4 ca mổ lấy thai. Phương pháp phá thai nội khoa 
được áp dụng cho 80% trường hợp phá thai quý 
II trên bệnh nhân có sẹo mổ cũ do phương pháp 
này áp dụng được cho mọi tuổi thai, tỷ lệ thành 
công cao 97,2% theo nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Lan Hương năm 2012 và tỷ lệ tai biến thấp.Trong 
21 trường hợp phá thai bằng MSP ngậm dưới 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 157 - 161, 2016
159
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
quá trình phá thai,... Các biến số được xử lý bằng 
phần mềm SPSS 20.0 để tính toán số liệu
Các chỉ tiêu nghiên cứu: Tiền sử mổ đẻ cũ, số 
lần mổ lấy thai, khoảng cách giữa các lần mổ, 
đường mổ.Tuổi thai, lý do phá thai, tỷ lệ sử dụng 
phương pháp phá thai: nội khoa, ngoại khoa. Kết 
quả phá thai:Thành công: Thai sảy ra khỏi buồng 
tử cung. Thất bại: Thai không sảy sau khi kết thúc 
phương pháp phá thai. Tỷ lệ tai biến, thời gian gây 
sảy, liều của từng phương pháp. 
3. Kết quả
Trong thời gian từ ngày 01/08/2014 đến ngày 
30/02/2015 nghiên cứu thu nhận được 55 bệnh 
nhân với độ tuổi trung bình là 31, số sản phụ có 
tiền sử mổ đẻ 1 lần chiếm tỷ lệ cao nhất 67,28%, Tỷ 
lệ phá thai do thai bất thường chiếm cao nhất 69% 
trong các lý do phá thai khác.
Biểu đồ 1.Tiền sử mổ cũ
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi thai
13-17 tuần 30 54,5
18 -22 tuần 25 45,5
X+SD =16,56 ± 3,6
Lý do phá thai
Thai bất thường 38 69
Thai ngoài kế hoạch 17 31
Bảng 1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi thai và lý do phá thai
Phương pháp Số lượng Tỷ lệ %
Nội
MSP đơn thuần 21 38,2
Oxytoxin 23 41,8
Ngoại
Nong và gắp 6 10,9
Đặt túi nước 1 1,8
Mổ lấy thai 4 7,3
Bảng 2. Tỷ lệ các phương pháp phá thai quý II
Tuổi thai MSP Truyền oxytocin Đặt túi nước Nong gắp Mổ lấy thai Tổng
13-17
n 13 8 0 6 1 29
% 46,4 25,9 0 24,1 3,6 100
18-22
n 8 15 1 0 3 26
% 29,6 55,6 3,7 0 11,1 100
Tổng 21 23 1 6 4 55
Bảng 3. Mối liên hệ giữa tuổi thai và phương pháp phá thai
Tuổi thai MSP
Kết quả
Thành công Thất bại
n % N %
MSP đơn thuần 21 14 66,7 7 33,33
Truyền Oxytocin 23 19 82,6 4 17,4
Nong và gắp 6 6 100 0 0
Đặt túi nước 1 1 100 0 0
Mổ lấy thai 4 4 100 0 0
Bảng 4. Tỷ lệ thành công và thất bại của các phương pháp phá thai
Phương pháp N
Tai biến
n %
MSP đơn thuần MSP đơn thuần 14 0 3
Truyền Oxytocin Truyền Oxytocin 19 1
Nong và gắp Nong và gắp 14 2
13,6Đặt túi nước Đặt túi nước 1 0
Mổ lấy thai Mổ lấy thai 7 1
Tổng số 55 4 7,4
P = 0,541>0,05
Bảng 6. Tỷ lệ tai biến của các phương pháp phá thai
Tuần thai Thời gian sảy Liều MSP
13-17 37,2 ± 15,4 giờ 950 ± 531,665 µg
18 -22 42 ± 6,93 giờ 775 ± 125,831 µg
13-22 40 ± 11,17 giờ 862,5 ± 328,748µg
P 0,359 0,16
Bảng 5. Liều gây sảy thai của MSP
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN, TRẦN THỊ PHƯƠNG THANH, VŨ ĂN DU, PHAN THỊ ANH
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
160
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
lưỡi có 14 trường hợp thành công chiếm 66,7%, 
tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ thành công của nhóm 
bệnh nhân có sẹo mổ đẻ cũ là 71,5% nhưng 
thấp hơn tỷ lệ thành công của nhóm bệnh nhân 
không có sẹo mổ đẻ cũ là 89,6% trong nghiên 
cứu của Vũ Văn Du (2013) [1] và của Nguyễn 
Thị Lan Hương (2013) [2] là 97,2%. Mặt khác, 
liều MSP trung bình gây sảy thai của bệnh nhân 
có sẹo mổ đẻ cũ là 862,5 ± 328,748μg tương 
đương với kết quả của Vũ Văn Du (2013) [1] 
là 856,58 ± 512,15μg, nhưng thấp hơn nhóm 
không có sẹo mổ đẻ cũ là 1323,11 ± 824,48 μg, 
do phác đồ liều MSP dùng cho bệnh nhân có sẹo 
mổ đẻ cũ bằng 1/2 liều dành cho bệnh nhân 
không có sẹo mổ đẻ cũ. Về thời gian sảy của 
nhóm có sẹo mổ đẻ cũ là 40 giờ tương đương 
với thời gian sảy của nhóm có sẹo mổ đẻ cũ là 
39,29 giờ và nhóm không có sẹo mổ đẻ cũ là 
36,89 giờ. Như vậy có thể nói số lượng thai sảy 
giảm đi khi liều MSP giảm nhưng thời gian gây 
sảy dường như không có gì thay đổi.Và qua đây 
vấn đề đặt ra là ngưỡng liều MSP trên từng bệnh 
nhân: một thai phụ có ngưỡng liều thấp hơn so 
với phác đồ nhưng khi đạt được ngưỡng liều thì 
thai vẫn sảy thành công. Vậy nên chăng việc 
phá thai bằng MSP trên thai phụ có sẹo mổ đẻ 
cũ nên theo phương châm: cá thể hóa và dò liều 
bắt đầu từ những liều thấp, hơn là việc phải tìm 
ra một liều nhất định. 
Liều thuốc phá thai trung bình là 862,5μg = 
4,32 viên MSP. Liều MSP của nghiên cứu cao hơn 
so với nghiên cứu của các tác giả trước đây: 3 viên 
MSP (Bunxu - 2007) [3], 3,7 viên MSP (Nguyễn 
Huy Bạo - 2009) [4] Tuy nhiên so với các nghiên 
cứu gần đây, liều MSP trung bình của nghiên cứu là 
tương đương với nghiên cứu củaVũ Văn Du (2013) 
[1] là 4,2 viên.Trong 55 trường hợp nghiên cứu có 
23 trường hợp phá thai bằng truyền oxytocin. Phá 
thai bằng truyền oxytocin được chỉ định chủ yếu 
cho tuổi thai 18-22 tuần chiếm 55,6%. Có 19 trên 
23 bệnh nhân được chỉ định truyền Oxytocin Liều 
thuốc phá thai trung bình là 34,5 ống oxytoxin. 
Liều oxytoxin của nghiên cứu cao hơn nhiều so với 
nghiên cứu của các tác giả trước đây: 3,7 ± 2,7 
ống trong nghiên cứu của Phan Thanh Nam (2006) 
[5]. Thời gian sảy trung bình là 6,7 ± 2 ngày, dài 
hơn so với phá thai bằng MSP.
Trong 55 trường hợp có 6 trường hợp được 
chỉ định nong gắp luôn không áp dụng biện 
pháp phá thai nội khoa chiếm 10,9%,cao hơn 
so với nghiên cứu của Vũ Văn Du (2013) là 3,9% 
do mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn tác 
giả Vũ Văn Du.Các trường hợp nong gắp thai 
đều có tuổi thai từ 13-18 tuần,có tiền sử dị ứng 
thuốc, hoặc thai phụ không có điều kiện nằm 
viện lâu dài.Trong nghiên cứu này tỷ lệ tai biến 
của phương pháp nội khoa là 3% thấp hơn của 
phương pháp ngoại khoa là 13,6%.Mặt khác, 
tỷ lệ thành công của phương pháp nội khoa là 
75% và ngoại khoa là 100%, không có sự khác 
biệt giữa 2 tỷ lệ này(p>0,05). Vậy nên có thể nói 
phương pháp nội khoa vẫn luôn là phương pháp 
được lựa chọn đầu tay. Phương pháp ngoại khoa 
thường được chỉ định khi phương pháp nội khoa 
thất bại hoặc trong những trường hợp chỉ định 
bắt buộc.Hơn nữa tỷ lệ tai biến của phương pháp 
phá thai bằng MSP trên thai phụ có sẹo mổ đẻ cũ 
trong nghiên cứu là 0%tương đương với tỷ lệ tai 
biến là 0 % trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan 
Hương (2012) [2]. Vậy nên phương pháp phá 
thai bằng MSP vẫn là lựa chọn đầu tay cho các 
bác sỹ sản khoa trong phá thai quý II cho bệnh 
nhân có sẹo mổ đẻ cũ.
Xét tỷ lệ tai biến tất cả các phương pháp phá 
thai quý II theo số lần mổ đẻ cũ nhận thấy: tỷ lệ 
tai biến của nhóm có tiền sử mổ cũ trên 2 lần là 
cao nhất 33,3%, của nhóm mổ cũ 1 lần là 5,6% 
và nhóm mổ cũ 2 lần là 6,2%.Tuy nhiên sự khác 
biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05),tức 
là tỷ lệ tai biến không liên quan đến tiền sử mổ 
cũ, có thể do cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn. 
Nhưng chúng ta cũng biết rằng những thai phụ 
có tiền sử mổ đẻ cũ trên 2 lần thì nguy cơ gặp 
các tai biến khi phá thai sẽ cao hơn, cần khuyến 
cáo những phụ nữ có tiền sử mổ đẻ cũ trên lần 
về mức độ nguy hiểm của việc phá thai, để chủ 
động lựa chọn các biện pháp tránh thai thích 
hợp. Đối với bác sỹcần xem xét việc thu hẹp chỉ 
định mổ lấy thai, bởi việc mở rộng chỉ định mổ 
lấy thai chính là tự tạo cho chúng ta thêm những 
khó khăn trong việc phá thai sau này nếu có. Và 
khi phá thai quý II cho bệnh nhân có sẹo mổ đẻ 
cũ cần cân nhắc lựa chọn phương pháp đạt tỷ lệ 
thành công cao và giảm tỷ lệ tai biến cho bệnh 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 157 - 161, 2016
161
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
nhân. Phần lớn các thai phụ có tiền sử mổ cũ 3 
lần đều được chỉ định mổ lấy thai kết hợp cắt tử 
cung toàn phần để triệt sản.
Tỷ lệ tai biến của nhóm có khoảng cách mổ cũ 
dưới 1 năm là 20% cao hơn các nhóm khác: 1-2 
năm là 6,7%, 2-5 năm là 5,3% và trên 5 năm là 
6,2%.Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa 
thống kê (p>0,05) tức là tỷ lệ tai biến không liên 
quan đến khoảng cách mổ cũ, cũng có thể là do 
cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn. Các thai phụ có 
tiền sử mổ cũ cách lần mang thai này dưới 1 năm 
thì nguy cơ gặp tai biến cho mẹ như chảy máu, 
sảy thai, vỡ tử cung, bục vết mổ,... nguy cơ cho 
con như suy dinh dưỡng bào thai, chậm phát triển 
là rất cao.Vì vậy cần cung cấp thông tin cho các 
sản phụ sau đẻ mổ là nên có thai sau mổ tối thiểu 
1,5 năm để đảm bảo cho mẹ và con, tư vấn về các 
biện pháp tránh thai cho sản phụ có sẹo mổ cũ 
đang cho con bú, và cần cảnh báo về khả năng 
đình chỉ thai nghén là rất cao nếu có thai sau mổ 
đẻ dưới 1 năm.
5. Kết luận
Có thể áp dụng phá thai bằng phương pháp 
nội khoa cho tất cả các thai phụ có sẹo mổ cũ (trừ 
trường hợp chống chỉ định) vì tỷ lệ thành công cao 
và tỷ lệ tai biến thấp. Tăng liều MSP của nhóm 18 
-22 tuần bằng với liều của nhóm 13-17 tuần để 
đạt hiệu quả sảy thai cao và giảm thời gian sảy 
thai cho thai phụ.
Tài liệu tham khảo
1. Vũ Văn Du, Nguyễn Bá Thiết, Nguyễn Thị Thanh Huyền và cộng 
sự. Tình hình phá thai từ 13-22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương 6 tháng đầu năm 2013. Tạp chí phụ sản. 2013; Tập 12 số 02 
trang 190 -195.
2. Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Lê Minh, Chu Bích Hà. Nghiên 
cứu hiệu quả gây sảy thai của Misoprostol đối với những trường hợp 
thai dị tật tuổi thai từ 13 đến 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương năm 2013. Tạp chí phụ sản. 2013; Tập 12 số 02 trang 103-108.
3. Bunxu Inthapatha. Nghiên cứu sử dụng Misoprostol đơn thuần trong 
phá thai từ tuần 17 đến 24 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
năm 2006. Luận văn Thạc sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội, 2007.
4. Nguyễn Huy Bạo. Nghiên cứu sử dụng Misoprostol để phá thai từ 
tuần 13 đến 22”, Luận án tiến sỹ y học. 2009.
5. Phan Thành Nam. Nhận xét tình hình phá thai 3 tháng giữa tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương 2004-2005. Khóa luận tốt nghiệp 
bác sỹ y khoa 2000-2006. 2006.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_pha_thai_quy_ii_tren_benh_nhan_co_seo_mo_de_cu_tai_b.pdf