Kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong

ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 27

cặp vợ chồng đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản

và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ

tháng 01/2014 đến tháng 12/2015, chia làm 2 nhóm: nhóm 1 – 17

chu kỳ sử dụng tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng,

nhóm 2 – 10 chu kỳ sử dụng tinh trùng tươi từ phẫu thuật.

Kết quả: Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi phân chia, tỷ lệ phôi tốt giữa

hai nhóm sai khác không có ý nghĩa thống kê, lần lượt là nhóm

1: 67,16% ± 21,27, 72,29% ± 27,08 và 36,62% ± 19,05, nhóm 2:

92,23% ± 17,55, 78,95% ± 17,38 và 40,23% ± 16,26 (p > 0,05). Tỷ

lệ có thai lâm sàng của 2 nhóm là 27,64% và 30% (p >0,05).

Kết luận: Kết quả có thai của nhóm sử dụng tinh trùng trữ lạnh và

nhóm sử dụng tinh trùng tươi từ phẫu thuật trích tinh trùng là tương

đương nhau.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng

Kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH 
76
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Thái Thanh, Lê Minh Tâm, Cao Ngọc Thành 
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
KẾT QUẢ NUÔI CẤY PHÔI THỤ TINH
TRONG ỐNG NGHIỆM VỚI TINH TRÙNG TRỮ LẠNH
SAU PHẪU THUẬT TRÍCH TINH TRÙNG
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong 
ống nghiệm với tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 27 
cặp vợ chồng đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản 
và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 
tháng 01/2014 đến tháng 12/2015, chia làm 2 nhóm: nhóm 1 – 17 
chu kỳ sử dụng tinh trùng trữ lạnh sau phẫu thuật trích tinh trùng, 
nhóm 2 – 10 chu kỳ sử dụng tinh trùng tươi từ phẫu thuật.
Kết quả: Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi phân chia, tỷ lệ phôi tốt giữa 
hai nhóm sai khác không có ý nghĩa thống kê, lần lượt là nhóm 
1: 67,16% ± 21,27, 72,29% ± 27,08 và 36,62% ± 19,05, nhóm 2: 
92,23% ± 17,55, 78,95% ± 17,38 và 40,23% ± 16,26 (p > 0,05). Tỷ 
lệ có thai lâm sàng của 2 nhóm là 27,64% và 30% (p >0,05). 
Kết luận: Kết quả có thai của nhóm sử dụng tinh trùng trữ lạnh và 
nhóm sử dụng tinh trùng tươi từ phẫu thuật trích tinh trùng là tương 
đương nhau.
Abstract 
RESULTS OF EMBRYOS CULTURE IN IVF/ICSI 
USING FROZEN-THAWED SPERM FROM SURGICAL 
SPERM RETRIEVAL 
Objective: To determine the results of embryos culture using frozen-
thawed sperm from surgical sperm retrieval.
Methods: Prospective study on 27 ICSI cycles dividing into 2 group: 
using frozen-thawed sperm group (n=17) and using fresh sperm group 
(n=10) from 01/2014 to 12/2015, at the Hue Center for Reproductive 
Endocrinology and Infertility.
Results: The frozen-thawed sperm group showed no statistically 
significant differences from the fresh sperm group in the rate of 
fertilization, cleavage, good quality embryos and clinical pregnancy 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Thái Thanh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):25/04/2016
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 76 - 80, 2016
77
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
(67,16% ± 21,27, 72,29% ± 27,08, 36,62% ± 19,05 and 27,64% vs 92,23% ± 17,55, 78,95% ± 17,38, 
40,23% ± 16,26 and 30%, respectively) (p > 0,05). 
Conclusion: No differences existed between the use of fresh and frozen spermatozoa.
1. Giới thiệu
Nam giới được chẩn đoán vô tinh 
(azoospermia) sau các xét nghiệm tinh dịch đồ 
được ghi nhận là do thiếu vắng tinh trùng trong 
tinh dịch (WHO, 2010). Nguyên nhân là bởi một 
trong hai tinh hoàn thất bại việc khởi phát hoặc 
duy trì sự sinh tinh vì lý do tại chỗ hoặc các bất 
thường ngoại sinh (vô tinh do không tắc nghẽn) 
hoặc tắc nghẽn hệ thống dẫn tinh. Vô tinh có 
thể phân ra 2 loại, đó là vô tinh do tắc nghẽn 
(Obstructive azoospermia: OA) và vô tinh không 
do tắc nghẽn (Non-obstructive azoospermia: 
NOA) (Dohle và cs, 2005; McLachlan và cs, 
2007). Phương pháp chính xác phân biệt giữa 
OA và NOA chính là mổ trích tinh trùng. Đây 
là phương pháp đòi hỏi phải thực hiện các thủ 
thuật trên tinh hoàn, mào tinh hoàn của bệnh 
nhân vô tinh, nhờ đó có thể thu được tinh trùng 
từ bệnh nhân.
Tinh trùng sau phẫu thuật trích ly tinh trùng 
thường được trữ lạnh để sử dụng cho nhiều lần 
ICSI. Việc đông lạnh tinh trùng làm giảm những 
khó khăn trong công tác chuẩn bị như thực hiện 
chọc hút trứng và phẫu thuật trích ly tinh trùng 
trong một ngày. 
Hiện tượng bệnh nhân azoospermia đôi khi 
có một vài tinh trùng trưởng thành trong các 
lần xuất tinh khác được coi là azoospermia ảo 
(virtual azoospermia) (Tournaye và cs, 1995), 
và đó là hậu quả của sự biến động sinh tinh 
trong trường hợp vô tinh không do tắc nghẽn 
(Bendiksin và cs, 2008). Những tinh trùng này 
có thể được sử dụng để ICSI (Ron-EL và cs, 1997; 
Swanton và cs, 2007). Tuy nhiên, không có biện 
pháp nào đảm bảo có thể tìm ra tinh trùng trong 
ngày chọc hút trứng. Khi không có tinh trùng 
xuất tinh và không có tinh trùng trữ lạnh dự trữ 
thì có thể thực hiện phẫu thuật trích tinh trùng. 
Ngoài ra, một vài nam giới có thể có tinh trùng 
chất lượng thấp và số lượng rất ít trong những 
lần xuất tinh. Đây được gọi là cryptozoospermia 
(WHO, 2010). Khi kết quả thụ tinh thấp hoặc 
khi không có kết quả có thai sau một vài chu kỳ 
với tinh trùng xuất tinh, việc sử dụng tinh trùng 
từ phẫu thuật trích ly có thể là một sự lựa chọn 
thay thế (Ron Hauser và cs, 2011).
Nguồn gốc tinh trùng, nguyên nhân hoặc 
mức độ vô sinh nam ảnh hưởng như thế nào 
đến kết quả ICSI vẫn còn là vấn đề tranh luận. 
Do đó không có sự lựa chọn rõ ràng nào giữa 
tinh trùng tươi và tinh trùng trữ lạnh cho ICSI 
đối với các trường hợp trên. (Christian Gnoth 
và cs, 2014). 
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu nghiên 
cứu hiệu quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống 
nghiệm với tinh trùng trữ lạnh từ phẫu thuật trích 
trinh trùng nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu đối 
với bệnh nhân nam giới có khả năng sinh sản bị 
suy giảm nặng. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương 
pháp hồi cứu trên 27 cặp vợ chồng đến khám 
và điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và 
Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược 
Huế (HUECREI) từ tháng 01/2014 đến tháng 
12/2015, với người chồng bị chẩn đoán là vô 
tinh khi không tìm thấy tinh trùng trong mẫu tinh 
dịch, và sau khi phẫu thuật trích tinh trùng tìm 
thấy tinh trùng sử dụng cho ICSI.
Thủ thuật được tiến hành tuần tự theo các 
phương pháp TESA (testicular sperm aspiration): 
sử dụng kim cánh én chọc vào tinh hoàn, sau đó 
hút dịch và mô tinh hoàn dưới áp lực âm, PESA 
(percutaneous epidymal sperm aspiration) 
tương tự như TESA, sử dụng kim én chọc và hút 
dịch ở mào tinh hoàn, TESE (testicular sperm 
3. Kết quả
Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2015, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu 27 chu kỳ nuôi 
cấy phôi với tinh trùng từ phẫu thuật trích tinh 
trùng trong đó bao gồm 17 chu kỳ sử dụng tinh 
trùng trữ lạnh (nhóm 1) và 10 chu kỳ sử dụng tinh 
trùng tươi (nhóm 2).
4. Thảo luận
Trong 27 chu kỳ ICSI với tinh trùng từ phẫu 
thuật trích tinh trùng tại Trung tâm chúng tôi, có 
17 chu kỳ sử dụng tinh trùng đông lạnh và 10 
chu kỳ sử dụng tinh trùng tươi. 
Đặc điểm bệnh nhân của 2 nhóm được thống 
kê ở bảng 1. Chúng tôi nhận thấy rằng không 
có sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm ở độ tuổi 
người vợ, 33 tuổi và 35 tuổi tương ứng với nhóm 
1 và nhóm 2, tương tự với đặc điểm nhóm nghiên 
cứu của Ron Hauser và cs (2011) là 34 tuổi. Độ 
tuổi trung bình người vợ của nghiên cứu này 
khá cao, có trường hợp bệnh nhân trên 40 tuổi. 
Tuổi của người vợ là một yếu tố quan trọng ảnh 
hưởng đến kết quả nuôi cấy phôi. Độ tuổi thích 
hợp để thực hiện ICSI là dưới 35 tuổi. Đối với phụ 
nữ ngoài 40, mặc dù sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh 
sản tối ưu thì vẫn chỉ có khoảng dưới 20% cho 
kết quả có thai (Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ, 
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH 
78
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
extraction) phẫu thuật sinh thiết tinh hoàn. 
Mẫu trích tinh trùng sẽ được gởi qua phòng 
lab để được xử lí, tìm tinh trùng. Tiến hành 
dừng thủ thuật khi phát hiện được tinh trùng 
trong mẫu trích.
Tinh trùng sau trích ly được trữ lạnh với môi 
trường Sperm Freeze (Vitrolife, Thụy Điển) và 
rã đông, xử lý vào ngày chọc hút trứng của 
người vợ. Vào ngày đó, người vợ được chọc 
hút trứng sau khi kích thích buồng trứng. Phức 
hợp trứng-tế bào hạt thu được sẽ được nuôi cấy 
trong G-IVF plus (Vitrolife, Thụy Điển), sau đó 
xử lý với Hyase 10X (Vitrolife, Thụy Điển). Quy 
trình tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (intra 
cytoplasmic sperm injection – ICSI) được thực 
hiện như quy trình thường quy chuẩn. Trứng sau 
đó được nuôi cấy đơn trong G1 plus (Vitrolife, 
Thụy Điển) ở tủ nuôi cấy Galaxy 170S 370C, 
8% O2, 5% CO2. Đánh giá phôi ngày 3 theo 
tiêu chuẩn của Scott (2003) vào 66-68 giờ sau 
ICSI như sau: (1) Phôi tốt (loại I): phôi 6-8 tế 
bào, <10% mảnh vỡ, kích thước đồng đều, phôi 
bào đối xứng; (2) Phôi khá (loại II): phôi 6-8 
tế bào, 10-20% mảnh vỡ, kích thước đồng đều 
hoặc không, phôi bào đối xứng hoặc không; 
(3) Phôi xấu (loại III): số lượng phôi bào không 
phải 6-8, >20% mảnh vỡ, kích thước không 
đều, phôi bào không đối xứng. 
2-3 phôi tốt được lựa chọn để chuyển phôi 
vào ngày 3. Các phôi còn lại được trữ bằng 
môi trường đông phôi (Kitazato, Nhật Bản) sử 
dụng cho các chu kỳ chuyển phôi trữ.
Kết quả chính là tỷ lệ beta-hCG, tỷ lệ thai 
lâm sàng. Thử thai thực hiện vào 14 ngày sau 
khi chọc hút trứng, beta-hCG > 5 mIU/ml được 
xem là dương tính. Tỷ lệ thai lâm sàng (clinical 
pregnancy rate) được tính bằng tỷ lệ phần trăm 
các trường hợp có thai lâm sàng trên tổng số 
các trường hợp chuyển phôi. Thai lâm sàng 
được ghi nhận khi xác định được hình ảnh túi 
thai và đo được tim thai vào khoảng 3 tuần sau 
khi có xét nghiệm beta-hCG dương tính. Tỷ lệ 
đa thai bằng tỷ lệ phần trăm các trường hợp đa 
thai trên tổng số trường hợp có thai lâm sàng.
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 
(Mỹ) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi 
p-value < 0.05
Đặc điểm Nhóm 1 Nhóm 2 p value
Tuổi trung bình người vợ 33,12 ± 5,32 35 ± 5,93 p >0,05
Thời gian vô sinh (năm) 3,82 ± 3,24 5,9 ± 4,18 p >0,05
Nguyên nhân vô sinh
- Do yếu tố chồng
- Suy buồng trứng sớm
- Buồng trứng đa nang
- Vòi tử cung
- U xơ tử cung
- Lạc nội mạc tử cung
17
3
3
0
0
1
10
1
1
1
1
1
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
Nhóm 1 Nhóm 2 p value
Số trứng thu được 11,24 ± 7,69 9,4 ± 8,13 p>0,05
Số trứng trưởng thành 9,35 ± 6,56 7,6 ± 6,33 p>0,05
Tỷ lệ thụ tinh (%) 67,16 ± 21,27 92,23 ± 17,55 p>0,05
Tỷ lệ phôi phân chia (%) 72,29 ± 27,08 78,95 ± 17,38 p>0,05
Tỷ lệ phôi tốt 36,62 ± 19,05 40,23 ± 16,26 p>0,05
Bảng 2. Các thông số kết quả nuôi cấy phôi
Nhóm 1 Nhóm 2 p value
Beta-hCG (+) 27,64% 30% p>0,05
Thai lâm sàng 27,64% 30% p>0,05
Bảng 3. Kết quả có thai của các chu kỳ chuyển phôi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 76 - 80, 2016
79
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
2008). Ở các cặp vợ chồng trong nghiên cứu, 
yếu tố vô sinh không chỉ xuất phát từ chồng mà 
còn do một trong các nguyên nhân khác liên 
quan đến người vợ bao gồm: suy buồng trứng 
sớm, buồng trứng đa nang, vòi tử cung, u xơ tử 
cung và lạc nội mạc tử cung. Thời gian vô sinh 
của nhóm 1 và nhóm 2 lần lượt là 3,82 ± 3,24 
và 5,9±4,18 năm. 
Số trứng thu được trung bình của 2 nhóm 
lần lượt là 11,24 và 9,4. Nhóm 2 có số trứng 
thu được thấp hơn, tuy nhiên sự khác biệt này 
không có ý nghĩa thống kê. Số trứng trưởng 
thành giữa hai nhóm nghiên cứu không có sự 
khác biệt đáng kể, nhóm 1 có 9,35±6,56 trứng 
MII và nhóm 2 có 7,6±6,33 trứng. 
Tỷ lệ thụ tinh của nhóm sử dụng tinh trùng 
trữ lạnh là 67,16% ± 21,27 và thấp hơn nhiều 
so với nhóm sử dụng tinh trùng tươi (92,23% ± 
17,55). Tuy tỷ lệ thụ tinh của nhóm 2 rất cao 
nhưng sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý 
nghĩa thống kê do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ. 
Trong khi đó, Fischer và cs (2011) lại chỉ ra sự 
khác biệt không lớn giữa 2 nhóm (61% và 75%).
Kết quả tỷ lệ phôi phân chia trong nghiên cứu 
này đối với nhóm 1 là 72,29% ± 27,08 và nhóm 
2 là 78,95% ± 17,38. Mặc dù tỷ lệ thụ tinh của 
nhóm 2 cao hơn nhóm 1 nhưng tỷ lệ phôi phân 
chia của 2 nhóm lại xấp xỉ nhau. Trong khi đó, 
nghiên cứu của Ron Hauser và cs (2011) cho 
kết quả thấp hơn, lần lượt là 62,6% và 54,3%. 
Tuy tỷ lệ phôi phân chia khá cao nhưng tỷ lệ 
phôi tốt trong cả 2 nhóm đều thấp, tương ứng là 
36,62% ± 19,05 và 40,23% ± 16,26, chứng tỏ 
chất lượng phôi khi ICSI với tinh trùng từ phẫu 
thuật trích tinh trùng không cao so với tinh trùng 
bình thường từ xuất tinh.
Nhóm sử dụng tinh trùng đông lạnh cho kết 
quả 27,64% có thai, trong khi đó, nhóm ICSI 
với tinh trùng tươi cho kết quả có thai cao hơn 
là 30%. Tuy nhiên sự sai khác này không có 
ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của Ron 
Hauser và cs (2011), nhóm 1 cho tỷ lệ có thai 
thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng 
tôi (12,8%), nhóm 2 có tỷ lệ có thai cao hơn 
(42,9%). Tỷ lệ có thai thấp ở nhóm 2 cũng được 
Botelho và cs báo cáo năm 2011 (19,29%) khi 
nghiên cứu 114 bệnh nhân nam và các ca có 
thai lâm sàng đều nằm trong nhóm bệnh nhân 
nữ có độ tuổi trung bình thấp 31,7 tuổi. Theo 
báo cáo của Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ 
(2008), tỷ lệ có thai lâm sàng đối với tinh trùng 
nguồn gốc từ phẫu thuật nằm trong khoảng 26-
57%. Ở nhiều Trung tâm, kết quả có thai lâm 
sàng 30-40% là con số có thể mong đợi. Có một 
số nghiên cứu khi sử dụng tinh trùng từ phẫu 
thuật trích ly tinh trùng lại cho kết quả có thai 
rất cao. Fischer và cs (2011) đã báo cáo kết 
quả có thai đạt trên 60% trong cả 2 nhóm. Tỷ lệ 
này trong nghiên cứu của Jansen và cs (2000) 
của 2 nhóm lần lượt là 60,6% và 66,7%. Ngược 
lại, Kalsi và cs (2011) khi so sánh hiệu quả ICSI 
với mẫu tinh trùng rã đông và tinh trùng tươi thì 
cho kết quả có thai của nhóm 1 cao hơn (60% 
so với 32,1%).
Kết quả nuôi cấy phôi và có thai của nhóm 
sử dụng tinh trùng từ mẫu tươi tốt hơn do 
những tác động bất lợi của quy trình trữ lạnh 
và rã đông tinh trùng đến độ di động, những 
tổn thương của nhiễm sắc thể, hình thái học 
và phản ứng cực đầu của tinh trùng. O’Connel 
và cs (2002) đưa ra các ảnh hưởng đến hình 
dạng và chức năng của ty thể, đồng thời khả 
năng sống của tinh trùng rã đông cũng giảm. 
Độ di động của tinh trùng cũng giảm 25% sau 
khi rã đông (Prabakaran và cs, 2006). Theo 
Nicopoullos và cs (2004), đối với mẫu tinh 
trùng có nguồn gốc tinh hoàn, tỷ lệ thụ tinh 
không có sự khác biệt giữa hai nhóm nhưng tỷ 
lệ làm tổ bị ảnh hưởng đáng kể khi dùng tinh 
trùng trữ lạnh. Tuy nhiên, sử dụng tinh trùng trữ 
lạnh có thuận lợi trong việc đảm bảo có tinh 
trùng trong ngày chọc hút trứng và với một lần 
phẫu thuật có thể trữ lạnh tinh trùng dùng cho 
nhiều lần ICSI về sau.
5. Kết luận
- Kết quả nuôi cấy phôi với tinh trùng trữ 
lạnh từ phẫu thuật trích tinh trùng tương đương 
đối với tinh trùng mẫu tươi từ phẫu thuật. 
- Nguồn gốc tinh trùng (từ mẫu trữ lạnh và 
mẫu tươi) đóng vai trò không đáng kể đến kết 
quả nuôi cấy phôi thụ tinh trong ống nghiệm.
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH 
80
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
Christian Gnoth, Vitaly Markhinin, Beatrice Maxrath, Therese 
Skonieczny, Kerstin Friol, Judith Roos, Gohar Rahimi, Erhard Godehardt 
(2014), Impact of sperm cell source on the results of intracytoplasmic 
sperm injection, Springer ISSN 0932-0067.
Bendikson KA, Neri OV, Takeuchi T, Tosch M, Schlegel PN, 
Rosenwacks Z, Palermo GD (2008), The outcome of intracytoplasmic 
sperm injection using occasional spermatozoa in the ejaculate of men 
with spermatogenic failure, J Urol 180:1060–1064.
Botelho F, Figueiredo L, Leite R, Carvalho A, Tomada N, Vendeira P 
(2011), Which Men Have More Likelihood of Success with a Testicular 
Biopsy?, J Urol 78.
Dohle GR, Colpi GM, Hargreave TB, Papp GK, Jungwirth A, Weidner 
W (2005), EAU Guidelines on male infertility, Eur Urol 48:703–711.
Fischer M, Kovac J (2011), VF Using Surgically Obtained 
Spermatozoa May Be Preferred as the Primary Treatment Modality in 
Cases of Obstructive Azoospermia, J Urol 78.
Janzen N, Goldstein M, Schlegel PN, Palermo GD, Rosenwaks Z 
(2000), Use of electively cryopreserved microsurgically aspirated 
epididymal sperm with IVF and intracytoplasmic sperm injection for 
obstructive azoospermia, Fertil Steril 74(4):696–701.
Kalsi J, Thum MY, Muneer A, Pryor J, Abdullah H, Minhas S (2011), 
Analysis of the outcome of intracytoplasmic sperm injection using fresh 
or frozen sperm, BJU Int.107(7):1124–8.
McLachlan RI, Rajpert-De Meyts E, Hoei-Hansen CE, de Kretser 
DM, Skakkebaek NE (2007), Histological evaluation of the human testis 
– approaches to optimizing the clinical value of the assessment: mini 
review, Hum Reprod 22:2–16.
Nicopoullos JDM, Gilling-Smith C, Almeida PA, Norman-Taylor 
J, Grace I, Ramsay JWA (2004), Use of surgical sperm retrieval in 
azoospermic men: a meta-analysis, Fertil Steril 82(3):691–701.
O’Connell M, McClure N, Lewis SE (2002), The effects of 
cryopreservation on sperm morphology, motility and mitochondrial 
function, Hum Reprod 17(3):704–9.
Practice Committee of the American Society for Reproductive 
Medicine in collaboration with the Society for Male Reproduction and 
Urology (2008), The management of infertility due to obstructive 
azoospermia, Fertil Steril 90(Suppl(3)):S121–4. 
Prabakaran SA, Agarwal A, Sundaram A, Thomas AJ, Jr, Sikka 
S (2006), Cryosurvival of testicular spermatozoa from obstructive 
azoospermic patients: The Cleveland Clinic Experience, Fertil Steril 
86(6):1789–91
Ron Hauser, Guy Bibi, Leah Yogev, Ariella Carmon, Foad Azem, 
Amnon Botchan, Haim Yavetz, Sandra e. Klieman, Ofer Lehavi, Ami amit, 
Dalit Ben-Yosef (2011), Virtual Azoospermia and Cryptozoospermia—
Fresh/Frozen Testicular or Ejaculate Sperm for Better IVF Outcome?, 
Journal of Andronoly 32(5):484-490.
Ron-El R, Strassburger D, Friedler S, Komarovski D, Bern O, 
Soffer Y, Raziel A (1997), Extended sperm preparation: an alternative 
to testicular sperm extraction in non-obstructive azoospermia, Hum 
Reprod 12:1222–1226.
Swanton A, Itani A, McVeigh E, Child T (2007), Azoospermia: is 
sample centrifugation indicated? A national survey of practice and the 
Oxford experience, Fertil Steril 88:374–378.
Tournaye H, Camus M, Goossens A, Liu J, Nagy P, Silber S, 
Van Steirteghem AC, Devroey P (1995), Recent concepts in the 
management of infertility because of non-obstructive azoospermia, Hum 
Reprod 10:115–119.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_nuoi_cay_phoi_thu_tinh_trong_ong_nghiem_voi_tinh_tru.pdf