Kết quả kết thúc thai kì ở thai phụ đủ tháng có nước ối lẫn phân su

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ liên quan đến sự xuất hiện phân su trong nước ối. 2. Nghiên cứu các kết quả trên thai nhi sau khi kết thúc thai kì. phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có đối chứng. Đối tượng nghiên cứu: 368 sản phụ mang thai đủ tháng đã được chấm dứt thai kì có nước ối lẫn phân su, so sánh với nhóm chứng bao gồm 373 sản phụ mang thai đủ tháng có nước ối trong. Kết quả: Nhóm sản phụ có nước ối xanh đặc cao nhất, chiếm 35,9%. Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 30,5±6,7 tuổi, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (27,2±5,1 tuổi). Tuổi thai trung bình của mẫu nghiên cứu là 40,0±1,5 tuần, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong (39,2±1,4 tuần). Nhóm sản phụ có nước ối lẫn phân su có tỉ lệ thai quá ngày sinh dự đoán, tỉ lệ mổ lấy thai và thai nhẹ cân đều cao hơn so với nhóm có nước ối trong. pH máu cuống rốn ở nhóm trẻ sơ sinh có ối xanh thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm trẻ sơ sinh có ối trong. Kết luận: tuổi mẹ lớn và tuổi thai tính theo tuần cao là hai yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng nước ối lẫn phân su. Và tình trạng này làm tăng tỉ lệ mổ lấy thai, làm giảm cân nặng lúc sinh của trẻ sơ sinh, pH máu dây rốn của nhóm này cũng thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có nước ối trong

pdf 10 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả kết thúc thai kì ở thai phụ đủ tháng có nước ối lẫn phân su", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả kết thúc thai kì ở thai phụ đủ tháng có nước ối lẫn phân su

Kết quả kết thúc thai kì ở thai phụ đủ tháng có nước ối lẫn phân su
hoàNg Bảo NhâN, NguyễN Vũ QuốC huynghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
22
KẾT QUẢ KẾT THÚC THAI KÌ Ở THAI PHỤ ĐỦ THÁNG 
CÓ NƯỚC ỐI LẪN PHÂN SU
hoàng Bảo Nhân(*), Nguyễn Vũ Quốc huy(**)
(**) Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Dược Huế
(*) Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trung ương Huế 
tóm tắt
mục tiêu nghiên cứu: 1. Nghiên cứu một số 
yếu tố nguy cơ liên quan đến sự xuất hiện phân 
su trong nước ối. 2. Nghiên cứu các kết quả trên 
thai nhi sau khi kết thúc thai kì. phương pháp 
nghiên cứu: mô tả cắt ngang có đối chứng. 
Đối tượng nghiên cứu: 368 sản phụ mang thai 
đủ tháng đã được chấm dứt thai kì có nước ối 
lẫn phân su, so sánh với nhóm chứng bao gồm 
373 sản phụ mang thai đủ tháng có nước ối 
trong. Kết quả: Nhóm sản phụ có nước ối xanh 
đặc cao nhất, chiếm 35,9%. Tuổi trung bình của 
mẫu nghiên cứu là 30,5±6,7 tuổi, cao hơn có ý 
nghĩa so với nhóm có nước ối trong (27,2±5,1 
tuổi). Tuổi thai trung bình của mẫu nghiên 
cứu là 40,0±1,5 tuần, cao hơn có ý nghĩa so với 
nhóm có nước ối trong (39,2±1,4 tuần). Nhóm 
sản phụ có nước ối lẫn phân su có tỉ lệ thai quá 
ngày sinh dự đoán, tỉ lệ mổ lấy thai và thai nhẹ 
cân đều cao hơn so với nhóm có nước ối trong. 
pH máu cuống rốn ở nhóm trẻ sơ sinh có ối 
xanh thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm trẻ sơ 
sinh có ối trong. Kết luận: tuổi mẹ lớn và tuổi 
thai tính theo tuần cao là hai yếu tố nguy cơ 
liên quan đến tình trạng nước ối lẫn phân su. 
Và tình trạng này làm tăng tỉ lệ mổ lấy thai, 
làm giảm cân nặng lúc sinh của trẻ sơ sinh, pH 
máu dây rốn của nhóm này cũng thấp hơn có ý 
nghĩa so với nhóm có nước ối trong. 
từ khóa: nước ối lẫn phân su, tỉ lệ mổ lấy 
thai, pH máu dây rốn.
abStract
mEconium stainEd amniotic FLuid in tERm 
pREgnanciEs: somE Risk FactoRs and outcomEs
objectives : To estimate some risk factors 
and the outcomes of term pregnancies 
with meconium stained amniotic fluid 
(MSAF). method: cross-sectional descriptive. 
results: there were 368 term pregnant 
women with MSAF were included, and 373 
pregnant women with clear amniotic fluid 
as the controlled group. There were 35.9% 
of them had thick meconium in amniotic 
fluid. The mean age of the study group was 
30.5±6.7 years old, higher than the controls. 
The mean gestational age was 40.0±1.5 
weeks, higher than the controls, too. The rate 
of postdate, C-section and SGA are higher 
in MSAF group compared with controlled 
when pH level of cord blood is lower in MSAF 
group. conclusions: the higher age of the 
mother and the gestation age, the higher risk 
of MSAF. And this condition makes it increase 
of C-section rate, decrease of birth weight 
and pH value. 
Keyworlds: Meconium stained amniotic 
fluid (MSAF), cesarean section rate, cord 
blood pH.
i. ĐẶt vấn Đề
Phân su được hình thành từ quá trình 
nuốt nước ối, các chất tiết của ruột (như 
mật), các mảng tế bào chết và một số mảnh 
vụn khác. Nó xuất hiện đầu tiên vào 3 tháng 
đầu thai kì và tích lũy trong tử cung trong 
suốt thai kì. Các acid mật được tiết ra vào 
đầu của 3 tháng giữa. Ở thai trưởng thành, 
phân su bao gồm nước, mucopolysacahride, 
cholesterol, tiền chất sterol, protein, lipid, 
acid mật, muối mật, enzyme, các chất thuộc 
nhóm máu, tế bào tiết nhầy, tóc, chất bã (các 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
23
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 22-31, 2013
tế bào tuyến bã đã bong nguồn gốc từ da 
của thai nhi) [4],[11].
Phân su thường có màu xanh đậm, nhưng 
tùy vào thời điểm phân su được tống xuất 
vào trong buồng ối mà nó có thể làm cho 
nước ối có màu sắc khác nhau. Có thể là 
màu xanh đặc, xanh loãng, màu vàng xanh 
hoặc màu vàng như dưa cải. Sự thoái hóa 
các thành phần trong phân su qua những 
khoảng thời gian khác nhau làm cho nước ối 
có những màu sắc khác nhau [13],[14],[19]. 
Nước ối có màu xanh đặc là do thai nhi vừa 
mới tống xuất phân su, nước ối có màu vàng 
nhạt là do thai nhi đã tống suất phân su 
trong một khoảng thời gian rất lâu trước đây, 
còn màu xanh nhạt hoặc màu vàng xanh thì 
nằm ở khoảng giữa của hai tình huống trên. 
Sự khác nhau về màu sắc đó thường được qui 
cho những nguyên nhân khác nhau, nước ối 
xanh đặc thường được qui cho là thai suy cấp, 
ngược lại thì nước ối có màu vàng là do thai 
suy mãn tính hay thai kém phát triển trong tử 
cung [1],[2],[3]. 
Nước ối xanh hay nước ối lẫn phân su là 
một dấu hiệu thường gặp trong thực hành 
sản khoa hàng ngày, nó được ghi nhận 
vào khoảng 10-20% các thai kì đủ tháng 
[7],[9],[10]. Khi có biểu hiện nước ối lẫn 
phân su thì dự hậu cho thai nhi thường xấu 
hơn so với những trường hợp nước ối trong 
[4],[10],[12]. Cho nên người ta thường chỉ định 
mổ lấy thai trong những trường hợp này với 
chẩn đoán thai suy cấp trong chuyển dạ hoặc 
thai suy mãn trong tử cung [5],[12],[20],[21]. 
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến dấu hiệu 
này hiện chưa được thống nhất, và chúng tôi 
nhận thấy rằng chỉ số Apgar ở những trẻ này 
thường tốt, thông thường là 8 điểm 1 phút và 
9 điểm 5 phút.
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 
với hai mục tiêu:
1. Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ liên quan 
đến sự xuất hiện phân su trong nước ối.
2. Nghiên cứu các kết quả trên thai nhi sau 
khi kết thúc thai kì.
ii. ĐỐi tƯỢng và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
2.1. Đối tượng ngHiên cứu: 
368 sản phụ mang thai đủ tháng chuyển 
dạ được ghi nhận nước ối có lẫn phân su và đã 
được chấm dứt thai kì trong khoảng thời gian 
6/2011-6/2012. So sánh với nhóm chứng bao 
gồm 373 sản phụ mang thai đủ tháng được 
chấm dứt thai kì có nước ối trong trong cùng 
khoảng thời gian tại Khoa Phụ Sản Bệnh viện 
Trung ương Huế.
2.2. tiêu cHuẩn cHọn bệnH
• Mang thai đơn thai.
• Thai ngôi đầu.
• Được chấm dứt thai kì bằng phương pháp 
đẻ thường hoặc mổ lấy thai.
2.3. tiêu cHuẩn Loại tRừ
• Thai được chẩn đoán dị tật hoặc chết lưu 
trước khi có dấu hiệu chuyển dạ.
• Mẹ bị tiền sản giật, sản giật, nhau bong non, 
có vết mổ cũ trên tử cung hoặc các bệnh lý 
khác dẫn đến chỉ định can thiệp không do thai.
2.4. pHương pHáp cHọn mẫu ngHiên cứu Và 
nHóm cHứng
Nhóm nghiên cứu được lấy ngẫu nhiên 
trong thời gian nghiên cứu.
Các sản phụ được chọn vào trong nhóm 
chứng cũng phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh 
và loại trừ như đối với mẫu nghiên cứu.
2.5. pHương pHáp ngHiên cứu: mô tả cắt ngang, 
có Đối cHứng.
Nhóm nghiên cứu được chia làm các nhóm 
có màu sắc nước ối khác nhau bao gồm nước ối 
xanh nhạt, xanh đặc, vàng xanh và vàng.
Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi mẹ, số 
lần mang thai và tuổi thai được mô tả phân 
hoàNg Bảo NhâN, NguyễN Vũ QuốC huynghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
24
tích và so sánh giữa nhóm nghiên cứu và 
nhóm chứng và giữa các nhóm khác nhau 
trong mẫu nghiên cứu. 
Phương pháp chấm dứt thai kì bao gồm mổ 
lấy thai và đẻ thường.
Kết quả kết thúc thai kì bao gồm cân nặng 
trẻ lúc sinh, pH máu dây rốn được mô tả, phân 
tích và so sánh giữa các nhóm với nhau.
2.6. Xử Lý số Liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê 
SPSS17.0. Sử dụng các phép toán tính tỉ lệ phần 
trăm, trung bình, so sánh sự khác biệt hai trung 
bình, hai tỉ lệ với mức ý nghĩa p=0,05.
iii. Kết QuẢ và bàn luận
3.1. màu sắc nước ối
Tỉ lệ sản phụ có nước ối màu xanh nhạt được 
ghi nhận nhiều nhất trong nhóm những sản 
Xanh nhạt Xanh vàng
Xanh đặc Vàng xanh 
Biểu đồ 1: Các màu ối khác nhau
19,8%
11,1%
35,9%
33,2%
3.2. các yếu tố nguy cơ
3.2.1. tuổi mẹ 
Màu sắc nước ối n Trung vị Cực tiểu Cực đại X ± SD (tuổi)
So sánh với ối trong
Mức ý nghĩa p
Xanh nhạt 132 27 19 42 28,4 ± 6,8 0,38
Xanh đặc 122 33 18 42 31,6 ± 6,1 < 0,001
Xanh vàng 73 34 21 41 33,4 ± 5,5 < 0,001
Vàng xanh 41 31 19 39 29,2 ± 6,4 0,029
ối xanh 368 32 18 42 30,5 ± 6,7 < 0,001
ối trong 373 27 18 41 27,2 ± 5,1
Bảng 1: Độ tuổi ở những sản phụ có màu sắc nước ối khác nhau
Nhóm sản phụ có nước ối lẫn phân su có tuổi thai trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê so 
với nhóm sản phụ có nước ối trong với mức ý nghĩa <0,05. Trong đó, nhóm sản phụ có nước ối 
xanh vàng là cao nhất, 33,4±5,5 tuổi. 
phụ có nước ối màu xanh. Nhóm có nước ối có 
màu xanh đặc chiếm 35,9%.
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
25
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 22-31, 2013
Màu sắc nước ối n Trung vị Cực tiểu Cực đại X ± SD (tuần)
So sánh với ối trong
Mức ý nghĩa p
Xanh nhạt 132 40 37 42 39,8 ± 1,5 < 0,001
Xanh đặc 122 41 37 42 40,2 ± 1,7 < 0,001
Xanh vàng 73 40 37 42 40,0 ± 1,4 < 0,001
Vàng xanh 41 41 37 42 40,6 ± 1,5 < 0,001
ối xanh 368 40 37 42 40,0 ± 1,5 < 0,001
ối trong 373 39 37 42 39,2 ± 1,4
Bảng 2: Tuổi thai ở những nhóm có màu sắc nước ối khác nhau
So với nhóm chứng thì nhóm nghiên cứu có tuổi thai cao hơn có ý nghĩa thống kê với mức ý 
nghĩa <0,05. Trong đó, nhóm có nước ối màu vàng xanh là cao nhất, 40,6±1,5 tuần.
3.2.2. tuổi thai
3.2.3. các yếu tố nguy cơ liên quan với tình trạng ối xanh
Yếu tố nguy cơ
Ối xanh so với ối trong
Mức ý nghĩa p OR 95% CI 
Mẹ trên 30 tuổi < 0,001 4,02 2,95 - 5,48
Thai quá ngày sinh dự đoán < 0,001 3,94 2,84 - 5,48
oVN - oVs 0,33 1,17 0,86 - 1,59
giai đoạn tích cực 0,61 1,08 0,80 - 1,48
Mức ý nghĩa p Ối xanh Ối trong
số lần mang thai 0,22 2,3 ± 1,1 2,4 ± 1,2
Tần số cơn co < 0,001 3,2 ± 0,9 2,9 ± 0,9
Thời gian chuyển dạ 0,001 10,2 ± 4,2 9,2 ± 4,7
Bảng 3: Các yếu tố nguy cơ liên quan với tình trạng ối xanh
Mẹ trên 30 tuổi và thai quá ngày sinh dự đoán là hai yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng ối 
xanh với OR lần lượt là 4,02 (95% CI: 2,95 - 5,48) và 3,94 (95% CI: 2,84 - 5,48), còn hai yếu tố OVN - 
OVS (OR = 1,17, 95%CI: 0,86 - 1,59) và giai đoạn tích cực chuyển dạ (OR = 1,08, 95%CI: 0,80 - 1,48) 
hoàNg Bảo NhâN, NguyễN Vũ QuốC huynghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
26
Màu sắc nước ối n
PP can thiệp So sánh với ối trong
Mổ lấy thai 
Tỉ lệ (%)
Khác 
Tỉ lệ (%) RR 95% CI của RR
Xanh nhạt 132 30,3 69,7 1,22 0,90 - 1,66
Xanh đặc 122 77,0 23,0 3,09 2,53 - 3,77
Xanh vàng 73 63,0 37,0 2,53 1,97 - 3,24
Vàng xanh 41 31,7 68,3 1,27 0,78 - 2,06
ối xanh 368 52,4 47,6 2,10 1,72 - 2,57
ối trong 373 24,9 75,1
Bảng 4: Tỉ lệ mổ lấy thai ở các nhóm khác nhau 
Ối xanh làm tăng nguy cơ can thiệp mổ lấy thai lên 2,10 lần (95% CI: 1,72 - 2,57) so với nhóm ối 
trong, trog đó cao nhất là nhóm ối xanh đặc, làm tăng nguy cơ phải mổ lấy thai lên 3,09 lần (95% 
CI: 2,53 - 3,77).
3.3.2. cân nặng lúc sinh
n X ± SD (gam)
So sánh với ối trong
Mức ý nghĩa p 95% CI
Xanh nhạt 132 2813,6 ± 395,7 < 0,001 175,9 - 319,1
Xanh đặc 122 2790,2 ± 399,7 < 0,001 197,1 - 344,8
Xanh vàng 73 2720,5 ± 386,9 < 0,001 251,7 - 429,5
Vàng xanh 41 3009,8 ± 245,8 0,230
ối xanh 368 2809,2 ± 388,2 < 0,001 198,8 - 305,0
ối trong 373 3061,1 ± 346,6
Bảng 5: Cân nặng lúc sinh
không liên quan với tình trạng ối xanh. 
So với nhóm sản phụ có ối trong thì nhóm có ối xanh có cơn co tử cung nhiều hơn (p < 0,001) 
và thời gian chuyển dạ kéo dài hơn (p = 0,001). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số 
lần mang thai giữa hai nhóm
3.3. kết quả kết tHúc tHai kì
3.3.1. phương pháp can thiệp
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
27
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 22-31, 2013
Những thai nhi sinh ra có nước ối xanh có trọng lượng lúc sinh thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 
có nước ối trong (p < 0,001). Tuy nhiên, nhóm có ối vàng xanh có sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê (p = 0,23).
3.3.3. pH máu dây rốn
Màu sắc nước ối n Trung vị Cực tiểu Cực đại X ± SD (tuần)
So sánh với ối trong
Mức ý nghĩa p
Xanh nhạt 132 7,23 6,95 7,35 7,21 ± 0,09 < 0,001
Xanh đặc 122 7,19 6,94 7,38 7,17 ± 0,09 < 0,001
Xanh vàng 73 7,26 6,93 7,35 7,22 ± 0,09 0,007
Vàng xanh 41 7,27 6,99 7,36 7,25 ± 0,08 0,908
ối xanh 368 7,22 6,93 7,36 7,19 ± 0,09 < 0,001
ối trong 373 7,26 7,12 7,38 7,25 ± 0,05
Bảng 6: ph máu dây rốn
Nhóm trẻ sơ sinh có nước ối xanh có pH máu cuống rốn thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm có ối 
trong (p < 0,001, 7,19 ± 0,09 so với 7,25 ± 0,05), trong đó, thấp nhất là nhóm trẻ có nước ối xanh 
đặc (7,17 ± 0,09), cao nhất là nhóm trẻ có nước ối màu vàng xanh (7,25 ± 0,08), nhóm này khác biệt 
không có ý nghĩa so với nhóm có ối trong.
3.4. một số mô HìnH dự báo tìnH tRạng nHiễm toan ở tRẻ sơ sinH
STT Mô hình dự báo - 2LL Độ chính xác (%) p
1 CTg loại 3+ối xanh 109,89 96,2 0,029
2 CTg loại 2+ối xanh đặc 168,92 93,5 0,046
3 CTg loại 2+ối xanh đặc+nhẹ cân 167,06 93,5 0,038
4 CTg loại 2+ối xanh nhạt Không có ý nghĩa 0,097
5 CTg loại 2+ối xanh nhạt+nhẹ cân Không có ý nghĩa 0,078
6 CTg loại 2+ối xanh vàng Không có ý nghĩa 0,077
7 CTg loại 2+ối xanh vàng+nhẹ cân Không có ý nghĩa 0,062
Bảng 7: Một số mô hình dự báo tình trạng nhiễm toan ở trẻ sơ sinh
Trong 7 mô hình dự báo thì chỉ có 3 mô hình số 1, 2, 3 có ý nghĩa dự báo tình trạng nhiễm toan 
của trẻ, các mô hình còn lại không có ý nghĩa dự báo với mức ý nghĩa p < 0,05.
hoàNg Bảo NhâN, NguyễN Vũ QuốC huynghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
28
iv. bàn luận
4.1. màu sắc nước ối
Theo biểu đồ 1, tỉ lệ sản phụ có nước ối 
màu xanh nhạt được ghi nhận nhiều nhất 
trong nhóm nghiên cứu, nhóm có nước ối có 
màu xanh đặc chiếm 35,9%, đây là tình trạng 
khá thường gặp trong thực hành lâm sàng, 
và thường được qui cho nguyên nhân là thai 
suy, hay do thai mới tống suất phân su vào 
trong buồng ối. 
Trong một nghiên cứu tại đơn vị chăm sóc 
sơ sinh thuộc khoa Nhi bệnh viện trường đại 
học Banaras Hindu đã cho thấy tỉ lệ trẻ sơ sinh 
sống có nước ối đặc phân su là 141/204 trường 
hợp có nước ối lẫn phân su [13]. Tỉ lệ này cao 
hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. 
Tuy nhiên, một nghiên cứu được công bố 
năm 2010 cho thấy tỉ lệ sản phụ có phân su 
mức độ III trong nước ối là khoảng 22% [22]. 
Nghiên cứu khác lại cho thấy tỉ lệ thai phụ có 
nước ối đặc phân su chiếm khoảng 39% trong 
khi nhóm còn lại có nước ối lẫn phân su loãng 
hơn chiếm 61% [16].
4.2. các yếu tố nguy cơ
4.2.1. tuổi mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận độ tuổi 
trung bình ở nhóm sản phụ có nước ối xanh 
hay lẫn phân su cao hơn so với nhóm có nước 
ối trong với mức ý nghĩa 0,05. 
Trong một nghiên cứu về yếu tố nguy 
cơ của tình trạng nước ối có lẫn phân su đã 
cho thấy rằng tuổi mẹ trên 30 là một yếu tố 
nguy cơ dẫn đến nước ối có lẫn phân su [16]. 
Tuy nhiên, các nghiên cứu khác không thấy 
có bàn luận đến yếu tố này như một yếu tố 
nguy cơ dẫn đến thai tống suất phân su vào 
trong buồng ối. 
4.2.2. tuổi thai
Bảng 2 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê về tuổi thai giữa nhóm nghiên cứu và 
nhóm chứng với mức ý nghĩa 0,05. 
Mặc dù hiện nay, nguyên nhân của tình 
trạng nước ối lẫn phân su vẫn chưa rõ, 
nhưng một trong những nguyên nhân được 
nhiều người chấp nhận là tình trạng trưởng 
thành của hệ thống tiêu hóa của thai nhi 
[18],[22],[14],[10]. Và hiếm khi ghi nhận được 
tình trạng nước ối lẫn phân su khi tuổi thai 
còn non, nhất là trước 33 tuần [19]. 
Phân su trong nước ối là một triệu chứng 
thường gặp ở những thai kì đú tháng với tỉ 
lệ có thể lên đến 30% ở các thai kì già tháng. 
Trong một nghiên cứu trên 13.000 bánh nhau, 
khoảng 20% trường hợp ghi nhận có phân su ở 
các mức độ khác nhau và phần lớn trong số đó 
là thai đủ tháng [19].
4.2.3. phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan với 
tình trạng nước ối lẫn phân su
Bảng 3 nêu lên các yếu tố nguy cơ liên 
quan đến tình trạng nước ối lân phân su 
trong thai kì. Trong đó, mẹ trên 30 tuổi (OR = 
4,02, 95%CI: 2,95 - 5,48) và thai quá ngày sinh 
dự đoán (OR = 3,94, 95%CI: 2,84 - 5,48) là hai 
yếu tố nguy cơ với mức ý nghĩa p < 0,001, 
hai yếu tố OVN - OVS (OR = 1,17, 95%CI: 0,86 
- 1,59) và chuyển dạ giai đoạn tích cực (OR 
= 1,08, 95%CI: 0,80 - 1,48) không có sự khác 
biệt giữa hai nhóm.
Thời gian chuyển dạ (p = 0,001) và tần số 
cơn co (p < 0,001) trong nhóm sản phụ có ối 
xanh đều cao hơn có ý nghĩa so với nhóm ối 
trong, số lần mang thai không có sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê (p = 0,22).
Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng 
cho kết quả tương tự chúng tôi. Naveen S và 
cộng sự nghiên cứu trên 1009 sản phụ đã tìm 
thấy các yếu tố nguy cơ của tình trạng này 
bao gồm mang thai con so (p = 0,0009), thai 
quá ngày sinh (p = 0,001), chuyển dạ kéo dài 
(p = 0,034) và các bất thường của dây rốn (p 
= 0,001) [13]. 
Balchin I và cộng sự với nghiên cứu trên 
499096 sản phụ đã cho thấy các yếu tố nguy 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
29
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 22-31, 2013
cơ cho tình trạng ối lẫn phân su bao gồm mẹ 
sốt (OR = 1,62, 95% CI: 1,50 - 1,74), thai quá 
ngày sinh (OR = 1,39, 95% CI: 1,38 - 1,40), 
mẹ có BMI trên 30 (OR = 1,37, 95% CI: 1,32 
- 1,41), mẹ trên 40 tuổi (OR = 1,26, 95% CI: 
1,18 - 1,36) và bấm ối sớm (OR = 1,04, 95% CI: 
1,02 - 1,06) [6].
4.3. kết quả kết tHúc tHai kì
4.3.1. phương pháp can thiệp
Bảng 4 cho thấy những sản phụ có nước ối 
lẫn phân su có nguy cơ mổ lấy thai cao gấp 2,10 
lần (95% CI: 1,72 - 2,57) so với nhóm có ối trong. 
Trong đó, tỉ lệ can thiệp mổ lấy thai cao nhất 
trong nhóm có nước ối xanh đặc, 77,0%.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho 
thấy kết quả tương tự, nước ối lẫn phân su 
làm tăng tỉ lệ can thiệp mổ lấy thai [22],[24]. 
Một nghiên cứu ở vùng Trung Đông cho thấy 
tỉ lệ đó là 50,6% [8], tỉ lệ này tương đương với 
nghiên cứu của chúng tôi. Một nghiên cứu 
khác ở Ấn Độ công bố năm 2010 cho thấy tỉ 
lệ can thiệp mổ lấy thai ở nhóm có nước ối 
lẫn phân su thấp hơn nghiên cứu của chúng 
tôi, 33,3%, tuy nhiên, cũng cho thấy kết quả 
tương tự khi so sánh với nhóm nước ối trong 
thì tỉ lệ mổ lấy thai cũng cao gấp hơn 2 lần 
(33,3% so với 17,1%) [10]. Như đã nói ở trên 
thì nước ối lẫn phân su thường được qui cho 
nguyên nhân thai thiếu oxy, nên các bác sĩ 
lâm sàng thường chỉ định mổ lấy thai khi 
phát hiện dấu hiệu này [12],[14]. Điều này 
làm tăng tỉ lệ mổ lấy thai trong nhóm này. 
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho 
thấy rằng nếu như những sản phụ đó được 
theo dõi sát và có những chỉ định can thiệp 
đúng đắn thì tỉ lệ này được giảm thấp nhiều 
lần [19]. Và đôi khi những chỉ định mổ lấy 
thai là không cần thiết [7],[15].
4.3.2. cân nặng lúc sinh
Bảng 5 cho thấy nhóm có nước ối lẫn 
phân su có trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh 
thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng với 
mức ý p = 0,05. 95. Chỉ có nhóm có nước ối 
vàng xanh là không khác biệt so với nhóm ối 
trong, còn lại các nhóm khác đều có trọng 
lượng thai thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 
có nước ối trong. Một nghiên cứu ở Thái Lan 
đã cho thấy một trong những nguy cơ của 
tình trạng nước ối lẫn phân su là tăng trọng 
lượng thai [18]. Có lẽ những thai kì có trong 
lượng trẻ sơ sinh cao thường có cuộc chuyển 
dạ kéo dài hơn và tiêu chuẩn chọn bệnh giữa 
hai nghiên cứu là khác nhau nên dẫn đến sự 
khác biệt về kết quả nghiên cứu này.
4.3.3. pH máu dây rốn
Bảng 6 cho thấy so với nhóm chứng thì 
nhóm nghiên cứu có giá trị pH máu dây rốn 
thấp hơn có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 
p = 0,05. Sự khác biệt đó đều có ý nghĩa ở tất cả 
các nhóm, chỉ có nhóm có nước ối vàng xanh là 
không có có ý nghĩa thống kê.
Mối liên quan giữa triệu chứng có phân 
su trong nước ối và tình trạng nhiễm toan 
của thai nhi là một cấn đề còn tranh cãi [6]. 
Một số tác giả báo cáo rằng không có sự 
liên quan giữa triệu chứng có phân su trong 
nước ối và chỉ số pH động mạch rốn trung 
bình và tỉ lệ nhiễm toan của thai nhi, trong 
khi một số tác giả khác lại tìm thấy sự liên 
quan giữa triệu chứng này và kết quả xét 
nghiệm khí máu thai nhi [9]. Sự khác biệt kết 
quả giữa các nghiên cứu này có thể là do tỉ 
lệ chẩn đoán hạ oxy máu thai nhi liên quan 
đến triệu chứng có phân su trong nước ối 
còn thấp [17]. Trong một nghiên cứu trên 
19.000 thai kì đủ tháng (từ 37 tuần trở lên) 
được ghi nhận có phân su trong nước ối thì 
chỉ 14% có hình ảnh CTG bất thường, dưới 
3,2% có chỉ số Apgar nhỏ hơn 7 điểm sau 
5 phút, và pH động mạch rốn dưới 7,10 chỉ 
được ghi nhận trong 3,6% trường hợp, điều 
này gợi ý rằng hạ oxy máu không phải là 
nguyên nhân thường gặp trong các trường 
hoàNg Bảo NhâN, NguyễN Vũ QuốC huynghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
30
hợp có phân su trong nước ối [12],[23]. Tuy 
nhiên, việc ghi nhận phân su đặc và mới xuất 
hiện trong chuyển dạ làm tăng 2 lần nguy 
cơ có pH máu dây rốn nhỏ hơn 7,10 và chỉ 
số Apgar nhỏ hơn 7 sau 5 phút so với nhóm 
có nước ối trong hoặc xanh loãng [11]. Điều 
này gợi ý rằng nếu phân su được ghi nhận 
trước khi chuyển dạ thì có thể là sinh lý do 
sự trưởng thành của hệ tiêu hóa, và ghi nhận 
phân su trong nước ối có thể là biểu hiện của 
một quá trình bệnh lý [19]. 
4.3.4. một số mô hình dự báo tình trạng nhiễm 
toan ở trẻ sơ sinh
Như đã nói ở trên thì nhiều yếu tố có liên 
quan đến tình trạng nhiễm toan của trẻ sơ 
sinh có nước ối lẫn phân su như màu sắc 
nước ối, loại CTG, cân nặng lúc sinh. Trong 
nghiên cứu này, chúng tôi xin đưa ra một số 
mô hình dự báo tình trạng nhiễm toan của 
trẻ sơ sinh trong nhóm này.
Nhóm ối màu vàng xanh chỉ ghi nhận 1 
trường hợp nhiễm toan sau 
khi kết thúc thai kì nên chúng tôi không đề 
cập đến nhóm này trong mô hình dự báo.
CTG nhóm 1 được coi là bình thường, nó có thể 
giúp loại trừ tình trạng nhiễm toan, nên trong mô 
hình chúng tôi chỉ đề cập đến CTG loại 2 và loại 3.
Kết hợp 3 yếu tố là màu sắc nước ối, loại 
CTG và tình trạng nhẹ cân của trẻ, chúng tôi 
có 7 mô hình dự báo tình trạng nhiễm toan 
của trẻ như ở bảng 7. Trong đó, chỉ có 3 mô 
hình số 1, 2, 3 có ý nghĩa dự báo, còn các 
mô hình còn lại không có ý nghĩa với mức 
ý nghĩa p < 0,05. CTG loại 3 trong nhóm ối 
xanh cho phép dự báo trẻ nhiễm toan trong 
96,2% các trường hợp, với mức ý nhĩa p = 
0,029, nên khi gặp dấu hiệu này thì nên chỉ 
định kết thúc thai kì.
Nước ối xanh đặc kết hợp với CTG nghi 
ngờ (loại 2) cũng cho phép dự báo tình trạng 
nhiễm toan của trẻ với độ chính xác 93,5% và 
p < 0,05. Do đó, nếu kết hợp hai yếu tố này 
thì nên chỉ định chấm dứt thai kì. Các nhóm 
còn lại khi có CTG loại 2 thì không thể dự báo 
chính xác tình trạng nhễm toan của trẻ.
iv. Kết luận
Tuổi mẹ trên 30 tuổi và tuổi thai quá ngày 
sinh dự đoán là hai yếu tố nguy cơ của tình 
trạng nước ối lẫn phân su.
Nước ối lẫn phân su làm tăng nguy cơ mổ 
lấy thai lên 2,1 lần so với nhóm có ối trong. 
Nhóm trẻ sơ sinh được sinh ra với nước ối xanh 
có cân nặng lúc sinh thấp hơn có ý nghĩa so với 
nhóm có nước ối trong, trong đó nhóm có nước 
ối màu vàng xanh là thấp nhất.
Nước ối xanh nói chung làm giảm có ý nghĩa 
pH máu dây rốn ở trẻ sơ sinh. 
Vi. Tài liệu Tham khảo
1. Bộ môn Phụ Sản trường Đại học Y Dược 
Huế (2006), “Suy thai”, Sản phụ khoa, Nhà 
xuất bản y học, tr 446-454.
2. Bộ môn Phụ Sản trường Đại học Y Dược 
thành phố Hồ Chí Minh (2006), “Suy thai cấp 
trong chuyển dạ”, Sản phụ khoa, Tập 1, Nhà 
xuất bản y học, tr. 426-432.
3. Bộ y tế (2009) “Thai suy cấp”, Hướng 
dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức 
khỏe sinh sản, Bộ y tế, Hà Nội, tr.131.
4. Nguyễn Đức Hinh (2007), “Thành phần 
của nước ối”, Nước ối- một số vấn đề cần 
thiết đối với bác sĩ sản khoa, Nhà xuất bản Y 
học, tr. 26-31.
5. Phan Hiếu (2006), “Thai suy”, Cấp cứu 
sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, tr. 29-30.
6. Balchin I, Whittaker JC, Lamont 
RF, Steer PJ (2011), “Maternal and Fetal 
Characteristics Associated With Meconium-
Stained Amniotic Fluid”, Obstet & Gynecol, 
117(4):828-835.
7. Dastur AE (2005) “Intrapartum fetal 
distress”, J Obstet Gynecol India, 55(2): 115-117.
8. Duhan N, Paul A, Duhan U, Anjali (2010) 
“Meconium Staining of Amniotic Fluid-A 
Poor Indicator of Fetal Compromise”, JK 
Science, 12(4): 184-186.
9. Grignaffini A, Soncini E, Ronzoni 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
31
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 22-31, 2013
E, Piazza E, Anfuso S, Vadora E (2004) 
“Meconium-stained amniotic fluid and 
fetal oxygen saturation measured by pulse 
oximetry during labour”, Acta Bio Medica 
Ateneo Parmense; 75(1): 45-52.
10. Gupta V, Bhatia BD, Mishra OP 
(1995) “Meconium stained amnionitic 
fluid: antenatal, intrapartum and neonatal 
attributes”, Indian Pediatrics, 33(4): 293-297.
11. Kamat M, Wu S, Yeh TF (2009) 
“Meconium Aspiration Syndrome 
-Pathogenesis and Current Management”, 
Neonatalogy Today, 4(4): 2-11.
12. Krzyscin M, Banaszak A, Dera A, 
Szymankiewicz M, Breborowicz G (2009) 
“Intrapartum amnioinfusion for meconium- 
stained amniotic fluid”, Archives of Perinatal 
Medicine, 15(2): 95-100.
13. Naveen S, Kumar SV, Ritu S, Kushla 
P (2005) “Predictors of meconium stained 
amniotic fluid: a possible strategy to reduce 
neonatal morbidity and mortality”, J Obstet 
Gynecol India, 56(6): 514-517.
14. Ojha RK, Singh SK, Batra S, Sreenivas 
V, Puliyel JM (2006) “Lactate: creatinine ratio 
in babies with thin meconium staining of 
amniotic fluid”, BMC Pediatrics, 6(Apr): 6-13.
15. Piyayotai V (2008) “Outcome of 
Pregnancy with Meconium Stained Amniotic 
Fluid at Uthaithani Hospital”, Khon Kaen 
Hospital Medical Journal, 32(5): 50-58.
16. Poggi SH, Ghidini A (2009) 
“Pathophysiology of meconium passage 
into the amniotic fluid”, Early Human 
Development, 85(10): 607-610.
17. Roggensack A, Ann L, Farine JD 
(2009) “Management of Meconium at Birth” J 
Obstet Gynaecol Can; 31(4): 353-354.
18. Roy KK, Baruah J, Kumar S, 
DeorarAK, Sharma JB, Karmakar D (2008) 
“Cesarean Section for Suspected Fetal 
Distress, Continuous Fetal Heart Monitoring 
and Decision to Delivery Time”, Indian J 
Pediatr; 75(12): 1249-1252.
19. Serrao PR, Khatua S, Milano EL (2000) 
“Advances in the Management of Meconium 
Aspiration Syndrome”, International Journal 
of Pediatrics, 67(11): 837-841.
20. Shaikh EM, Mehmood S, Shaikh MA 
(2010) “Neonatal outcome in meconium 
stained amniotic fluid-one year experience”, 
J Pak Med Assoc, 60(9): 711-714.
21. Staribratova D, Belovejdov V (2011) 
“Fetal hypoxia and meconium in preterm 
deliveries and stillbirth”, Trakia Journal of 
Sciences, 9(2): 45-48.
22. Steven LG, Jonathan MF, Michele CW 
(2007) “Meconium stained fluid: approach 
to the mother and the baby”, Clinics in 
Perinatology, 34(4): 653– 665.
23. Teksam O, Tekinalp G, Yurdakok M, 
Yigit S, Korkmaz A, Guc D (2008) “Vascular 
Endothelial Growth Factor Levels in 
Newborns with Meconium Stained Amniotic 
Fluid”, Indian J Pediatr; 75(10): 1015-1017.
24. Wiberg-Itzel E, Lipponer C et al (2008) 
“Determination of pH or lactate in fetal scalp 
blood in management of intrapartum fetal 
distress: randomized controlled multicentre 
trial”, BMJ Research, 336 (7656): 1284–1287.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_ket_thuc_thai_ki_o_thai_phu_du_thang_co_nuoc_oi_lan.pdf