Kết quả icsi của trứng có khoang quanh noãn hẹp và màng trong suốt không đồng nhất

Giới thiệu: Số liệu từ y văn cho thấy trứng có khoang quanh noãn hẹp

và màng trong suốt không đồng nhất (NPVS&HZP) là bất thường hiếm

gặp và có kết quả thụ tinh trong ống nghiệm thấp. Thống kê tại đơn vị

Hỗ trợ sinh sản, bệnh viện Mỹ Đức (IVFMĐ) từ tháng 5/2014 đến tháng

8/2015 cho thấy có 51 chu kỳ với toàn bộ trứng chọc hút được có bất

thường NPVS&HZP, chiếm tỷ lệ 1% (51/5091). Kết quả phôi học cũng

cho thấy tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phôi có chất lượng tốt thấp.

Mục tiêu: Phân tích kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương trứng

(ICSI) trên đối tượng bệnh nhân có trứng NPVS&HZP và so sánh với

các trường hợp bình thường. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cung

cấp thêm dữ liệu lâm sàng cho những trường hợp trứng có bất thường

hiếm này.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên các chu

kỳ TTON tại IVFMD từ 5/2014 đến 8/2015. Bệnh nhân được chỉ định

ICSI, có độ tuổi <45 và="" được="" chia="" làm="" hai="" nhóm:="" nhóm="" i="" gồm="">

trường hợp có toàn bộ trứng NPVS&HZP được xác định bởi hai chuyên

viên phôi học có kinh nghiệm, nhóm II gồm các ca chọc hút cùng ngày

không chứa các bất thường này. Yếu tố đánh giá kết quả chính là tỷ

lệ thai diễn tiến. Yếu tố đánh giá kết quả phụ gồm tỷ lệ 2PN, tỷ lệ thụ

tinh, tỷ lệ thoái hóa, tỷ lệ phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ và

tỷ lệ sẩy thai.

 

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả icsi của trứng có khoang quanh noãn hẹp và màng trong suốt không đồng nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả icsi của trứng có khoang quanh noãn hẹp và màng trong suốt không đồng nhất

Kết quả icsi của trứng có khoang quanh noãn hẹp và màng trong suốt không đồng nhất
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 75 - 80, 2017
75
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Nguyễn Thị Liên Thi(1), Lê Hoàng Anh(1), Phạm Dương Toàn(1), Huỳnh Gia Bảo(1), Hồ Mạnh Tường(2)
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM
KẾT QUẢ ICSI CỦA TRỨNG
CÓ KHOANG QUANH NOÃN HẸP
VÀ MÀNG TRONG SUỐT KHÔNG ĐỒNG NHẤT
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Liên Thi, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 19/10/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/10/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Khoang quanh noãn 
hẹp (NPVS), màng trong suốt 
không đồng nhất (HZP), thai 
diễn tiến, thai lâm sàng, tỷ lệ 
thụ tinh, kết quả ICSI.
Keywords: Narrow perivitelline 
space, heterogenous zona 
pellucida, on going pregnancy, 
clinical pregnancy, ICSI 
outcomes.
Tóm tắt
Giới thiệu: Số liệu từ y văn cho thấy trứng có khoang quanh noãn hẹp 
và màng trong suốt không đồng nhất (NPVS&HZP) là bất thường hiếm 
gặp và có kết quả thụ tinh trong ống nghiệm thấp. Thống kê tại đơn vị 
Hỗ trợ sinh sản, bệnh viện Mỹ Đức (IVFMĐ) từ tháng 5/2014 đến tháng 
8/2015 cho thấy có 51 chu kỳ với toàn bộ trứng chọc hút được có bất 
thường NPVS&HZP, chiếm tỷ lệ 1% (51/5091). Kết quả phôi học cũng 
cho thấy tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phôi có chất lượng tốt thấp. 
Mục tiêu: Phân tích kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương trứng 
(ICSI) trên đối tượng bệnh nhân có trứng NPVS&HZP và so sánh với 
các trường hợp bình thường. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cung 
cấp thêm dữ liệu lâm sàng cho những trường hợp trứng có bất thường 
hiếm này.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên các chu 
kỳ TTON tại IVFMD từ 5/2014 đến 8/2015. Bệnh nhân được chỉ định 
ICSI, có độ tuổi <45 và được chia làm hai nhóm: nhóm I gồm các 
trường hợp có toàn bộ trứng NPVS&HZP được xác định bởi hai chuyên 
viên phôi học có kinh nghiệm, nhóm II gồm các ca chọc hút cùng ngày 
không chứa các bất thường này. Yếu tố đánh giá kết quả chính là tỷ 
lệ thai diễn tiến. Yếu tố đánh giá kết quả phụ gồm tỷ lệ 2PN, tỷ lệ thụ 
tinh, tỷ lệ thoái hóa, tỷ lệ phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ và 
tỷ lệ sẩy thai.
Kết quả: Có 440 chu kỳ ICSI được nhận vào nghiên cứu, trong đó 46 
chu kỳ có toàn bộ trứng NPVS&HZP, 394 chu kỳ chọc hút cùng ngày và 
không có bất thường này. Kết quả ICSI của nhóm NPVS&HZP gồm tỷ lệ 
2PN, tỷ lệ thụ tinh thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (53,2% so 
với 69,6%, 62,9% so với 77,2%, p<0,05). Tương tự, tỷ lệ thai lâm sàng, 
tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ thai diễn tiến của nhóm NPVS&HZP cũng thấp hơn 
đáng kể so với nhóm đối chứng (lần lượt 20,5%; 9,5% và 15,4% so với 
38,2%; 20,3% và 33,2%, p<0,05).
Kết luận: Bất thường hình thái với tất cả trứng NPVS&HZP có tỷ lệ 
NGUYỄN THỊ LIÊN THI, LÊ HOÀNG ANH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
76
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
1. Đặt vấn đề 
Sự thay đổi hình dạng trứng trong các chu kỳ thụ 
tinh trong ống nghiệm có thể là hệ quả của các yếu tố 
nội tại như tuổi, yếu tố di truyền hoặc các yếu tố bên 
ngoài như phác đồ kích thích buồng trứng và sự đáp 
ứng của buồng trứng (1). Cho đến nay, việc đánh 
giá một số dạng bất thường trứng và ảnh hưởng của 
chúng lên kết quả TTON đã được nghiên cứu nhưng 
vẫn còn nhiều tranh luận. Màng trong suốt (ZP) là 
cấu trúc bao quanh trứng được hình thành trong quá 
trình phát triển của trứng. Khi có sự hình thành hoàn 
chỉnh của ZP, khoảng không gian chứa các chất dịch 
ngoại bào nằm giữa màng bào tương trứng và ZP 
xuất hiện, gọi là khoang quanh noãn (PVS). ZP và 
PVS tồn tại cùng với sự phát triển của trứng và phôi 
cho đến khi phôi thoát màng để làm tổ (2) (Hình 2a-
f). Trứng trưởng thành (MII) bình thường có ZP đều 
đặn, sáng, trong suốt, PVS nở rộng, có thể quan sát 
được thể cực thứ nhất (Hình 2c). Tuy nhiên trong một 
số trường hợp, PVS hẹp vẫn xuất hiện ở trứng trưởng 
thành gây khó khăn trong việc đánh giá sự trưởng 
thành của trứng và chất lượng phôi. 
2PN, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ thai diễn tiến thấp hơn có ý nghĩa thống kê 
so với bệnh nhân không có trứng bất thường dạng này.
Từ khoá: Khoang quanh noãn hẹp (NPVS), màng trong suốt không đồng nhất (HZP), thai diễn tiến, 
thai lâm sàng, tỷ lệ thụ tinh, kết quả ICSI.
Abstract 
ICSI OUTCOMES OF CYCLES HAVING ALL NARROW PERIVITELLINE 
SPACE AND HETEROGENEOUS ZONA PELLUCIDA OOCYTES 
Introduction: Current data reported a low pregnancy rate in cycles with all oocytes having narrow 
perivitelline space and heterogeneous zona pellucida (NPVS&HZP). This abnormal appearance type 
of oocytes has occurred in 1% cycles at our center (51/5091) with low fertilization rate and low quality 
of embryo.
Objective: We conducted this study to compare the ICSI outcomes of cycles with and without 
NPVS&HZP.
Methods: A retrospective cohort study was performed at the IVFMD, My Duc hospital from May 
2014 to August 2015. Women included in the study were under 45 years old and had ICSI treatment. 
Patients were divided into two groups: group I had all retrieved oocytes classified as NPVS&HZP by 
two experience embryologists, group II had oocyte pick-up on the same day and had no NPVS&HZP. 
The primary outcome was on-going pregnancy rate. The secondary outcomes included rates of 2PN, 
fertilization, degeneration, top-quality embryo, clinical pregnancy, implantation and miscarriage.
Results: A total of 440 cycles were recruited in the study, in which 46 cycles had all NPVS&HZP 
oocytes (group I), 394 cycles had normal oocytes (group II). The NPVS&HZP group has lower 
fertilization rate, 2PN rate compared to the normal group (53.2% vs 69.6%, 62.9% vs 77.2%, 
p<0.05, respectively). The clinical pregnancy rate, the implantaion rate and on-going pregnancy rate 
of NPVS&HZP were also lower than normal group (20.5%, 9.5% and 15.4% vs 8.2%, 20.3% and 
33.2%, p<0.05, respectively).
Conclusion: Patients with all NPVS&HZP oocytes have lower 2PN rate, fertilization rate, clinical 
pregnancy rate, implantation rate and on going pregnancy rate compared to normal oocytes group.
Key words: Narrow perivitelline space, heterogenous zona pellucida, on going pregnancy, clinical 
pregnancy, ICSI outcomes.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 75 - 80, 2017
77
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Y văn đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng 
của PVS rộng và ZP nâu lên kết quả ICSI. Trứng 
có PVS rộng thường có tỷ lệ thụ tinh thấp hơn so 
với trứng có PVS bình thường (3,4). Tỷ lệ thụ tinh, 
tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ thai lâm sàng cũng thấp hơn 
ở nhóm trứng có ZP nâu (5). Chỉ có một nghiên 
cứu đánh giá kết quả TTON của các trường hợp 
trứng có PVS hẹp kết hợp với ZP không đồng nhất 
(1). Trong nghiên cứu này, mặc dù xuất hiện với 
tần số thấp (105/17000 chu kỳ IVF/ICSI, chiếm tỷ 
lệ 0,6%), những trường hợp trứng NPVS&HZP có 
kết quả điều trị thấp hơn so với những trường hợp 
bình thường. Tỷ lệ phôi tốt thấp hơn, tỷ lệ ca bị hủy 
chuyển phôi cao hơn đáng kể, tỷ lệ thai lâm sàng 
và tỷ lệ làm tổ thấp hơn nhưng không có ý nghĩa 
thống kê. Đối với các trường hợp ICSI, có 12/35 
trường hợp có thai lâm sàng sau chuyển phôi và 9 
trường hợp có trẻ sinh sống, 3 ca sảy thai sớm hoặc 
giữa thai kỳ. Không có trường hợp nào có thai lâm 
sàng trong các chu kỳ IVF cổ điển.
Thống kê tại IVFMĐ từ tháng 5/2014 đến tháng 
8/2015 cho thấy có 51 chu kỳ có trứng NPVS&HZP 
trên 49 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 1% (51/5091). Kết 
quả phôi học cho thấy tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phôi có 
chất lượng tốt thấp. Nghiên cứu này được thực hiện 
nhằm phân tích kết quả của TTON với kỹ thuật ICSI 
trên đối tượng bệnh nhân có trứng NPVS&HZP và so 
sánh với các trường hợp bình thường. Ngoài ra, kết 
quả nghiên cứu cũng cung cấp thêm dữ liệu lâm sàng 
cho những trường hợp trứng có bất thường hiếm này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Đoàn hệ hồi cứu.
2.2 Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân điều 
trị hiếm muộn tại IVFMD từ 5/2014 đến 8/2015.
• Tiêu chuẩn nhận: Bệnh nhân được chỉ định 
ICSI, tuổi <45, sử dụng trứng tự thân. Các bệnh 
nhân được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm I (NPVS&HZP): trứng sau khi loại bỏ các 
tế bào hạt và quan sát trên kính hiển vi soi nổi thấy 
có PVS hẹp, đối với trứng MII có thể cực lấn vào màng 
bào tương hoặc rất dẹt, khó phát hiện; màng ZP 
không đồng đều hoặc có hình tia (Hình 1 a-c). Các 
trường hợp trứng bất thường NPVS&HZP được xác 
định bởi hai chuyên viên phôi học có kinh nghiệm. 
- Nhóm II: trứng thu nhận từ những bệnh nhân 
chọc hút cùng ngày với nhóm I. Khi quan sát dưới 
kính hiển vi soi nổi, PVS nhìn thấy rõ ràng, trứng 
MII có PVS mở rộng, quan sát được thể cực, ZP 
sáng, đều đặn và nguyên vẹn (Hình 2 a-c). 
• Tiêu chuẩn loại:
- Các trường hợp có tinh trùng dị dạng nặng 
(đầu bất định 100%, globozoospermia).
Hình 1. Hình ảnh trứng ở giai đoạn GV (a), MI (b), MII (c) và hợp tử 2PN (d), phôi 4 tế bào (e), phôi 
8 tế bào (f) thu nhận từ trứng NPVS&HZP (Nguồn: IVFMĐ)
PB
Hình 2. Hình ảnh trứng ở giai đoạn GV (a), MI (b), MII (c) và hợp tử 2PN (d), phôi 4 tế bào (e), phôi 
8 tế bào (f) thu nhận từ trứng bình thường (Nguồn: IVFMĐ)
PB PV
NGUYỄN THỊ LIÊN THI, LÊ HOÀNG ANH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
78
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
- Tinh trùng thu nhận từ phẫu thuật (PESA, TESE).
- Các trường hợp trưởng thành trứng non trong 
ống nghiệm (IVM).
- Các trường hợp không có trứng nào được ICSI 
trong ngày chọc hút.
2.3 Yếu tố đánh giá kết quả 
- Yếu tố đánh giá kết quả chính: tỷ lệ thai diễn tiến.
- Yếu tố đánh giá kết quả phụ: tỷ lệ 2PN, tỷ lệ 
thụ tinh, tỷ lệ thoái hóa và tỷ lệ phôi tốt, tỷ lệ thai 
lâm sàng, tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ sẩy thai.
2.4 Phân tích số liệu
Các đặc điểm của chu kỳ điều trị được xử lý 
bằng phần mềm R. Kết quả được biểu diễn dưới 
dạng trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ %. Các 
đặc điểm tương ứng ở nhóm đối chứng được thống 
kê và so sánh với nhóm bất thường bằng t-test và 
chi-square test. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
khi p<0,05.
2.5 Đạo đức nghiên cứu: Đây là một 
nghiên cứu hồi cứu số liệu. Thông tin của bệnh 
nhân được ghi nhận và bảo mật do đó không gây 
ảnh hưởng đến bệnh nhân.
3. Kết quả
440 chu kỳ ICSI được nhận vào nghiên cứu, 
trong đó 46 chu kỳ có toàn bộ trứng NPVS&HZP, 
394 chu kỳ chọc hút cùng ngày và không có bất 
thường này. Đặc điểm bệnh nhân của hai nhóm 
được mô tả trong bảng 1, kết quả kích thích 
buồng trứng được mô tả trong bảng 2. Tổng số 
4124 trứng MII được ICSI, trong đó có 453 trứng 
NPVS&HZP, 3671 trứng không có đặc điểm này. 
Kết quả ICSI của nhóm I gồm tỷ lệ 2PN, tỷ lệ thụ 
tinh thấp hơn đáng kể so với nhóm II (53,2% so với 
69,6%, 62,9% so với 77,2%, p<0,05) (bảng 3). 
Tương tự, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ 
thai diễn tiến của nhóm I cũng thấp hơn đáng kể so 
với nhóm II (lần lượt 20,5%; 9,5% và 15,4% so với 
38,2%; 20,3% và 33,2%, p<0,05) (bảng 4).
4. Bàn luận 
NPVS&HZP là bất thường hiếm về hình thái 
trứng và xuất hiện ở cả trứng trưởng thành cũng 
như trứng chưa trưởng thành. Bất thường này xảy 
ra trên toàn bộ trứng thu nhận của một số ca 
điều trị TTON. Ở nhóm bất thường, 2/46 bệnh 
nhân đã từng có thai tự nhiên với một trẻ sinh 
Đặc điểm NPVS&HZP(n=46)
Bình thường
(n=394) Giá trị P
Tuổi (năm) 32,0 ± 3,7 33,1 ± 4,6 0,074
AMH (ng/ml) 4,8 ± 2,8 5,6 ± 3,9 0,088
BMI (kg/m2) 20,7 ± 2,0 20,9 ± 2,4 0,675
Thời gian vô sinh (năm) 6,9 ± 4,2 5,0 ± 3,4 0,015
Số chu kỳ điều trị IVF 1,5 ± 0,9 1,4 ± 0,8 0,667
Chỉ định TTON (%)
• Vô sinh nam
• GDTBT
• Tai vòi
• Rối loạn phóng noãn
• LNMTC
• CRNN
• Khác
23,9
8,7
19,6
4,3
2,2
37,0
4,3
32,9
13,8
19,9
11,7
2,8
12,5
6,4
(Kết quả biểu diễn theo trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ %, thống kê t-test dùng 
để so sánh giá trị trung bình giữa 2 nhóm)
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân giữa hai nhóm
Đặc điểm NPVS&HZP(n=46)
Bình thường
(n=394) Giá trị P
Thời gian KTBT (ngày) 8,6 ± 1,2 9,2 ± 1,6 0,013
Tổng liều FSH (IU) 2415,2 ± 668,4 2681,7 ± 897,2 0,052
Nồng độ Estradiol ngày trigger (pg/ml) 6115,3 ± 4620,6 6421,1 ± 6189,0 0,754
Nồng độ Progesterone ngày trigger 
(ng/ml) 1,4 ± 1,4 1,5 ± 3,3 0,796
Số trứng chọc hút (n) 13,0 ± 9,7 11,9 ± 6,4 0,419
Số noãn MII (n) 9,9 ± 9,2 9,3 ± 5,4 0,704
(Kết quả biểu diễn theo trung bình ± độ lệch chuẩn, thống kê t-test dùng để so sánh 
giá trị trung bình giữa 2 nhóm)
Bảng 2: Kết quả kích thích buồng trứng giữa hai nhóm
Đặc điểm NPVS&HZP(n=39)
Bình thường
(n=283) Giá trị P
Số phôi chuyển 2,4 ± 0,9 2,5 ± 0,8 0,903
Độ dày NMTC (mm) 11,9 ± 1,5 12,0 ± 1,6 0,769
Tỷ lệ thai lâm sàng (%, n) 20,5 (8/39) 38,2 (108/283) 0,033
Tỷ lệ làm tổ (%, n) 9,5 (9/95) 20,3 (141/694) 0,020
Tỷ lệ thai diễn tiến (%, n) 15,4 (6/39) 33,2 (94/283) 0,026
Tỷ lệ sảy thai (%, n) 12,5 (1/8) 5,6 (6/108) 0,402
(Kết quả biểu diễn theo trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc tỷ lệ %, thống kê t-test dùng 
để so sánh giá trị trung bình; thống kê chi-square test so sánh tỷ lệ %, giữa 2 nhóm).
Bảng 4: Kết quả lâm sàng giữa hai nhóm
Đặc điểm NPVS&HZP (n=453 trứng)
Bình thường
(n=3671 trứng) Giá trị P
Tỷ lệ 2PN (%, n) 53,2 (241) 69,6 (2555) 0,000
Tỷ lệ thụ tinh (%, n) 62,9 (285) 77,2 (2833) 0,000
Tỷ lệ thoái hóa (%, n) 7,1 (32) 7,5 (274) 0,833
Tỷ lệ phôi tốt (%, n)
N2
N3
N5
23,9 (11/46)
20,3 (25/123)
20,0 (4/20)
28,2 (87/308)
26,0 (370/1422)
24,0 (60/250)
0,663
0,203
0,895
(Kết quả biểu diễn theo tỷ lệ %, thống kê chi-square dùng để so sánh tỷ lệ %, giữa 2 nhóm)
Bảng 3: Kết quả ICSI giữa hai nhóm
sống, nguyên nhân dẫn đến bất thường trứng trên 
những bệnh nhân này vẫn chưa được hiểu rõ. Cho 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 75 - 80, 2017
79
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
đến nay, trong y văn chưa có nghiên cứu nào mô 
tả nguyên nhân dẫn đến bất thường này cũng như 
ảnh hưởng của nó đến kết quả thụ tinh của trứng 
sau ICSI, sự phát triển của phôi và khả năng làm 
tổ của phôi. 
Về dữ liệu phôi học và lâm sàng, chỉ có một 
nghiên cứu của nhóm tác giả Li và cs, 2014 (1) 
báo cáo kết quả điều trị trên các bệnh nhân 
có bất thường NPVS&HZP. Trong nghiên cứu 
này, khi thực hiện IVF cổ điển trên trứng có 
NPVS&HZP, 72,5% (29/40) trường hợp thất bại 
thụ tinh hoàn toàn, những ca còn lại có tỷ lệ 2PN 
và tỷ lệ thụ tinh lần lượt là 58,8% và 70,6%. Kết 
quả này cho thấy, mặc dù kết quả thụ tinh thấp 
hơn so với nhóm trứng bình thường (58,8% so với 
71,3%; 70,6% so với 83,4%, p<0,05) nhưng ở 
những trứng bất thường vẫn xảy ra sự tương tác 
giữa trứng và tinh trùng để dẫn đến quá trình thụ 
tinh. Vì vậy, bất thường này không làm mất đi 
hoàn toàn khả năng thụ tinh tự nhiên của trứng. 
Tuy nhiên, chất lượng phôi kém ở nhóm bệnh 
nhân này là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ không 
có phôi chuyển cao và không có ca nào có thai 
sau chuyển phôi từ IVF cổ điển. Đối với các chu 
kỳ thực hiện ICSI trong nghiên cứu này thì những 
trường hợp có trứng bất thường có tỷ lệ 2PN và 
tỷ lệ thụ tinh tương đương với nhóm trứng bình 
thường, tỷ lệ phôi chất lượng tốt thấp hơn có ý 
nghĩa thống kê, tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ làm tổ 
thấp hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê. Tác 
giả kết luận ICSI là phương pháp duy nhất giúp 
những phụ nữ với trứng bất thường NPVS&HZP 
có thai khi điều trị TTON.
Thông thường, việc đánh giá sự trưởng thành 
của trứng dựa trên sự hiện diện của thể cực thứ 
nhất. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở trứng có 
PVS hẹp, PB rất dẹt hoặc ẩn sâu vào màng bào 
tương trứng gây khó khăn cho việc nhận diện trứng 
trưởng thành (Hình 1c). Mặc dù số trứng MII được 
ICSI ở hai nhóm là tương đương, tỷ lệ 2PN tại 
thời điểm 16-18 giờ sau khi ICSI của nhóm trứng 
NPVS&HZP thấp hơn đáng kể so với nhóm bình 
thường. Tương tự, tỷ lệ thụ tinh (bao gồm những 
hợp tử 2PN và hợp tử không có sự hiện diện của 
2PN ở thời điểm này nhưng vẫn phân chia thành 
phôi) của nhóm trứng NPVS&HZP cũng thấp hơn 
đáng kể so với nhóm trứng không bị bất thường. 
Khó khăn trong đánh giá chính xác sự trưởng 
thành nhân cũng như tế bào chất của trứng ở thời 
điểm ICSI có thể là nguyên nhân dẫn đến kết quả 
thụ tinh kém hơn ở nhóm bất thường.
Hình ảnh phôi thu nhận được từ trứng 
NPVS&HZP thường có các phôi bào nén chặt, 
vùng không gian giữa các phôi bào không đủ lớn 
để quan sát rõ từng phôi bào (Hình 1 e-f). Cho 
đến nay, trong y văn chưa có một tiêu chuẩn đánh 
giá chất lượng cụ thể cho phôi từ những trứng bất 
thường này và việc áp dụng cùng tiêu chuẩn đánh 
giá phôi của đồng thuận Alpha (6) cho tất cả phôi 
ở hai nhóm có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ 
phôi tốt không khác biệt. 
Bên cạnh đó, khi chuyển phôi từ trứng 
NPVS&HZP, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ 
thai diễn tiến thấp hơn đáng kể. Tỷ lệ sảy thai cao 
hơn nhưng với số lượng ca ít, vẫn chưa tìm thấy sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê. Mặc dù với kết quả 
thai thấp hơn nhóm bình thường, một số bệnh nhân 
vẫn có thai lâm sàng cho thấy những phôi từ trứng 
bất thường vẫn có khả năng làm tổ bình thường. 
Bất thường NPVS&HZP có thể dẫn đến sự phát triển 
và khả năng làm tổ của phôi kém hơn so với trứng 
bình thường nhưng cho đến nay điều này vẫn chưa 
được khẳng định và cơ chế ảnh hưởng vẫn chưa 
được hiểu rõ. 
Về các yếu tố lâm sàng, không tìm thấy sự khác 
biệt về tổng liều FSH được sử dụng cho kích thích 
buồng trứng cũng như nồng độ estradiol, nồng độ 
progesterol ngày trigger giữa hai nhóm. Tuy nhiên, 
số liệu nghiên cứu cho thấy thời gian kích thích 
buồng trứng ở nhóm trứng NPVS&HZP ngắn hơn 
so với nhóm bình thường (8,6 ± 1,2 so với 9,2 ± 
1,6, p=0,013) nhưng số trứng chọc hút được và số 
trứng trưởng thành quan sát được lại tương đương. 
Do thiếu dữ liệu y văn về ảnh hưởng của thời gian 
kích thích buồng trứng lên dạng bất thường này và 
thiết kế nghiên cứu là hồi cứu, trong nghiên cứu 
này chúng tôi chỉ ghi nhận được có sự khác biệt về 
thời gian kích thích buồng trứng nhưng chưa khẳng 
định được sự ảnh hưởng và cơ chế dẫn đến bất 
thường ở nhóm NPVS&HZP.
5. Kết luận
Ảnh hưởng của bất thường hình thái trứng lên 
kết quả ICSI và kết quả thai hiện nay vẫn còn nhiều 
NGUYỄN THỊ LIÊN THI, LÊ HOÀNG ANH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
80
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
tranh cãi. Trứng bất thường NPVS&HZP có tỷ lệ 
2PN, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ lệ làm tổ 
và tỷ lệ thai diễn tiến thấp hơn có ý nghĩa thống 
kê so với trứng không có những bất thường này. 
Nguyên nhân cũng như cơ chế dẫn đến bất thường 
Tài liệu tham khảo
1. Li M, Ma SY, Yang HJ, Wu KL, Zhong WX, Yu GL, Chen ZJ. 
Pregnancy with oocytes characterized by narrow perivitelline space 
and heterogeneous zona pellucida: is intracytoplasmic sperm injection 
necessary? J Assist Reprod Genet. 2014 Mar; 31(3):285-94
2. Talbot P, Dandekar P. Perivitelline space: Does it play a role in blocking 
polyspermy in mammals? Microsc Res Tech. 2003 Jul 1;61(4):349-57. 
3. Xia P. Intracytoplasmic sperm injection: Correlation of oocyte grade 
based on polar body, perivitelline space and cytoplasmic inclusions 
with fertilization rate and embryo quality. Hum Reprod. 1997 Aug; 
12(8):1750-5.
4. Rienzi L, Ubaldi FM, Iacobelli M, Minasi MG, Romano S, Ferrero S, 
Sapienza F, Baroni E, Litwicka K, Greco E. Significance of metaphase 
II human oocyte morphology on ICSI outcome. Fertil Steril. 2008 
Nov;90(5):1692-700
5. Shi W, Xu B, Wu LM, Jin RT, Luan HB, Luo LH, Zhu Q, Johansson 
L, Liu YS, Tong XH. Oocytes with a Dark Zona Pellucida Demonstrate 
Lower Fertilization, Implantation and Clinical Pregnancy Rates in IVF/ICSI 
Cycles. PLoS One. 2014 Feb 24;9(2) 
6. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group Embryology. Istanbul consensus workshop on embryo 
assessment: proceedings of an expert meeting. Reprod Biomed Online. 
2011;22:632–646
trứng dạng này cần được tìm hiểu thêm. Trong 
khi đó, cần những biện pháp hỗ trợ đánh giá sự 
trưởng thành của trứng NPVS&HZP cũng như cải 
thiện hiệu quả ICSI cũng đáng được bàn luận và 
quan tâm.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfket_qua_icsi_cua_trung_co_khoang_quanh_noan_hep_va_mang_tron.pdf