Kết quả điều trị u trung thất sau bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

Nghiên cứu mô tả hồi cứu, cắt ngang, với các thông số trước, trong và sau mổ cùng kết quả giải phẫu bệnh lýđối với tất cả các trường hợp có chẩn đoán sau mổ là u trung thất sau được phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, từ tháng 1 năm 2015 tới tháng 12 năm 2018. Bao gồm 41 đối tượng, 18 nam và23 nữ. Độ tuổi trung bình 38,7±14,7 (8 – 68). Phát hiện bệnh tình cờ ở 14 ca (34,1%). Trong số 27 ca có triệu chứng, hay gặp nhất là đau ngực (53,7%). Kết quả chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từlồng ngực có giá trị chẩn đoán cao (100%), song có tới 34 ca chụp X-Quang ngực thường quy (82,9%) thấy rõ bờ khối u. Có 9 ca (22,0%) mổ nội soi hoàn toàn, 32 ca mổ nội soi hỗ trợ (78,0%). Kích thước u trung bình 5,59  1,95 cm (3-10). Tỉ lệ u lành tính chiếm 100 %. Cắt u thành công ở 100% các trường hợp, với 3 ca biến chứng (1 máu cục màng phổi, 1 ổ cặn màng phổi, 1 rò ống ngực) được điều trị khỏi. Thời gian phẫu thuật là 106,237,1 phút (60- 210). Thời gian rút dẫn lưu màng phổi là 4,5 1,8 ngày (2-12). Thời gian nằm viện sau mổ là 6,11,9 ngày (4-13). Phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị u trung thất sau là phương pháp an toàn, khả thi và kết quả tốt sau phẫu thuật với nhóm u trung thất sau được chỉ định

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị u trung thất sau bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị u trung thất sau bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

Kết quả điều trị u trung thất sau bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT SAU BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 45 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT SAU BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI 
LỒNG NGỰC TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Dương Trung Hiếu*, Phạm Hữu Lư** 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu mô tả hồi cứu, cắt ngang, với 
các thông số trước, trong và sau mổ cùng kết 
quả giải phẫu bệnh lýđối với tất cả các trường 
hợp có chẩn đoán sau mổ là u trung thất sau 
được phẫu thuật nội soi tại bệnh viện Hữu Nghị 
Việt Đức, từ tháng 1 năm 2015 tới tháng 12 
năm 2018. Bao gồm 41 đối tượng, 18 nam và23 
nữ. Độ tuổi trung bình 38,7±14,7 (8 – 68). Phát 
hiện bệnh tình cờ ở 14 ca (34,1%). Trong số 27 
ca có triệu chứng, hay gặp nhất là đau ngực 
(53,7%). Kết quả chụp cắt lớp vi tính và cộng 
hưởng từlồng ngực có giá trị chẩn đoán cao 
(100%), song có tới 34 ca chụp X-quang ngực 
thường quy (82,9%) thấy rõ bờ khối u. Có 9 ca 
(22,0%) mổ nội soi hoàn toàn, 32 ca mổ nội soi 
hỗ trợ (78,0%). Kích thước u trung bình 5,59 
1,95 cm (3-10). Tỉ lệ u lành tính chiếm 100 %. 
Cắt u thành công ở 100% các trường hợp, với 3 
ca biến chứng (1 máu cục màng phổi, 1 ổ cặn 
màng phổi, 1 rò ống ngực) được điều trị khỏi. 
Thời gian phẫu thuật là 106,2 37,1 phút (60-
210). Thời gian rút dẫn lưu màng phổi là 4,5 
1,8 ngày (2-12). Thời gian nằm viện sau mổ là 
6,1 1,9 ngày (4-13). Phẫu thuật nội soi lồng 
ngực điều trị u trung thất sau là phương pháp 
an toàn, khả thi và kết quả tốt sau phẫu thuật 
với nhóm u trung thất sau được chỉ định. 
Từ khóa: u trung thất sau, phẫu thuật nội 
soi lồng ngực. 
RESULTS OF VIDEO ASSISTED 
THORACOSCOPIC SURGERY APPROACH 
TO POSTERIOR MEDIASTINAL TUMOR 
AT VIET DUC UNIVERSITY HOSPITAL 
SUMMARY* 
Retrospective descriptive analysis, of the 
parameters before, during and after surgery and 
the anatomy-pathological results for all 
postoperative diagnosis of posterior mediastinal 
tumors were treated with endoscopic thoracic 
surgery at Viet Duc University hospital from 
01/2015 to 12/2018. There were 41 subjects, 18 
male and 23 female. Mean age 38,7±14,7 (8-
68). Occasional cases were detected in 14 cases 
(34,1%). Of the 27 cases with symptoms, the 
most common are chest pain (53.7%). Result 
CT and MRI have a high diagnostic value 
(100%), but there were 34 chest x-rays (82,9%) 
saw shore of the tumor. There are 9 cases 
(22,0%) of complete thoracoscopic surgery and 
32 cases (78,0%) of video assisted 
thoracoscopic surgery. Mean tumor size is 5,59 
 1,95 cm (3 -10). The incidence of benign 
tumors is 100%. Successful tumor removal in 
100% of cases, with 3 complications (1blood 
clotted of pleura,1 empyema, 1 thoracic duct 
fistula) were treated. Surgical time is 
* BV Đa khoa Tỉnh Bắc Giang 
** BV HN Việt Đức, Trường ĐH Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Phạm Hữu Lư 
Ngày nhận bài: 01/07/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/07/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 46 
106,2 37,1minutes (60-210). Time to pleural 
drain stay is 4,5 ±1,8 days (2-12). The length of 
hospital stay after surgery was 6,1 1,9 days (4-
13). Video assisted thoracoscopic surgery 
excision of posterior mediastinal tumors is a 
method of safe, feasible and bring good results 
after surgery with the indicated tumors. 
Key words: posterior mediastinal tumor, 
video assisted thoracoscopic surgery. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
U trung thất sau có thể là u nguyên phát 
hoặc thứ phát, lành tính hoặc ác tính, xuất hiện 
ở mọi lứa tuổi, chiếm 25% bệnh lý u trung thất. 
Chủ yếu là các u có nguồn gốc từ u thần kinh, 
nang phế quản, u sụn [1]. Khối u thường phát 
triển chậm trong một thời gian dài mà không có 
triệu chứng nên bệnh thường được phát hiện 
tình cờ (> 50%) [2]. Chẩn đoán xác định bệnh 
chủ yếu dựa vào chụp cắt lớp vi tínhvà cộng 
hưởng từlồng ngực.Phương pháp điều trị chủ 
yếu là phẫu thuật, trong đó có vai trò của phẫu 
thuật nội soi lồng ngực. Hiện nay, phẫu thuật 
nội soi lồng ngực ngày càng phát triển, mang 
lại nhiều lợi ích như giảm đau sau mổ, sẹo mổ 
thẩm mỹ, thời gian nằm viện ngắn, người bệnh 
nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường 
[3].Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi lồng ngực 
đang được nhiều trung tâm trong cả nước ứng 
dụng. Tại khoa Phẫu thuật tim mạch và lồng 
ngực – Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, phẫu 
thuật nội soi lồng ngực điều trị u trung thất sau 
đã trở thành thường quy và mang lại kết quả tốt 
với những u trung thất sau có chỉ định. Nghiên 
cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị u trung thất 
sau bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại bệnh 
viện hữu nghị Việt Đức. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu, 
cắt ngang, với các thông số trước, trong và sau 
mổ cùng kết quả giải phẫu bệnh lý, dựa trên hồ 
sơ bệnh án tại phòng lưu trữ hồ sơcủa bệnh 
việnhữu nghị Việt Đức trong thời gian 04 năm 
(từ 01/2015 tới 12/2018).Đối tượng nghiên cứu 
gồm tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng 
phẫu thuậtnội soi lồng ngực vớichẩn đoán sau 
mổ là u trung thất sau,có kết quả giải phẫu bệnh 
sau mổ là u nguyên phát tại trung thất sau. Các 
biến số nghiên cứu bao gồm các thông số trước, 
trong và sau mổ. Xử lý số liệu bằng phần mềm 
thống kê y học SPSS 20.0 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Trong giai đoạn 01/2015 – 12/2018, có 41 
đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu. Phân 
tích hồ sơ của 41 bệnh nhân này, chúng tôi thu 
được một số kết quả như sau:18 nam giới 
(43,9%), 23 nữ giới (56,1%). Tỷ lệ nam/nữ = 
0,8. Tuổi trung bình khi phẫu thuật là 38,7±14,7 
(8-68).Hoàn cảnh phát hiện bệnh: Do khám sức 
khỏe định kỳ hay tình cờ phát hiện bệnh khi 
không có triệu chứng là 14 ca (34,1%), có triệu 
chứng là 27 ca (65,9%) như Bảng 1. 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT SAU BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 47 
Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng khi phát hiện bệnh (n = 27) 
Triệu chứng n % 
Đau ngực 22 53,7 
Đau lưng 7 17,1 
Khó thở 6 14,6 
Ho 3 7,3 
Hội chứng Horner 2 4,9 
Hội chứng Pancoast 2 4,9 
Triệu chứng khác 2 4,9 
Nhận xét:Không có triệu chứng nào đặc hiệu của 
bệnh lý u trung thất sau; đau ngực chiếm nhiều 
nhất (53,7%), và có thể có hơn 2 triệu chứng trên 
cùng 1 bệnh nhân. 
Tổng số 41 kết quả X-quang ngực thường quy, có 
4 trường hợp không phát hiện rõ tổn thương 
(9,8%). Có 36 ca chụp cắt lớp vi tính lồng ngực 
(87,8%), 25 ca chụp cộng hưởng từ lồng ngực 
(61,0%). 20 trường hợp chỉ định chụp cả cắt lớp 
và cộng hưởng từ ngực (48,8%), đa số là chụp cắt 
lớp vi tính lồng ngực trước, do nghi nghờ u thần 
kinh trung thất sau và sự xâm lấn ống tủy nên 
chụp thêm cộng hưởng từ lồng ngực. 
Kích thước trung bình khối u trên phim chụp cắt 
lớp vi tính lồng ngực là 5,59 1,95 cm (3–
10;95%CI: 4,97 – 6,20). Có 19 trường hợp thấy 
dạng đặc (46,3%),11 dạng nang (26,8%), 6 dạng 
hỗn hợp (14,6%). Có 11 trường hợp (26,8%) 
được sinh thiết xuyên thành trước mổ dưới hướng 
dẫn của chụp cắt lớp vi tính. 
Bảng 2: Phương pháp phẫu thuật cắt u (n = 41) 
Phương pháp phẫu thuật n 
% theo kích thước u trên cắt lớp vi tính lồng ngực 
p 
u ≥ 6 cm u < 6 cm 
Mổ nội soi hoàn toàn 9 22,2 77,8 
0,441 
Mổ nội soi hỗ trợ 32 43,8 56,2 
Nhận xét: Với kích thước u < 6cm trên phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực thì tỷ lệ mổ nội soi hoàn 
toàn nhiều hơn mổ nội soi hỗ trợ nhưng không có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (theo kiểm định 
2 phía, p > 0,05). 
Trong số 9 ca mổ nội soi hoàn toàn thì chỉ có 1 ca (11,1%) phải mổ mở ngực nhỏ3cm để lấy 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 48 
u. Còn lại là lấy qua túi nilon đựng bệnh phẩm. 
Với 32 ca mổ nội soi hỗ trợ (VATS) có 10 
ca (31,3%) mổ lấy u qua nội soi một lỗ 
(Uniportal), trong đó với kích thước u ≥ 6 cm thì 
chỉ có 3 trong tổng số 10 ca (30%) dùng phương 
pháp phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ 
(Uniportal VATS). Còn với u < 6 cm có 7/10 
ca(70%) mổ nội soi 1 lỗ (Bảng 2).Trong mổ có 1 
ca u dạng nang nằm trong lớp cơ thực quản, được 
khâu trực tiếp kết hợp với nhịn ăn uống 7 ngày 
sau mổ, kết quả tốt, không có biến chứng rách 
thực quản. 
Thời gian phẫu thuật trung bình là 
106,2 37,1 phút (60-210). 100% được đặt ống 
nội khí quản 2 nòng (Carlens) làm xẹp phổi 
giúp thuận lợi cho phẫu thuật viên và quá trình 
phẫu thuật. 
Bảng 3: Kết quả mô bệnh học sau mổ (n = 41) 
Kết quả mô bệnh học n % 
Schwannoma 
Ganglioneuroma 
Neurofibroma 
Neurilemoma 
Paraganglioma 
Bệnh tăng sản hạch (Castleman) 
Nang phế quản 
U bạch mạch (Lymphangioma) 
Nang nguồn gốc ruột 
Nang chảy máu 
Nang xơ hóa 
U sụn 
Viêm hoại tử 
18 
7 
2 
1 
1 
1 
5 
1 
1 
1 
1 
1 
1 
43,9 
17,1 
4,9 
2,4 
2,4 
2,4 
12,2 
2,4 
2,4 
2,4 
2,4 
2,4 
2,4 
Kết quả giải phẫu bệnh lý (Bảng 3): 100% u 
trung thất sau là lành tính, u thần kinh chiếm tỷ lệ 
cao nhất (70,7%). 
Biến chứng sau mổ xảy ra ở3 trường hợp 
(7,3%), gồm:1 máu cục màng phổiphải mổ lại lấy 
máu cục, cầm máu;1 ca ổ cặn màng phổi được 
mổ lại làm sạch khoang màng phổi; 1 ca rò dưỡng 
chấp do tổn thương ống ngựcđược mổ lại khâu 
đường rò, kết quả sau mổ ổn định. 
Có 13 ca sử dụng Morphin sau mổ (31,7%), 
trong đó có 3 ca (23,1%) là mổ nội soi hoàn toàn 
và 10 ca (76,9%) mổ nội soi hỗ trợ. 
Thời gianrút dẫn lưu màng phổi là 4,5 
1,8 ngày (2-12). Có 1 ca tràn dịch màng phổi 
sau mổ được xoay ống dẫn lưu kết quả tốt; đa 
số được rút sớm sau 3-4 ngày (53,7%) tập lý 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT SAU BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 49 
liệu pháp hô hấp. 
Thời gian nằm viện sau mổ là 6,1 1,9 ngày 
(4-13), không có ca nhiễm trùng vết mổ nào. 
IV. BÀN LUẬN 
Bệnh lý u trung thất sau:Tỷ lệ phát hiện 
bệnh lý u trung thất sau do tình cờ hoặc do khám 
sức khỏe định kỳ là 34,1%, thấp hơn so với 
nghiên cứu của Li Y and Wang J (2013) với 
72,4% ở Trung Quốc [2]. Điều này có thể do 
công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của nước ta 
vẫn còn hạn chế. Trong tương lai với nhóm bệnh 
không có triệu chứngcó thể phát hiện và chẩn 
đoán u trung thất sau khi khối u còn nhỏ, chưa 
gây ra sự chèn ép, xâm lấn các thành phần xung 
quanh sẽ dễ dàng hơn trong phẫu thuật nội soi 
lồng ngực mang lại lợi ích và kết quả tốt hơn cho 
người bệnh.Tỷ lệ nam/nữ = 0,8. Tuổi trung bình 
khi phẫu thuật là 38,7±14,7 (8-68)phần lớn là độ 
tuổi lao động, nhóm đối tượng này có điều kiện đi 
khám sức khỏe định kỳ phát hiện bệnh sớm. 
Nghiên cứu của Tao Shen (2016)[4]thì tuổi trung 
bình là 44 - tỷ lệ nam/nữ là 1,04.X-quang ngực 
thẳng thường quy 34 ca (82,9%) có thể thấy rõ bờ 
khối u nhưng chỉ có 1 ca trong số này có chụp X-
quang ngực nghiêng để xác định là u trung thất 
sau. Thông thường, trước khi chụp cắt lớp vi tính 
hay cộng hưởng từ lồng ngực thì phim chụp X-
quang ngực nghiêng có giá trị xác định sơ bộ vị 
trí u trong lồng ngực. Tuy nhiên, cũng nhiều 
trường hợp u lẫn trong bóng tim hay vòm hoành 
khó xác định, nên khi nghi ngờ u trung thất sau 
tốt nhất nên chỉ định chụp cắt lớp vi tính hay 
cộng hưởng từ lồng ngực để chẩn đoán xác định. 
Chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật:Kích 
thước khối u trên phimchụp cắt lớp vi tính là 5,59 
 1,95 cm, nhỏ nhất là3 cm và lớn nhất là 10 cm. 
Kích thước khác nhau như vậy thường liên quan 
đặc điểm, tính chất khối u. Với nang trung thất 
thường có kích thước lớn hơn u thần kinh.Theo 
Yun Li và Jun Wang (2012)[2], với kích thước u 
> 6 cm có thể kéo dài thời gian phẫu thuật lên 
1,87 lần, làm tăng lượng máu mất 2,01 lần, và 
làm tăng tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật lên 1,84 
lần.Với kích thước u < 6 cm thì tỷ lệ mổ nội soi 
hoàn toàn là 7 ca (28%), mổnội soi hỗ trợ là 18 ca 
(72%). Còn với u ≥ 6 cm thì tỷ lệ mổ nội soi hoàn 
toàn chỉ có 2 ca (12,5%), mổnội soi hỗ trợ là 14 ca 
(87,5%). Như vậy đối với mổ nội soi hoàn toàn, 
kích thước u ảnh hưởng lớn đến quyết định lựa 
chọn phương pháp này đòi hỏi kinh nghiệm của 
phẫu thuật viên, vị trí đặt trocar phù hợp vị trí u 
trong trung thất. Việc đặt trocar trong phẫu thuật 
phụ thuộc vào vị trí của khối u trong trung thất 
sau, Sasaki và cs (Nhật Bản) đã đưa ra công thức 
đặt trocar nhằm tạo không gian làm việc tốt nhất 
cho các thao tác phẫu thuật [5]. Trong nhóm này, 
trường hợp nang phế quản kích thước 5,2 cm có 
thành nằm trong cơ thực quản khi phẫu tích cắt u 
đã được khâu lại trên nội soi, kết quả sau mổ tốt. 
Trường hợp còn lại là khối u có giải phẫu bệnh sau 
mổ là Ganglioneuroma, kích thước 6,1 x 8,0 cm có 
nhiều mạch tân tạo, dính vào các khoang liên sườn 
được mở ngực nhỏ 3 cm để lấy u. Theo Phạm Hữu 
Lư và cộng sự (2013) [6]: Những trường hợp khối 
u dính nhiều vào tổ chức xung quanh thì nhất thiết 
nên tiến hành mở ngực tối thiểu giúp cho việc lấy 
khối u được dễ dàng, đảm bảo cho cuộc mổ được 
tiến hành an toàn.Tác giả cũng chỉ phương pháp 
cắt lấy khối u từng phần trong phẫu thuật bằng dao 
điện sẽ dễ dàng hơn trong một số trường hợp u 
thần kinh trung thất sau. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 50 
Đối với nhóm mổ nội soi hỗ trợ thì tỷ lệ gần 
như tương đương nhau, có thể thấy xu thế hiện 
nay mổ nội soi hỗ trợ là phương pháp tối ưu, an 
toàn, hiệu quả cao. Với u ≥ 6 cm, tỷ lệ mổ nội soi 
hỗ trợ là 43,8%. TheoCelalettin I Kocaturk 
(2017)[7]có 37,9% được mổ nội soi hỗ trợvới u 
kích thước 5,19 2,4 cm. Trong nghiên cứu có 2 
ca u kích thước lớn nhất là 10 cm đều được thực 
hiện thành công nhờ mổ nội soi hỗ trợ với đường 
mở ngực nhỏ 5cm. 
Trong 32 ca mổ nội soi hỗ trợ có 10 ca 
(31,3%) phẫu thuật lấy u qua nội soi 1 lỗ 
(Uniportal)cho kết quả sau mổ tương tự nhóm mổ 
nội soi hỗ trợ thông thường. Các dụng cụ nội soi 
đều qua 1 vết rạch, giảm số lượng vết rạch da, 
thẩm mỹ cao, giảm đau sau phẫu thuật,dẫn lưu 
sau mổ có thể đặt trực tiếp qua lỗ vết mổ Luca 
Bertolaccini (2017) [8] cũng đã chứng minh lợi 
thế của phẫu thuật nội soi một lỗ trong tương lai 
sẽ còn ứng dụng và phát triển hơn nữa. 
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi không 
gặp trường hợp nào khối u thần kinh trung thất sau 
có một phần u nằm chèn ép tủy (u Dumbell). 
Tỷ lệ sinh thiết khối u trước mổ dưới hướng 
dẫn của chụp cắt lớp vi tính chỉ có 26,8%, có thể 
việc sinh thiết khối u trước mổ có nhiều trở ngại 
như chẩn đoán trên phim cắt lớp là u dạng nang, 
vị trí khối u nằm gần các mạch máu lớn, hoặc 
nguy cơ chảy máu, tràn khí, viêm dính sau 
chọc sinh thiết. Townsend và cộng sự (2012) 
[9]khuyến cáo nên chỉ định phẫu thuật nội soi để 
sinh thiết chẩn đoán trong mổ với một số loại u 
trung thất thường gặp. 
Kết quả phẫu thuật:Tất cả 41 trường hợp 
mổ cắt u trung thất, không có trường hợp nào tử 
vong. Thời gian mổ trung bình là 106,2 37,1 
phút. Thời gian ngắn nhất 60 phút và lâu nhất là 
210 phút. Thời gian dài nhất là ca u kích thước 10 
cm dính chặt vào thành ngực sau. Sau mổ có 28 
ca chỉ dùng giảm đau Non – steroid, không cần 
dùng Morphin; 3 ca trong số 13 ca có dùng kết 
hợp cả Morphin là mổ nội soi hoàn toàn, điều này 
cho thấy nhóm mổ nội soi hoàn toàn ít đau hơn 
nhóm mổ nội soi hỗ trợ, giảm đau sau mổ tốt 
cũng là để bệnh nhân tập thở và thực hiện lý liệu 
pháp hô hấp tốt. Edmond Cohen (2011) [10] cũng 
có chung nhận định như vậy, nhất là với bệnh 
nhân già yếu. 
Thời gian dẫn lưu sau mổ trung bình 4,5 
1,8 ngày, thời gian ngắn nhất là 2 ngày và dài 
nhất là 12 ngày. Thời gian điều trị sau mổ trung 
bình 6,1 1,9 ngày, thời gian ngắn nhất là 4 ngày, 
dài nhất là 13 ngày. Ghi nhận sau mổ có 3 trường 
hợp tai biến chiếm 7,3%. Trong đó, có 1 trường 
hợp máu cục màng phổi, 1 ca ổ cặn màng phổi và 
1 trường hợp tổn thương ống ngực gây tràn dịch 
bạch huyết phải mổ lại, kết quả sau mổ tốt.Yun Li 
và Jun Wang (2012) cũng có nhận xét tương tự 
như vậy, với thời gian mổ 127,2 phút, thời gian 
rút dẫn lưu 2,72 ngày, thời gian nằm viện 5,19 
ngày, có 5 trường hợp chuyển mổ mở, 7 trường 
hợp biến chứng[2]. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật nội soi lồng ngực là phương 
pháp hiệu quả, an toàntrong điều trị bệnh lý u 
trung thất sauvới nhóm bệnh nhân được lựa chọn 
tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức với kết quả tốt 
và ít biến chứng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Công Minh (2014). Cập nhật 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT SAU BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 51 
điều trị các bệnh lồng ngực trung thất mạch máu, 
Nhà xuất bản y học, thành phố Hồ Chí Minh. 
2. Li Y and Wang J (2013). Experience of 
video-assisted thoracoscopic resection for 
posterior mediastinal neurogenic tumours: a 
retrospective analysis of 58 patients. ANZ J Surg, 
83(9), 664-668. 
3. Rolf Gilbert C.I and et al (2012). The 
Mediastinum. Minimally Invasive Thoracic and 
Cardiac Surgery. Minimally Invasive Thoracic 
Surgery, Springer - Verlag Berlin Heidelberg, 
235 - 304. 
4. Shen T, Bao X and Alfille P.H (2016). 
Perioperative complications in adults with a 
posterior mediastinal mass: a retrospective 
observational cohort study. Can J Anaesth, 63(4), 
454-460. 
5. Sasaki M, Hirai S, Kawabe M et al 
(2005). Triangle target principle for the 
placement of trocars during video-assisted 
thoracic surgery. Eur J Cardiothorac Surg, 27(2), 
307-312. 
6. Phạm Hữu Lư, Nguyễn Hữu Ước, Đoàn 
Quốc Hưng et al (2013). Kết quả điều trị u trung 
thất bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) 
tại bệnh viện Việt Đức. Tap chí phẫu thuật Tim 
mạch và Lồng ngực Việt Nam, 6(3), 28 - 32. 
7. Kocaturk C. I, Sezen C. B, Aker C et al 
(2017). Surgical approach to posterior 
mediastinal lesions and long-term outcomes. 
Asian Cardiovasc Thorac Ann, 25(4), 287-291. 
8. Bertolaccini Luca, Terzi Alberto and Viti 
Andrea (2016). Why should we prefer the single 
port access thoracic surgery? Journal of 
visualized surgery, 2, 43-43. 
9. Courtney M. Townsend et al (2012). The 
Mediastinum. Sabiston textbook of surgery: The 
biological basis of modern surgical pratice, 19th 
edition, Elsevier & Saunders, 1600 – 1611. 
10. Cohen E (2011). Anesthesia for video-
assisted thoracoscopic surgery. Principles and 
Practice of Anesthesia for Thoracic Surgery, 
Springer, 331 – 339. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_u_trung_that_sau_bang_phau_thuat_noi_soi_lo.pdf