Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol
Đặt vấn đề: U máu ở trẻ em là u lành mạch máu phổ biến ở bệnh nhi và thường được điều trị bằng
propranolol. Chúng tôi mô tả kinh nghiệm về đáp ứng với điều trị, tác dụng phụ (TDP) và tỉ lệ tái phát ở 151
bệnh nhi u máu nặng được điều trị bằng propranolol.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol uống.
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ 151 bệnh nhi bị u máu nặng được điều trị
Propranolol uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 đến tháng 1/2020, thu thập thông tin về chỉ định
điều trị, sự thu nhỏ u máu, tái phát u máu và TDP của Propranolol
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 134 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U MÁU NẶNG Ở TRẺ EM BẰNG PROPRANOLOL Diệp Quế Trinh1, Phạm Thụy Diễm1, Đoàn Bảo Duy1, Trương Nguyễn Hoài Linh2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: U máu ở trẻ em là u lành mạch máu phổ biến ở bệnh nhi và thường được điều trị bằng propranolol. Chúng tôi mô tả kinh nghiệm về đáp ứng với điều trị, tác dụng phụ (TDP) và tỉ lệ tái phát ở 151 bệnh nhi u máu nặng được điều trị bằng propranolol. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol uống. Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ 151 bệnh nhi bị u máu nặng được điều trị Propranolol uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 đến tháng 1/2020, thu thập thông tin về chỉ định điều trị, sự thu nhỏ u máu, tái phát u máu và TDP của Propranolol. Kết quả: Chúng tôi phân tích 151 trường hợp u máu bao gồm 102 nữ và 49 nam. Tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng propranolol uống với liều 2 mg/kg/ngày. Điều trị bắt đầu từ 1,1 đến 10 tháng tuổi. Tuổi trung bình điều trị là 3,3 ± 1,8 tháng. Thời gian điều trị trung bình là 7,3 ± 2,4 tháng. Đáp ứng điều trị tuyệt vời chiếm 49% bao gồm về giảm hơn 50% thể tích u máu, giảm hơn 50% màu sắc u, cải thiện hoàn toàn biến chứng, không di chứng và thân nhân hài lòng đến rất hài lòng. Những yếu tố cho đáp ứng điều trị tốt là tuổi bắt đầu điều trị sớm trước 3 tháng tuổi, vị trí u máu vùng ngoài mặt, u máu dạng nông và hỗn hợp, u máu dạng phân đoạn (p <0,05). Tác dụng phụ nghiêm trọng của Propranolol là 2%, nhẹ là 8%. Tỉ lệ tái phát u máu là 8,8%. Các yếu tố dự đoán tái phát là thời gian điều trị, u máu vùng mặt, u máu dạng sâu, u máu phân đoạn. Kết luận: Propranolol rất hiệu quả trong việc làm giảm thể tích, màu sắc u cũng như cải thiện biến chứng của u máu nặng ở trẻ em. Điều trị sớm bằng Propranolol là lựa chọn đầu tiên và phù hợp cho bệnh nhân u máu nguy cơ cao. Từ khóa: u máu trẻ em, propranolol đường uống ABTRACT AN OBSERVATIONAL STUDY ON INFANTILE SEVERE HEMANGIOMAS TREAMENT OUTCOMES WITH ORAL PROPRANOLOL Diep Que Trinh, Pham Thuy Diem, Đoan Bao Duy, Truong Nguyen Hoai Linh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 134 - 140 Background: Infantile hemangioma (IH) is a common benign vascular tumor in pediatric patients and is commonly treated with propranolol. We describe our experiences with response to treatment, side effects and relapse in 151 IHs treated with propranolol. Objectives: To identify effectiveness of oral propranolol in infants with severe hemangiomas. Methods: We retrospectively reviewed the records of 151 infantile severe hemangioma patients who were treated with oral propranolol in Children’s Hospital 1 from June 2010 to January 2020, collected information on sociodemographic data, treatment indications, IH involution, IH relapse, and treatment side effects. Results: We analyzed 151 IHs, correspononding to 102 girls and 49 boys. All patients were treated with systemic propranolol at a dose of 2 mg/kg/day. Treatment was started between the ages of 1.1 and 10 months. The average age was 3.3 ± 1.8 month old. The mean time of treatment was 7.3 ± 2.4 months. An estimated reduction 1Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Diệp Quế Trinh ĐT: 0908552152 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 135 of more than 50% of the volume of the hemangioma. An excellent response was 49% characterized by an estimated reduction of more than 50% of the volume of the hemangioma; 50% clearing of the lesion (color fading); recovery of functional deficit or resolution of bleeding or ulceration; non residual effects and a parent satisfaction score between 4 and 5. The following predictive factors of excellent response were age at initiation of treatment with the younger than 3 months, nonfacial IH location, superficial and combined IH, segmental IH (p <0.05). The serious side effects were 2% and mild side effects were 8%. Rebound growth was noted in 8.8%. The predictive factors of IH relapse were duration of propranolol treatment less than 6 months, facial IH, deep IH, segmental IH. Conclusions: Oral propranolol was clinically effective in reducing in the volume, color and improving complicated symptoms of IHs. Particularly for early treatment with oral propranolol was a first line therapy in most patients with high-risk IH. Keywords: infantile hemangiomas, oral propranolo ĐẶT VẤN ĐỀ U máu trẻ em là những bất thường do sự tăng sinh tế bào nội mô mạch máu. U máu là u lành tính thường gặp nhất ở trẻ nhỏ với xuất độ từ 4-10% và tỉ lệ cao hơn ở trẻ sinh non(1). Khoảng 80% các tổn thương được tìm thấy ở vùng mặt và cổ(2). U máu gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỉ lệ 3:1(1). Hầu hết u máu trẻ em tự biến mất và không cần điều trị. Tuy nhiên, các u máu nghiêm trọng cần chỉ định điều trị như u máu ở đường thở phát triển nhanh, chèn ép gây suy hô hấp đe dọa tử vong, u máu vùng quanh mắt gây che chắn tầm nhìn hoặc u máu có biến chứng loét nhiễm trùng, chảy máu thường để lại dư chứng mất thẩm mỹ. Năm 2008, trong quá trình điều trị bệnh cơ tim phì đại trên bệnh nhân có kèm theo u máu bằng Propranolol, Léauté-Labrèze C đã phát hiện sự cải thiện rất nhiều về kích thước và màu sắc của u máu trên bệnh nhân so với diễn tiến tự nhiên(3). Propranolol có tác dụng ức chế sự phát triển và gây ra sự thoái triển của các u máu trẻ em. Năm 2014, Propranolol đường uống đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt như là liệu pháp đầu tiên cho u máu nguy cơ(4). Ngày nay, liệu pháp Propranolol đường uống điều trị u máu đã làm thay đổi ngoạn mục chiến lược điều trị. Các tác giả đưa ra các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị như giới tính, tuổi bắt đầu điều trị, thời gian điều trị, tuổi kết thúc điều trị, đặc điểm lâm sàng của u máu. Nghiên cứu của Zhang L(5) cho thấy với những bệnh nhân nhỏ tuổi nhất có tỉ lệ đáp ứng cao nhất. Sự khác biệt về hiệu quả điều trị không liên quan đến giới tính và đặc điểm lâm sàng của u máu. Điều trị u máu nặng với Propranolol tương đối an toàn, các nghiên cứu ghi nhận tác dụng phụ (TDP) của Propranolol với tỉ lệ 2 - 9%, chủ yếu là TDP nhẹ(6). Tỉ lệ tái phát u máu sau ngưng thuốc cũng được thống kê khoảng 19 - 25% và các yếu tố liên quan tái phát u máu còn gây nhiều bàn cãi. Nghiên cứu của Shah SD năm 2016(2) với khoảng 25% trường hợp bị tái phát u. Tỉ lệ tái phát ở những bệnh nhân ngừng điều trị trước 9 tháng tuổi là cao hơn so với ngừng điều trị sau 12 tháng tuổi. Giới tính nữ, vị trí u máu ở vùng đầu và cổ, hình thái u phân đoạn, u dạng sâu hoặc hỗn hợp có liên quan đến sự tái phát. Năm 2018, chúng tôi phân tích 57 trường hợp trẻ bị u máu(7), tất cả bệnh nhân đều đáp ứng với điều trị, đáp ứng ngoạn mục là 53% trường, đáp ứng tốt là 11%, khá 34%. Thời gian uống Propranolol dài hơn 6 tháng sẽ cho đáp ứng ngoạn mục là 71% so với 26% ở nhóm uống thuốc dưới 6 tháng. Chúng tôi không ghi nhận có TDP nghiêm trọng. Tỉ lệ tái phát sau ngưng Propranolol là 13%. Những yếu tố liên quan đến đáp ứng thuốc và tỉ lệ tái phát u là u máu phân đoạn, pha tăng sinh của u máu, vị trí u máu, tuổi bắt đầu dùng thuốc, thời gian dùng thuốc vẫn chưa khảo sát triệt để do cỡ mẫu còn nhỏ. Do đó, mục tiêu nghiên cứu đặt ra: Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 136 - Xác định hiệu quả, an toàn của Propranolol trong điều trị u máu nặng ở trẻ em và các yếu tố liên quan đáp ứng điều trị. - Đánh giá tái phát u máu và các yếu tố liên quan tái phát u máu sau ngưng thuốc 6 tháng. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Tất cả các hồ sơ bệnh án được chẩn đoán u máu nặng điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 6/2016 đến 1/2020. Sang thương u máu thỏa điều kiện: U máu đường thở chèn ép, u máu có biến chứng loét khó lành, chảy máu, cản trở tầm nhìn, u máu vùng thẩm mỹ (vùng đầu mặt cổ) đường kính ≥5 cm, u máu tạng có triệu chứng. Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh nhân điều trị cùng lúc nhiều liệu pháp. Hồ sơ không ghi nhận đầy đủ. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. Phương pháp thực hiện Lập danh sách bệnh nhân và thu thập số liệu. Khảo sát bệnh án bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu. Đánh giá kích thước trước dùng Propranolol, tại thời điểm ngưng Propranolol và sau điều trị Propranolol đến 6 tháng. Ghi nhận độ giảm kích thước qua thang đo và qua siêu âm với các tỉ lệ 75%, 50%, 25%, 0% so với ban đầu. Màu sắc đánh giá theo thang điểm VAS (Visual Analogue Scale) (Hình 1). Chúng tôi ghi nhận sự thay đổi về màu sắc của các tổn thương trên thang điểm trực quan (VAS) từ 1 đến 10 bằng cách so sánh các hình ảnh theo dõi với điều trị trước khi chụp ảnh cơ bản. Chúng tôi đánh giá đáp ứng chung tốt và chưa tốt. Đáp ứng chung tốt khi cả 5 tiêu chí đáp ứng về thể tích u máu (A) giảm >50% so với trước điều trị. Màu sắc thay đổi so với trước điều trị giảm từ 1 bậc trở lên (B). Cải thiện hoàn toàn biến chứng u máu (C). Mức độ hài lòng thân nhân từ rất hài lòng đến hoàn toàn hài lòng (D). Không có di chứng (E). Độ hài lòng người nhà được chia theo thang điểm từ 0 đến 5: Không hài lòng, hài lòng rất ít, hài lòng ít, khá hài lòng, rất hài lòng, hoàn toàn hài lòng. Hình 1: Thang điểm màu VAS Các TDP phân 2 nhóm nhẹ (nôn ói, tiêu chảy, rối loạn giấc ngủ, kích thích, lạnh chi, vả mồ hôi, khò khè nhẹ) và nghiêm trọng (hạ huyết áp, nhịp tim chậm, co thắt phế quản nặng và hạ đường huyết). Phân tích và xử lý số liệu Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 15. Đánh giá đáp ứng về kích thước u máu trước- sau điều trị bằng phép kiềm t-test. Đánh giá đáp ứng màu sắc trước-sau điều trị bằng phép kiểm McNemar. Đánh giá các yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị, tái phát u máu bằng phép kiểm chi bình phương. Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p <0,05. KẾT QUẢ Chúng tôi ghi nhận 151 trường hợp bị u máu nặng được điều trị bằng Propranolol đường uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 đến 1/2020. Tuổi điều trị trung bình là 3,34 ±1,78 tháng (1,1-10 tháng). Tuổi bắt đầu điều trị tập trung ở nhóm tuổi từ 1-3 tháng tuổi (56,3%). Thời gian điều trị trung bình là 7,32 ± 2,42 tháng (0,25 - 15 tháng), thời gian điều trị từ 6 tháng trở lên chiếm 93,4%. Đặc điểm dân số nghiên cứu được thể hiện trong Bảng 1. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 137 Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=151) Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Giới tính (n=151) Nữ 102 67,5 Nam 49 32,5 Tuổi thai (n=151) Đủ tháng 128 84,8 Thiếu tháng 23 15,2 Bệnh đi kèm (n=151) Có 6 4,0 Chưa 125 82,7 Biến chứng (n=151) Loét 15 10 Che tầm nhìn 6 4,0 Tăng NH3 2 1,3 Suy hô hấp 2 1,3 Suy giáp 1 0,7 Vị trí u máu (n=151) U vùng đầu 6 4.0 U vùng mặt 91 60,3 U vùng cổ 5 3,3 U thân người 18 12,0 U vùng tứ chi 6 4,0 Đa u 23 15,2 U máu tạng 2 1,3 Dạng u máu ở da (n=149)* Hỗn hợp 94 62,3 Trên da 28 18,5 Dưới da 27 17,9 Phân bố u (n=151) Khu trú 114 75,5 Phân đoạn 37 24,5 Mật độ u (n=149)* Chắc 121 81,2 Mềm 28 18,8 Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng u máu (n=151) 1 u máu 119 78,8 ≥2 u máu 32 21,2 Kích thước u trước điều trị (n=151) 0 - 10 cm 2 31 20,5 >10 - 30 cm 2 98 64,9 >30 - 50 cm 2 13 8,6 >50 cm 2 9 6,0 Tuổi bắt đầu điều trị (n=151) 1 – 3 tháng 85 56,3 >3 – 6 tháng 51 33,8 >6 tháng 15 9,9 Thời gian điều trị (n=151) <6 tháng 10 6,6 ≥6 tháng 141 93,4 Tuổi kết thúc điều trị (n = 148)* <12 tháng 100 67,6 ≥12 tháng 48 32,4 (*) Có 2 trường hợp u máu tạng không có u máu ở da, vì thế không đánh giá dạng u và mật độ u. Ba trường hợp ngưng thuốc do tác dụng phụ Bảng 2: Đáp ứng cải thiện về kích thước u máu trước và sau điều trị (N=151) Kích thước u máu (cm 2 ) Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị p (*) Trước điều trị 22,3 16,7 < 0,001 Sau điều trị 5,6 6,0 *Kiểm định t bắt cặp Bảng 3: Đáp ứng cải thiện về màu sắc u máu (N=123) Trước điều trị Sau điều trị Giá trị p (*) Màu sắc da Số lượng Tỷ lệ (%) Màu sắc da Số lượng Tỷ lệ (%) Đỏ tím 87 70,7 Đỏ tím 3 2,4 <0,001 Màu đỏ 36 29,3 Màu đỏ 57 46,3 Màu hồng 0 0 Màu hồng 34 27,6 Màu trắng hồng 0 0 Màu trắng hồng 24 19,5 Màu trắng 0 0 Màu trắng 5 4,2 Tổng 123 100 123 100 *Kiểm định McNemar Nghiên cứu của chúng tôi có 107 trường hợp được siêu âm đánh giá đối với u máu dạng hỗn hợp và dạng sâu dưới da. Kết quả giảm thể tích u máu trên siêu âm màu từ 30 % đến 100%, trong đó 90% các trường hợp thể tích u giảm trên 50% so với trước điều trị (Bảng 2, 3). Bảng 4: Mức độ đáp ứng thuốc (N=151) Mức độ đáp ứng chung (theo thang điểm ) Số lượng Tỷ lệ (%) Đáp ứng chung tốt 74 49 Đáp ứng chung chưa tốt 77 51 Đáp ứng từng yếu tố Mức độ đáp ứng chung (theo thang điểm ) Số lượng Tỷ lệ (%) (A) Kích thước (n=151) 133 88,1 (B) Màu sắc (n=123) 114 92,7 (C) Cải thiện biến chứng (n=26) 26 100 (D) Hài lòng (n=151) 123 81,5 (E) Không di chứng (n=148) 133 89,9 Tác dụng phụ của Propranolol chiếm 10%, trong đó 8% là TDP nhẹ (khò khè nhẹ, kích kích nhẹ), có 3 (2%) trường hợp khò khè nặng, vã mồ hôi phải ngưng thuốc. Tỉ lệ tái phát u máu 13/151 (8,8%) trường hợp u máu nặng điều trị với Propranolol. Chúng tôi ghi nhận số trường Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 138 hợp tái phát ở nữ nhiều hơn nam, tái phát xảy ra chủ yếu ở vị trí u máu vùng mặt ở 9/13 trường hợp; 12/13 trường hợp là u máu dạng hỗn hợp và sâu. U máu phân đoạn ở 6/37 (16,2%) trường hợp cao hơn u máu khu trú 7/111 (6,3%) trường hợp. Trong 1/7 (14,2%) trường hợp bị tái phát u khi thời gian điều trị ít hơn 6 tháng, trong khi 12/141 (8,5%) trường hợp tái phát u máu khi có thời gian điều trị nhiều hơn 6 tháng (Bảng 4, 5). Bảng 5: Đáp ứng điều trị chung của u máu và các yếu tố liên quan ĐẶC ĐIỂM Đáp ứng tốt n (%) Đáp ứng chưa tốt n (%) Giá trị P (*) Tuổi bắt đầu điều trị < 3 tháng (n=85) 53 (62,4) 32 (37,6) < 0,001 Phân bố u phân đoạn (n=37) 24 (64,9) 13 (35,1) 0,026 U máu vùng mặt (n=91) 44 (48,4) 47 (51,6) 0,04 Dạng u máu Hỗn hợp (n=94) 54 (57,5) 40 (42,5) 0,005 Nông (n=28) 19 (67,9) 9 (32,1) 0,003 * Kiểm định chi bình phương BÀN LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi có 151 trường hợp bị u máu nặng từ 1 đến 10 tháng tuổi, tỉ lệ nữ/nam là 2,1/1. Tương tự các nghiên cứu khác, u máu ở trẻ em xảy ra ở nữ nhiều hơn nam. Sinh non là yếu tố nguy cơ của bệnh u máu trẻ em, đặc biệt có 30% trẻ sinh non hoặc nhẹ cân dưới 1000 gram mắc u máu(8). Chúng tôi có 84,8% trẻ sinh đủ tháng và 15,2% trẻ sinh thiếu tháng. U máu vùng mặt chiếm 60,3%, hình thái u máu phân đoạn là 24,5%. U máu dạng hỗn hợp và dạng sâu, đặc biệt là vùng đầu mặt cổ thuộc tiêu chí u máu có nguy cơ cao mà chúng tôi lựa chọn điều trị bằng Propranolol uống. Trước điều trị, kích thước bề mặt của u máu trong nghiên cứu lớn nhất là 100 cm², nhỏ nhất là 6 cm² (trung vị: 20, tứ phân vị: 12 - 25). Nhóm kích thước từ 0 - 10 cm² chiếm 20,5% (u ở vị trí mi mắt, mũi, môi); đa số là nhóm u từ 10 - 30 cm² chiếm 64,9%; nhóm u máu lớn trên 30 cm² tập trung ở vị trí thân người và tứ chi. Bệnh nhân u máu được điều trị với Propranolol 2 mg/kg/ngày. Tuổi bắt đầu điều trị với Propranolol trung bình là 3,3 tháng (1,1 - 10 tháng). Trong đó, nhóm tuổi trước 6 tháng tuổi chiếm tỉ lệ 90%, trong đó 56,3% bắt đầu điều trị trước 3 tháng tuổi. Độ tuổi bắt đầu điều trị có ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng điều trị. Các báo cáo cho thấy những bệnh nhân bắt đầu điều trị trước 5 tháng tuổi có đáp ứng tốt hơn so với độ tuổi lớn hơn(2,9). Thời gian điều trị Propranolol cho bệnh nhân u máu cũng rất quan trọng đối với kết quả lâm sàng. Nghiên cứu của Wu C có thời gian điều trị trung bình là 6,2 tháng (1,5 - 16 tháng)(10) và nghiên cứu của Dong JY là 10 tháng (2 - 24 tháng)(11). Chúng tôi có thời gian điều trị trung bình là 7,3 ± 2,4 tháng. Đa số các tác giả đưa ra kết luận không nên kết thúc điều trị trước 12 tháng tuổi vì đây là giai đoạn thoái triển tự nhiên bắt đầu(5). Tuy nhiên, chúng tôi có 67,6% kết thúc điều trị trước 12 tháng tuổi do chúng tôi bắt đầu điều trị rất sớm (trước 3 tháng tuổi) và liệu trình điều trị kéo dài trung bình là 7 tháng. Hiệu quả của Propranolol trên bệnh nhân u máu trong nghiên cứu của chúng tôi rất đáng khích lệ. Đánh giá sự thu nhỏ về kích thước u máu trước và sau điều trị, có ý nghĩa thống kê bằng kiểm định t-test bắt cặp, p <0,001. Chúng tôi ghi nhận có 98% trường hợp thu nhỏ từ 10% đến 100% thể tích u máu sau điều trị. Ba trường hợp ngưng thuốc do tác dụng phụ khi khởi liều được tính là không đáp ứng. Chúng tôi có 88% trường hợp thể tích u máu giảm trên 50%, trong đó đáp ứng ngoạn mục có 12,8% u máu biến mất hoàn toàn. Tương tự các nghiên cứu khác, đánh giá đáp ứng về kích thước sau điều trị chiếm tỉ lệ >80%(12). Chúng tôi ghi nhận 90% các trường hợp giảm hơn 50% thể tích u đánh giá bằng siêu âm màu. Theo Al-Mahdi AH, đánh giá hiệu quả điều trị qua hình ảnh siêu âm u máu có 75% đáp ứng tốt sau 6 tháng điều trị(13). Sự thay đổi về màu sắc u máu sau điều trị được cho là đáp ứng khi màu sắc của u máu giảm đi một bậc màu theo thang điểm VAS. Đáp ứng tốt khi màu sắc u giảm tương ứng với VAS Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 139 giảm 2 - 3 bậc màu so ban đầu, tức là VAS nằm ở - 6 đến - 10. Theo nghiên cứu của Xiao Q mức độ phai màu của u máu sau 6 tháng điều trị từ - 6 đến - 9(12). Nghiên cứu của chúng tôi sự thay đổi màu sắc u máu trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với kiểm định McNemar, p <0,001. Chúng tôi ghi nhận đáp ứng về màu sắc có 92,6% trường hợp giảm từ một bậc màu trở lên, trừ 3 trường hợp ngưng thuốc được cho là không đáp ứng về màu sắc. Đa số các nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị dựa vào sự đáp ứng về kích thước và màu sắc u máu. Các báo cáo đều đưa ra tỉ lệ đáp ứng sau kết thúc điều trị dao động từ 80 đến 100%(2,14). Tuy nhiên, các thiết kế nghiên cứu không đồng nhất khi đánh giá đáp ứng điều trị. Nghiên cứu chúng tôi có 49% đáp ứng chung tốt, thấp hơn các báo cáo khác. Điều này có thể liên quan đến sự khác biệt về thiết kế nghiên cứu, về liều điều trị của Propranolol và về dân số nghiên cứu nên kết quả đáp ứng điều trị sẽ không giống nhau. Chúng tôi cho đáp ứng chung là tốt khi đáp ứng đầy đủ cả 5 yếu tố bao gồm đáp ứng về kích thước u máu giảm từ >50%, màu sắc u giảm hơn một bậc màu, biến chứng do u máu được cải thiện hoàn toàn, không để lại di chứng, mức độ hài lòng của thân nhân đạt từ 4 - 5 điểm. Nếu chỉ xét tiêu chuẩn đáp ứng trên tiêu chí đáp ứng màu sắc và thể tích u máu thì tỉ lệ đáp ứng tốt trong nghiên cứu chúng tôi là trên 85%, tương đương các tác giả khác(15). Đánh giá liên quan giữa đáp ứng điều trị chung và các yếu tố liên quan. Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ đáp ứng với Propranolol cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân nhỏ tuổi, đặc biệt là bệnh nhân dưới 3 tháng tuổi có tỉ lệ đáp ứng cao nhất, tương tự với nghiên cứu của Zhang L(9). Vị trí u máu ở mặt đáp ứng điều trị kém hơn so với nhóm đa vị trí là 30% (p=0,04). Điều này có thể do vị trí u máu ở vùng mặt trung tâm như mũi, mi mắt, trán giữa và vùng môi chiếm tỉ lệ cao. Theo tác giả Mattassi R vị trí u máu ở vùng mặt trung tâm có thời gian tăng sinh u kéo dài, dễ gây biến dạng vĩnh viễn vì thế cho hiệu quả điều trị kém hơn(16). U máu dạng nông và hỗn hợp đáp ứng với Propranolol tốt hơn u dạng sâu (p <0,05), điều này tương tự với kết luận của Wu W(12). Orozco-Covarrubias L cho rằng đáp ứng điều trị tương tự ở các u mạch máu dạng phân đoạn so với dạng khu trú(17). Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận u máu dạng phân đoạn đáp ứng điều trị tốt hơn u máu dạng khu trú, p=0,03. Đánh giá đáp ứng điều trị liên quan đến đặc điểm lâm sàng của chúng tôi cũng như các tác giả không giống nhau, sự khác biệt này có thể là do thiết kế nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi ghi nhận 10% trường hợp có tác dụng phụ, trong đó 8% là TDP nhẹ, thấp hơn các nghiên cứu khác(12). Tỉ lệ tác TDP của Propranolol của các báo cáo không giống nhau có thể do liều Propranolol của các nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, các báo cáo ghi nhận liều Propranolol sử dụng an toàn là 2 mg/kg/ngày. Những TDP như khò khè nhẹ, kích thích nhẹ được ghi nhận và chúng tôi đã chia nhỏ liều Propranolol trong ngày, trẻ dung nạp thuốc tốt mà không cần ngừng thuốc. Có 3 bệnh nhân có TDP nghiêm trọng gây khò khè nặng, vã mồ hôi, lạnh tay chân phải ngừng thuốc chuyển sang phương pháp điều trị khác. Không ghi nhận TDP như rối loạn nhịp tim, hạ huyết áp, hạ đường huyết. Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ tái phát chung là 8,8%. Tỉ lệ tái phát của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác, có thể là tuổi điều trị bắt đầu sớm, đặc biệt là nhóm tuổi từ 1-3 tháng; thời gian điều trị đa số dài hơn 6 tháng; sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng u máu và tỉ lệ bệnh nhân tuân thủ liệu trình điều trị tốt về liều thuốc sử dụng cũng như cách giảm liều Propranolol từ từ trước khi kết thúc điều trị. Dựa vào đặc điểm của các trường hợp tái phát u máu trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy dường như không có sự tương quan giữa mức độ đáp ứng thuốc và sự tái phát u máu. Nghiên cứu của Shah SD ghi nhận tỉ lệ tái phát của những bệnh nhân ngừng điều trị trước 9 tháng tuổi là gấp đôi so với ngừng điều trị trong khoảng từ 12 đến 15 tháng Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 140 tuổi. Giới tính nữ, vị trí trên đầu-cổ, u máu dạng phân đoạn và u máu dạng sâu hoặc hỗn hợp có liên quan đến sự tái phát u máu(2). Bệnh nhân u máu có các yếu tố tiên đoán này có thể cần một quá trình trị liệu kéo dài. KẾT LUẬN Hiệu quả của Propranolol trên bệnh nhân u máu của chúng tôi rất đáng khích lệ, TDP hạn chế và ít tái phát. Các yếu tố liên quan cho đáp ứng điều trị tốt với Propranolol là bắt đầu điều trị sớm trước 3 tháng tuổi, vị trí u không ở vùng mặt, u dạng nông, hình thái phân đoạn. Tỉ lệ tái phát u máu thấp (8,8%). Các yếu tố dự đoán cho sự tái phát bao gồm thời gian điều trị, u máu vùng mặt, u dạng sâu, hình thái u phân đoạn và giới tính nữ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Group HI, Haggstrom AN, Drolet BA, et al (2007). Prospective study of infantile hemangiomas: demographic, prenatal, and perinatal characteristics. J Pediatr, 150(3):291-294. 2. Shah SD, Baselga E, McCuaig C, et al (2016). Rebound growth of infantile hemangiomas after propranolol therapy. Pediatrics, 137(4):1-11. 3. Léauté-Labrèze C, De La Roque ED, Hubiche T, et al (2008). Propranolol for severe hemangiomas of infancy. N Eng J Med, 358(24):2649-2651. 4. Kurta AO, Dai D, Armbrecht ES, Siegfried EC (2017). Prescribing propranolol for infantile hemangioma: Assessment of dosing errors. J Am Acad Dermatol, 76(5):999-1000. 5. Zhang L, Wu H-W, Yuan W, et al (2017). Propranolol therapy for infantile hemangioma: our experience. Drug Des Devel Ther, 11:1401-1408. 6. Léauté-Labrèze C, Hoeger P, Mazereeuw-Hautier J, et al (2015). A randomized controlled trial of oral propranolol in infantile hemangioma. N Eng J Med, 372(8):735-746. 7. Diệp Quế Trinh, Phạm Thuỵ Diễm, Lê Hữu Phước, Đoàn Bảo Duy (2018). Đánh giá kết quả điều trị u máu ở trẻ em bằng Propranolol. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):222-233. 8. Krowchuk DP, Frieden IJ, Mancini AJ, et al (2019). Clinical practice guideline for the management of infantile hemangiomas. Pediatrics, 143(1):1-30. 9. Zhang L, Yuan W-E, Zheng J-W (2016). Pharmacological therapies for infantile hemangiomas: A clinical study in 853 consecutive patients using a standard treatment algorithm. Sci Rep, 6(1):1-8. 10. Wu C, Guo L, Wang L, et al (2019). Associations between short- term efficacy and clinical characteristics of infantile hemangioma treated by propranolol. Med, 98(6):143-146. 11. Dong JY, Ning JX, Li K, Wang XX (2017). Analysis of factors affecting the therapeutic effect of propranolol for infantile haemangioma of the head and neck. Sci Rep, 7(1):1-5. 12. Xiao Q, Li Q, Zhang B, Yu W (2013). Propranolol therapy of infantile hemangiomas: efficacy, adverse effects, and recurrence. Pediatr Surg Int, 29(6):575-581. 13. Al-Mahdi AH, Al-Sada MA (2020). Assessment of Oral Propranolol Administration for Infantile Hemangioma in Oral and Maxillofacial Region Aided by Ultrasonography. J Craniofac Surg, 31(1):189-192. 14. Ozeki M, Nozawa A, Kanda K, Kimura T (2016). Propranolol for infantile hemangioma: Effect on plasma vascular endothelial growth factor. Pediatr Int, 58(11):1130-1135. 15. Stringari G, Barbato G, Zanzucchi M, Marchesi M, et al (2016). Propranolol treatment for infantile hemangioma: a case series of sixty-two patients. Pediatr Med Chir, 38(2):69-74. 16. Mattassi R, Loose DA, Vaghi M (2015). Hemangiomas of Infancy: Epidemiology. In: Hemangiomas and Vascular Malformations: An Atlas of Diagnosis and Treatment, pp.55-59. Springer, Milano. 17. Orozco-Covarrubias L, Lara-Mendoza L, Garrido-García LM, Ruiz-Maldonado R (2018). Therapy for involuting infantile hemangioma: Propranolol effectiveness. In J Paediatr Dermatol, 19(2):120-123. Ngày nhận bài báo: 28/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
ket_qua_dieu_tri_u_mau_nang_o_tre_em_bang_propranolol.pdf

