Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol

Đặt vấn đề: U máu ở trẻ em là u lành mạch máu phổ biến ở bệnh nhi và thường được điều trị bằng

propranolol. Chúng tôi mô tả kinh nghiệm về đáp ứng với điều trị, tác dụng phụ (TDP) và tỉ lệ tái phát ở 151

bệnh nhi u máu nặng được điều trị bằng propranolol.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol uống.

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ 151 bệnh nhi bị u máu nặng được điều trị

Propranolol uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 đến tháng 1/2020, thu thập thông tin về chỉ định

điều trị, sự thu nhỏ u máu, tái phát u máu và TDP của Propranolol

pdf 7 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol

Kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 134 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U MÁU NẶNG Ở TRẺ EM BẰNG PROPRANOLOL 
Diệp Quế Trinh1, Phạm Thụy Diễm1, Đoàn Bảo Duy1, Trương Nguyễn Hoài Linh2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: U máu ở trẻ em là u lành mạch máu phổ biến ở bệnh nhi và thường được điều trị bằng 
propranolol. Chúng tôi mô tả kinh nghiệm về đáp ứng với điều trị, tác dụng phụ (TDP) và tỉ lệ tái phát ở 151 
bệnh nhi u máu nặng được điều trị bằng propranolol. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u máu nặng ở trẻ em bằng Propranolol uống. 
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ 151 bệnh nhi bị u máu nặng được điều trị 
Propranolol uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 đến tháng 1/2020, thu thập thông tin về chỉ định 
điều trị, sự thu nhỏ u máu, tái phát u máu và TDP của Propranolol. 
Kết quả: Chúng tôi phân tích 151 trường hợp u máu bao gồm 102 nữ và 49 nam. Tất cả bệnh nhân đều 
được điều trị bằng propranolol uống với liều 2 mg/kg/ngày. Điều trị bắt đầu từ 1,1 đến 10 tháng tuổi. Tuổi trung 
bình điều trị là 3,3 ± 1,8 tháng. Thời gian điều trị trung bình là 7,3 ± 2,4 tháng. Đáp ứng điều trị tuyệt vời chiếm 
49% bao gồm về giảm hơn 50% thể tích u máu, giảm hơn 50% màu sắc u, cải thiện hoàn toàn biến chứng, không 
di chứng và thân nhân hài lòng đến rất hài lòng. Những yếu tố cho đáp ứng điều trị tốt là tuổi bắt đầu điều trị 
sớm trước 3 tháng tuổi, vị trí u máu vùng ngoài mặt, u máu dạng nông và hỗn hợp, u máu dạng phân đoạn (p 
<0,05). Tác dụng phụ nghiêm trọng của Propranolol là 2%, nhẹ là 8%. Tỉ lệ tái phát u máu là 8,8%. Các yếu tố 
dự đoán tái phát là thời gian điều trị, u máu vùng mặt, u máu dạng sâu, u máu phân đoạn. 
Kết luận: Propranolol rất hiệu quả trong việc làm giảm thể tích, màu sắc u cũng như cải thiện biến chứng 
của u máu nặng ở trẻ em. Điều trị sớm bằng Propranolol là lựa chọn đầu tiên và phù hợp cho bệnh nhân u máu 
nguy cơ cao. 
Từ khóa: u máu trẻ em, propranolol đường uống 
ABTRACT 
AN OBSERVATIONAL STUDY ON INFANTILE SEVERE HEMANGIOMAS TREAMENT OUTCOMES 
WITH ORAL PROPRANOLOL 
Diep Que Trinh, Pham Thuy Diem, Đoan Bao Duy, Truong Nguyen Hoai Linh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 134 - 140 
Background: Infantile hemangioma (IH) is a common benign vascular tumor in pediatric patients and is 
commonly treated with propranolol. We describe our experiences with response to treatment, side effects and 
relapse in 151 IHs treated with propranolol. 
Objectives: To identify effectiveness of oral propranolol in infants with severe hemangiomas. 
Methods: We retrospectively reviewed the records of 151 infantile severe hemangioma patients who were 
treated with oral propranolol in Children’s Hospital 1 from June 2010 to January 2020, collected information on 
sociodemographic data, treatment indications, IH involution, IH relapse, and treatment side effects. 
Results: We analyzed 151 IHs, correspononding to 102 girls and 49 boys. All patients were treated with 
systemic propranolol at a dose of 2 mg/kg/day. Treatment was started between the ages of 1.1 and 10 months. The 
average age was 3.3 ± 1.8 month old. The mean time of treatment was 7.3 ± 2.4 months. An estimated reduction 
1Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Diệp Quế Trinh ĐT: 0908552152 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 135 
of more than 50% of the volume of the hemangioma. An excellent response was 49% characterized by an 
estimated reduction of more than 50% of the volume of the hemangioma; 50% clearing of the lesion (color fading); 
recovery of functional deficit or resolution of bleeding or ulceration; non residual effects and a parent satisfaction 
score between 4 and 5. The following predictive factors of excellent response were age at initiation of treatment 
with the younger than 3 months, nonfacial IH location, superficial and combined IH, segmental IH (p <0.05). The 
serious side effects were 2% and mild side effects were 8%. Rebound growth was noted in 8.8%. The predictive 
factors of IH relapse were duration of propranolol treatment less than 6 months, facial IH, deep IH, segmental IH. 
Conclusions: Oral propranolol was clinically effective in reducing in the volume, color and improving 
complicated symptoms of IHs. Particularly for early treatment with oral propranolol was a first line therapy in 
most patients with high-risk IH. 
Keywords: infantile hemangiomas, oral propranolo 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
U máu trẻ em là những bất thường do sự 
tăng sinh tế bào nội mô mạch máu. U máu là u 
lành tính thường gặp nhất ở trẻ nhỏ với xuất độ 
từ 4-10% và tỉ lệ cao hơn ở trẻ sinh non(1). 
Khoảng 80% các tổn thương được tìm thấy ở 
vùng mặt và cổ(2). U máu gặp ở nam nhiều hơn 
nữ với tỉ lệ 3:1(1). Hầu hết u máu trẻ em tự biến 
mất và không cần điều trị. Tuy nhiên, các u máu 
nghiêm trọng cần chỉ định điều trị như u máu ở 
đường thở phát triển nhanh, chèn ép gây suy hô 
hấp đe dọa tử vong, u máu vùng quanh mắt gây 
che chắn tầm nhìn hoặc u máu có biến chứng 
loét nhiễm trùng, chảy máu thường để lại dư 
chứng mất thẩm mỹ. 
Năm 2008, trong quá trình điều trị bệnh cơ 
tim phì đại trên bệnh nhân có kèm theo u máu 
bằng Propranolol, Léauté-Labrèze C đã phát 
hiện sự cải thiện rất nhiều về kích thước và màu 
sắc của u máu trên bệnh nhân so với diễn tiến tự 
nhiên(3). Propranolol có tác dụng ức chế sự phát 
triển và gây ra sự thoái triển của các u máu trẻ 
em. Năm 2014, Propranolol đường uống đã 
được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược 
phẩm Hoa Kỳ phê duyệt như là liệu pháp đầu 
tiên cho u máu nguy cơ(4). 
Ngày nay, liệu pháp Propranolol đường 
uống điều trị u máu đã làm thay đổi ngoạn 
mục chiến lược điều trị. Các tác giả đưa ra các 
yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị như giới 
tính, tuổi bắt đầu điều trị, thời gian điều trị, 
tuổi kết thúc điều trị, đặc điểm lâm sàng của u 
máu. Nghiên cứu của Zhang L(5) cho thấy với 
những bệnh nhân nhỏ tuổi nhất có tỉ lệ đáp 
ứng cao nhất. Sự khác biệt về hiệu quả điều trị 
không liên quan đến giới tính và đặc điểm lâm 
sàng của u máu. 
Điều trị u máu nặng với Propranolol tương 
đối an toàn, các nghiên cứu ghi nhận tác dụng 
phụ (TDP) của Propranolol với tỉ lệ 2 - 9%, chủ 
yếu là TDP nhẹ(6). Tỉ lệ tái phát u máu sau ngưng 
thuốc cũng được thống kê khoảng 19 - 25% và 
các yếu tố liên quan tái phát u máu còn gây 
nhiều bàn cãi. Nghiên cứu của Shah SD năm 
2016(2) với khoảng 25% trường hợp bị tái phát u. 
Tỉ lệ tái phát ở những bệnh nhân ngừng điều trị 
trước 9 tháng tuổi là cao hơn so với ngừng điều 
trị sau 12 tháng tuổi. Giới tính nữ, vị trí u máu ở 
vùng đầu và cổ, hình thái u phân đoạn, u dạng 
sâu hoặc hỗn hợp có liên quan đến sự tái phát. 
Năm 2018, chúng tôi phân tích 57 trường 
hợp trẻ bị u máu(7), tất cả bệnh nhân đều đáp 
ứng với điều trị, đáp ứng ngoạn mục là 53% 
trường, đáp ứng tốt là 11%, khá 34%. Thời gian 
uống Propranolol dài hơn 6 tháng sẽ cho đáp 
ứng ngoạn mục là 71% so với 26% ở nhóm uống 
thuốc dưới 6 tháng. Chúng tôi không ghi nhận 
có TDP nghiêm trọng. Tỉ lệ tái phát sau ngưng 
Propranolol là 13%. Những yếu tố liên quan đến 
đáp ứng thuốc và tỉ lệ tái phát u là u máu phân 
đoạn, pha tăng sinh của u máu, vị trí u máu, tuổi 
bắt đầu dùng thuốc, thời gian dùng thuốc vẫn 
chưa khảo sát triệt để do cỡ mẫu còn nhỏ. 
Do đó, mục tiêu nghiên cứu đặt ra: 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 136 
- Xác định hiệu quả, an toàn của Propranolol 
trong điều trị u máu nặng ở trẻ em và các yếu tố 
liên quan đáp ứng điều trị. 
- Đánh giá tái phát u máu và các yếu tố liên 
quan tái phát u máu sau ngưng thuốc 6 tháng. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả các hồ sơ bệnh án được chẩn đoán u 
máu nặng điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 
6/2016 đến 1/2020. Sang thương u máu thỏa điều 
kiện: U máu đường thở chèn ép, u máu có biến 
chứng loét khó lành, chảy máu, cản trở tầm nhìn, 
u máu vùng thẩm mỹ (vùng đầu mặt cổ) đường 
kính ≥5 cm, u máu tạng có triệu chứng. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân điều trị cùng lúc nhiều liệu pháp. 
Hồ sơ không ghi nhận đầy đủ. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. 
Phương pháp thực hiện 
Lập danh sách bệnh nhân và thu thập số 
liệu. Khảo sát bệnh án bệnh nhân thỏa tiêu chí 
chọn mẫu. 
Đánh giá kích thước trước dùng Propranolol, 
tại thời điểm ngưng Propranolol và sau điều trị 
Propranolol đến 6 tháng. Ghi nhận độ giảm kích 
thước qua thang đo và qua siêu âm với các tỉ lệ 
75%, 50%, 25%, 0% so với ban đầu. Màu sắc 
đánh giá theo thang điểm VAS (Visual Analogue 
Scale) (Hình 1). Chúng tôi ghi nhận sự thay đổi 
về màu sắc của các tổn thương trên thang điểm 
trực quan (VAS) từ 1 đến 10 bằng cách so sánh 
các hình ảnh theo dõi với điều trị trước khi chụp 
ảnh cơ bản. 
Chúng tôi đánh giá đáp ứng chung tốt và 
chưa tốt. Đáp ứng chung tốt khi cả 5 tiêu chí đáp 
ứng về thể tích u máu (A) giảm >50% so với 
trước điều trị. Màu sắc thay đổi so với trước điều 
trị giảm từ 1 bậc trở lên (B). Cải thiện hoàn toàn 
biến chứng u máu (C). Mức độ hài lòng thân 
nhân từ rất hài lòng đến hoàn toàn hài lòng (D). 
Không có di chứng (E). 
Độ hài lòng người nhà được chia theo thang 
điểm từ 0 đến 5: Không hài lòng, hài lòng rất ít, 
hài lòng ít, khá hài lòng, rất hài lòng, hoàn toàn 
hài lòng. 
Hình 1: Thang điểm màu VAS 
Các TDP phân 2 nhóm nhẹ (nôn ói, tiêu 
chảy, rối loạn giấc ngủ, kích thích, lạnh chi, vả 
mồ hôi, khò khè nhẹ) và nghiêm trọng (hạ huyết 
áp, nhịp tim chậm, co thắt phế quản nặng và hạ 
đường huyết). 
Phân tích và xử lý số liệu 
Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 15. 
Đánh giá đáp ứng về kích thước u máu trước-
sau điều trị bằng phép kiềm t-test. 
Đánh giá đáp ứng màu sắc trước-sau điều trị 
bằng phép kiểm McNemar. 
Đánh giá các yếu tố liên quan đến đáp ứng 
điều trị, tái phát u máu bằng phép kiểm chi 
bình phương. 
Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p <0,05. 
KẾT QUẢ 
Chúng tôi ghi nhận 151 trường hợp bị u máu 
nặng được điều trị bằng Propranolol đường 
uống tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2016 
đến 1/2020. Tuổi điều trị trung bình là 3,34 ±1,78 
tháng (1,1-10 tháng). Tuổi bắt đầu điều trị tập 
trung ở nhóm tuổi từ 1-3 tháng tuổi (56,3%). 
Thời gian điều trị trung bình là 7,32 ± 2,42 tháng 
(0,25 - 15 tháng), thời gian điều trị từ 6 tháng trở 
lên chiếm 93,4%. Đặc điểm dân số nghiên cứu 
được thể hiện trong Bảng 1. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 137 
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=151) 
 Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) 
Giới tính (n=151) 
Nữ 102 67,5 
Nam 49 32,5 
Tuổi thai (n=151) 
Đủ tháng 128 84,8 
Thiếu tháng 23 15,2 
Bệnh đi kèm 
(n=151) 
Có 6 4,0 
Chưa 125 82,7 
Biến chứng 
(n=151) 
Loét 15 10 
Che tầm nhìn 6 4,0 
Tăng NH3 2 1,3 
Suy hô hấp 2 1,3 
Suy giáp 1 0,7 
Vị trí u máu 
(n=151) 
U vùng đầu 6 4.0 
U vùng mặt 91 60,3 
U vùng cổ 5 3,3 
U thân người 18 12,0 
U vùng tứ chi 6 4,0 
Đa u 23 15,2 
U máu tạng 2 1,3 
Dạng u máu ở da 
(n=149)* 
Hỗn hợp 94 62,3 
Trên da 28 18,5 
Dưới da 27 17,9 
Phân bố u 
(n=151) 
Khu trú 114 75,5 
Phân đoạn 37 24,5 
Mật độ u (n=149)* 
Chắc 121 81,2 
Mềm 28 18,8 
 Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%) 
Số lượng u máu 
(n=151) 
1 u máu 119 78,8 
≥2 u máu 32 21,2 
Kích thước u 
trước điều trị 
(n=151) 
0 - 10 cm
2
 31 20,5 
>10 - 30 cm
2
 98 64,9 
>30 - 50 cm
2
 13 8,6 
>50 cm
2
 9 6,0 
Tuổi bắt đầu điều 
trị (n=151) 
1 – 3 tháng 85 56,3 
>3 – 6 tháng 51 33,8 
>6 tháng 15 9,9 
Thời gian điều trị 
(n=151) 
<6 tháng 10 6,6 
≥6 tháng 141 93,4 
Tuổi kết thúc điều 
trị (n = 148)* 
<12 tháng 100 67,6 
≥12 tháng 48 32,4 
(*) Có 2 trường hợp u máu tạng không có u máu ở da, vì 
thế không đánh giá dạng u và mật độ u. Ba trường hợp 
ngưng thuốc do tác dụng phụ 
Bảng 2: Đáp ứng cải thiện về kích thước u máu trước 
và sau điều trị (N=151) 
Kích thước u máu (cm
2
) 
Trung 
bình 
Độ lệch 
chuẩn 
Giá trị p (*) 
Trước điều trị 22,3 16,7 
< 0,001 
Sau điều trị 5,6 6,0 
*Kiểm định t bắt cặp 
Bảng 3: Đáp ứng cải thiện về màu sắc u máu (N=123) 
Trước điều trị Sau điều trị 
Giá trị p (*) 
Màu sắc da Số lượng Tỷ lệ (%) Màu sắc da Số lượng Tỷ lệ (%) 
Đỏ tím 87 70,7 Đỏ tím 3 2,4 
<0,001 
Màu đỏ 36 29,3 Màu đỏ 57 46,3 
Màu hồng 0 0 Màu hồng 34 27,6 
Màu trắng hồng 0 0 Màu trắng hồng 24 19,5 
Màu trắng 0 0 Màu trắng 5 4,2 
Tổng 123 100 123 100 
*Kiểm định McNemar 
Nghiên cứu của chúng tôi có 107 trường hợp 
được siêu âm đánh giá đối với u máu dạng hỗn 
hợp và dạng sâu dưới da. Kết quả giảm thể tích 
u máu trên siêu âm màu từ 30 % đến 100%, 
trong đó 90% các trường hợp thể tích u giảm 
trên 50% so với trước điều trị (Bảng 2, 3). 
Bảng 4: Mức độ đáp ứng thuốc (N=151) 
Mức độ đáp ứng chung (theo 
thang điểm ) 
Số lượng Tỷ lệ (%) 
Đáp ứng chung tốt 74 49 
Đáp ứng chung chưa tốt 77 51 
Đáp ứng từng yếu tố 
Mức độ đáp ứng chung (theo 
thang điểm ) 
Số lượng Tỷ lệ (%) 
(A) Kích thước (n=151) 133 88,1 
(B) Màu sắc (n=123) 114 92,7 
(C) Cải thiện biến chứng (n=26) 26 100 
(D) Hài lòng (n=151) 123 81,5 
(E) Không di chứng (n=148) 133 89,9 
Tác dụng phụ của Propranolol chiếm 10%, 
trong đó 8% là TDP nhẹ (khò khè nhẹ, kích kích 
nhẹ), có 3 (2%) trường hợp khò khè nặng, vã mồ 
hôi phải ngưng thuốc. Tỉ lệ tái phát u máu 
13/151 (8,8%) trường hợp u máu nặng điều trị 
với Propranolol. Chúng tôi ghi nhận số trường 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 138 
hợp tái phát ở nữ nhiều hơn nam, tái phát xảy ra 
chủ yếu ở vị trí u máu vùng mặt ở 9/13 trường 
hợp; 12/13 trường hợp là u máu dạng hỗn hợp 
và sâu. U máu phân đoạn ở 6/37 (16,2%) trường 
hợp cao hơn u máu khu trú 7/111 (6,3%) trường 
hợp. Trong 1/7 (14,2%) trường hợp bị tái phát u 
khi thời gian điều trị ít hơn 6 tháng, trong khi 
12/141 (8,5%) trường hợp tái phát u máu khi có 
thời gian điều trị nhiều hơn 6 tháng (Bảng 4, 5). 
Bảng 5: Đáp ứng điều trị chung của u máu và các 
yếu tố liên quan 
ĐẶC ĐIỂM 
Đáp ứng tốt 
n (%) 
Đáp ứng chưa 
tốt n (%) 
Giá trị 
P (*) 
Tuổi bắt đầu điều trị 
< 3 tháng (n=85) 
53 (62,4) 32 (37,6) < 0,001 
Phân bố u phân 
đoạn (n=37) 
24 (64,9) 13 (35,1) 0,026 
U máu vùng mặt 
(n=91) 
44 (48,4) 47 (51,6) 0,04 
Dạng u 
máu 
Hỗn hợp 
(n=94) 
54 (57,5) 40 (42,5) 0,005 
Nông 
(n=28) 
19 (67,9) 9 (32,1) 0,003 
* Kiểm định chi bình phương 
BÀN LUẬN 
Nghiên cứu của chúng tôi có 151 trường hợp 
bị u máu nặng từ 1 đến 10 tháng tuổi, tỉ lệ 
nữ/nam là 2,1/1. Tương tự các nghiên cứu khác, 
u máu ở trẻ em xảy ra ở nữ nhiều hơn nam. Sinh 
non là yếu tố nguy cơ của bệnh u máu trẻ em, 
đặc biệt có 30% trẻ sinh non hoặc nhẹ cân dưới 
1000 gram mắc u máu(8). Chúng tôi có 84,8% trẻ 
sinh đủ tháng và 15,2% trẻ sinh thiếu tháng. U 
máu vùng mặt chiếm 60,3%, hình thái u máu 
phân đoạn là 24,5%. U máu dạng hỗn hợp và 
dạng sâu, đặc biệt là vùng đầu mặt cổ thuộc tiêu 
chí u máu có nguy cơ cao mà chúng tôi lựa chọn 
điều trị bằng Propranolol uống. 
Trước điều trị, kích thước bề mặt của u máu 
trong nghiên cứu lớn nhất là 100 cm², nhỏ nhất 
là 6 cm² (trung vị: 20, tứ phân vị: 12 - 25). Nhóm 
kích thước từ 0 - 10 cm² chiếm 20,5% (u ở vị trí 
mi mắt, mũi, môi); đa số là nhóm u từ 10 - 30 cm² 
chiếm 64,9%; nhóm u máu lớn trên 30 cm² tập 
trung ở vị trí thân người và tứ chi. 
Bệnh nhân u máu được điều trị với 
Propranolol 2 mg/kg/ngày. Tuổi bắt đầu điều trị 
với Propranolol trung bình là 3,3 tháng (1,1 - 10 
tháng). Trong đó, nhóm tuổi trước 6 tháng tuổi 
chiếm tỉ lệ 90%, trong đó 56,3% bắt đầu điều trị 
trước 3 tháng tuổi. Độ tuổi bắt đầu điều trị có 
ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng điều trị. Các 
báo cáo cho thấy những bệnh nhân bắt đầu điều 
trị trước 5 tháng tuổi có đáp ứng tốt hơn so với 
độ tuổi lớn hơn(2,9). 
Thời gian điều trị Propranolol cho bệnh nhân 
u máu cũng rất quan trọng đối với kết quả lâm 
sàng. Nghiên cứu của Wu C có thời gian điều trị 
trung bình là 6,2 tháng (1,5 - 16 tháng)(10) và 
nghiên cứu của Dong JY là 10 tháng (2 - 24 
tháng)(11). Chúng tôi có thời gian điều trị trung 
bình là 7,3 ± 2,4 tháng. Đa số các tác giả đưa ra 
kết luận không nên kết thúc điều trị trước 12 
tháng tuổi vì đây là giai đoạn thoái triển tự 
nhiên bắt đầu(5). Tuy nhiên, chúng tôi có 67,6% 
kết thúc điều trị trước 12 tháng tuổi do chúng tôi 
bắt đầu điều trị rất sớm (trước 3 tháng tuổi) và 
liệu trình điều trị kéo dài trung bình là 7 tháng. 
Hiệu quả của Propranolol trên bệnh nhân u 
máu trong nghiên cứu của chúng tôi rất đáng 
khích lệ. Đánh giá sự thu nhỏ về kích thước u 
máu trước và sau điều trị, có ý nghĩa thống kê 
bằng kiểm định t-test bắt cặp, p <0,001. Chúng 
tôi ghi nhận có 98% trường hợp thu nhỏ từ 10% 
đến 100% thể tích u máu sau điều trị. Ba trường 
hợp ngưng thuốc do tác dụng phụ khi khởi liều 
được tính là không đáp ứng. Chúng tôi có 88% 
trường hợp thể tích u máu giảm trên 50%, trong 
đó đáp ứng ngoạn mục có 12,8% u máu biến mất 
hoàn toàn. Tương tự các nghiên cứu khác, đánh 
giá đáp ứng về kích thước sau điều trị chiếm tỉ lệ 
>80%(12). Chúng tôi ghi nhận 90% các trường hợp 
giảm hơn 50% thể tích u đánh giá bằng siêu âm 
màu. Theo Al-Mahdi AH, đánh giá hiệu quả 
điều trị qua hình ảnh siêu âm u máu có 75% đáp 
ứng tốt sau 6 tháng điều trị(13). 
Sự thay đổi về màu sắc u máu sau điều trị 
được cho là đáp ứng khi màu sắc của u máu 
giảm đi một bậc màu theo thang điểm VAS. Đáp 
ứng tốt khi màu sắc u giảm tương ứng với VAS 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 139 
giảm 2 - 3 bậc màu so ban đầu, tức là VAS nằm ở 
- 6 đến - 10. Theo nghiên cứu của Xiao Q mức độ 
phai màu của u máu sau 6 tháng điều trị từ - 6 
đến - 9(12). Nghiên cứu của chúng tôi sự thay đổi 
màu sắc u máu trước và sau điều trị có ý nghĩa 
thống kê với kiểm định McNemar, p <0,001. 
Chúng tôi ghi nhận đáp ứng về màu sắc có 
92,6% trường hợp giảm từ một bậc màu trở lên, 
trừ 3 trường hợp ngưng thuốc được cho là 
không đáp ứng về màu sắc. 
Đa số các nghiên cứu đánh giá kết quả điều 
trị dựa vào sự đáp ứng về kích thước và màu sắc 
u máu. Các báo cáo đều đưa ra tỉ lệ đáp ứng sau 
kết thúc điều trị dao động từ 80 đến 100%(2,14). 
Tuy nhiên, các thiết kế nghiên cứu không đồng 
nhất khi đánh giá đáp ứng điều trị. Nghiên cứu 
chúng tôi có 49% đáp ứng chung tốt, thấp hơn 
các báo cáo khác. Điều này có thể liên quan đến 
sự khác biệt về thiết kế nghiên cứu, về liều điều 
trị của Propranolol và về dân số nghiên cứu nên 
kết quả đáp ứng điều trị sẽ không giống nhau. 
Chúng tôi cho đáp ứng chung là tốt khi đáp ứng 
đầy đủ cả 5 yếu tố bao gồm đáp ứng về kích 
thước u máu giảm từ >50%, màu sắc u giảm hơn 
một bậc màu, biến chứng do u máu được cải 
thiện hoàn toàn, không để lại di chứng, mức độ 
hài lòng của thân nhân đạt từ 4 - 5 điểm. Nếu chỉ 
xét tiêu chuẩn đáp ứng trên tiêu chí đáp ứng 
màu sắc và thể tích u máu thì tỉ lệ đáp ứng tốt 
trong nghiên cứu chúng tôi là trên 85%, tương 
đương các tác giả khác(15). 
Đánh giá liên quan giữa đáp ứng điều trị 
chung và các yếu tố liên quan. Chúng tôi nhận 
thấy tỉ lệ đáp ứng với Propranolol cao hơn đáng 
kể ở những bệnh nhân nhỏ tuổi, đặc biệt là bệnh 
nhân dưới 3 tháng tuổi có tỉ lệ đáp ứng cao nhất, 
tương tự với nghiên cứu của Zhang L(9). Vị trí u 
máu ở mặt đáp ứng điều trị kém hơn so với 
nhóm đa vị trí là 30% (p=0,04). Điều này có thể 
do vị trí u máu ở vùng mặt trung tâm như mũi, 
mi mắt, trán giữa và vùng môi chiếm tỉ lệ cao. 
Theo tác giả Mattassi R vị trí u máu ở vùng mặt 
trung tâm có thời gian tăng sinh u kéo dài, dễ 
gây biến dạng vĩnh viễn vì thế cho hiệu quả điều 
trị kém hơn(16). U máu dạng nông và hỗn hợp 
đáp ứng với Propranolol tốt hơn u dạng sâu 
(p <0,05), điều này tương tự với kết luận của Wu 
W(12). Orozco-Covarrubias L cho rằng đáp ứng 
điều trị tương tự ở các u mạch máu dạng phân 
đoạn so với dạng khu trú(17). Tuy nhiên, chúng 
tôi ghi nhận u máu dạng phân đoạn đáp ứng 
điều trị tốt hơn u máu dạng khu trú, p=0,03. 
Đánh giá đáp ứng điều trị liên quan đến đặc 
điểm lâm sàng của chúng tôi cũng như các tác 
giả không giống nhau, sự khác biệt này có thể là 
do thiết kế nghiên cứu khác nhau. 
Chúng tôi ghi nhận 10% trường hợp có tác 
dụng phụ, trong đó 8% là TDP nhẹ, thấp hơn các 
nghiên cứu khác(12). Tỉ lệ tác TDP của 
Propranolol của các báo cáo không giống nhau 
có thể do liều Propranolol của các nghiên cứu 
khác nhau. Tuy nhiên, các báo cáo ghi nhận liều 
Propranolol sử dụng an toàn là 2 mg/kg/ngày. 
Những TDP như khò khè nhẹ, kích thích nhẹ 
được ghi nhận và chúng tôi đã chia nhỏ liều 
Propranolol trong ngày, trẻ dung nạp thuốc tốt 
mà không cần ngừng thuốc. Có 3 bệnh nhân có 
TDP nghiêm trọng gây khò khè nặng, vã mồ hôi, 
lạnh tay chân phải ngừng thuốc chuyển sang 
phương pháp điều trị khác. Không ghi nhận 
TDP như rối loạn nhịp tim, hạ huyết áp, hạ 
đường huyết. 
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ tái phát 
chung là 8,8%. Tỉ lệ tái phát của chúng tôi thấp 
hơn các nghiên cứu khác, có thể là tuổi điều trị 
bắt đầu sớm, đặc biệt là nhóm tuổi từ 1-3 tháng; 
thời gian điều trị đa số dài hơn 6 tháng; sự khác 
biệt về đặc điểm lâm sàng u máu và tỉ lệ bệnh 
nhân tuân thủ liệu trình điều trị tốt về liều thuốc 
sử dụng cũng như cách giảm liều Propranolol từ 
từ trước khi kết thúc điều trị. Dựa vào đặc điểm 
của các trường hợp tái phát u máu trong nghiên 
cứu, chúng tôi nhận thấy dường như không có 
sự tương quan giữa mức độ đáp ứng thuốc và 
sự tái phát u máu. Nghiên cứu của Shah SD ghi 
nhận tỉ lệ tái phát của những bệnh nhân ngừng 
điều trị trước 9 tháng tuổi là gấp đôi so với 
ngừng điều trị trong khoảng từ 12 đến 15 tháng 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 140 
tuổi. Giới tính nữ, vị trí trên đầu-cổ, u máu dạng 
phân đoạn và u máu dạng sâu hoặc hỗn hợp có 
liên quan đến sự tái phát u máu(2). Bệnh nhân u 
máu có các yếu tố tiên đoán này có thể cần một 
quá trình trị liệu kéo dài. 
KẾT LUẬN 
Hiệu quả của Propranolol trên bệnh nhân u 
máu của chúng tôi rất đáng khích lệ, TDP hạn 
chế và ít tái phát. Các yếu tố liên quan cho đáp 
ứng điều trị tốt với Propranolol là bắt đầu điều 
trị sớm trước 3 tháng tuổi, vị trí u không ở vùng 
mặt, u dạng nông, hình thái phân đoạn. Tỉ lệ tái 
phát u máu thấp (8,8%). Các yếu tố dự đoán cho 
sự tái phát bao gồm thời gian điều trị, u máu 
vùng mặt, u dạng sâu, hình thái u phân đoạn và 
giới tính nữ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Group HI, Haggstrom AN, Drolet BA, et al (2007). Prospective 
study of infantile hemangiomas: demographic, prenatal, and 
perinatal characteristics. J Pediatr, 150(3):291-294. 
2. Shah SD, Baselga E, McCuaig C, et al (2016). Rebound growth of 
infantile hemangiomas after propranolol therapy. Pediatrics, 
137(4):1-11. 
3. Léauté-Labrèze C, De La Roque ED, Hubiche T, et al (2008). 
Propranolol for severe hemangiomas of infancy. N Eng J Med, 
358(24):2649-2651. 
4. Kurta AO, Dai D, Armbrecht ES, Siegfried EC (2017). 
Prescribing propranolol for infantile hemangioma: Assessment 
of dosing errors. J Am Acad Dermatol, 76(5):999-1000. 
5. Zhang L, Wu H-W, Yuan W, et al (2017). Propranolol therapy 
for infantile hemangioma: our experience. Drug Des Devel Ther, 
11:1401-1408. 
6. Léauté-Labrèze C, Hoeger P, Mazereeuw-Hautier J, et al (2015). 
A randomized controlled trial of oral propranolol in infantile 
hemangioma. N Eng J Med, 372(8):735-746. 
7. Diệp Quế Trinh, Phạm Thuỵ Diễm, Lê Hữu Phước, Đoàn Bảo 
Duy (2018). Đánh giá kết quả điều trị u máu ở trẻ em bằng 
Propranolol. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):222-233. 
8. Krowchuk DP, Frieden IJ, Mancini AJ, et al (2019). Clinical 
practice guideline for the management of infantile 
hemangiomas. Pediatrics, 143(1):1-30. 
9. Zhang L, Yuan W-E, Zheng J-W (2016). Pharmacological 
therapies for infantile hemangiomas: A clinical study in 853 
consecutive patients using a standard treatment algorithm. Sci 
Rep, 6(1):1-8. 
10. Wu C, Guo L, Wang L, et al (2019). Associations between short-
term efficacy and clinical characteristics of infantile 
hemangioma treated by propranolol. Med, 98(6):143-146. 
11. Dong JY, Ning JX, Li K, Wang XX (2017). Analysis of factors 
affecting the therapeutic effect of propranolol for infantile 
haemangioma of the head and neck. Sci Rep, 7(1):1-5. 
12. Xiao Q, Li Q, Zhang B, Yu W (2013). Propranolol therapy of 
infantile hemangiomas: efficacy, adverse effects, and recurrence. 
Pediatr Surg Int, 29(6):575-581. 
13. Al-Mahdi AH, Al-Sada MA (2020). Assessment of Oral 
Propranolol Administration for Infantile Hemangioma in Oral 
and Maxillofacial Region Aided by Ultrasonography. J Craniofac 
Surg, 31(1):189-192. 
14. Ozeki M, Nozawa A, Kanda K, Kimura T (2016). Propranolol 
for infantile hemangioma: Effect on plasma vascular endothelial 
growth factor. Pediatr Int, 58(11):1130-1135. 
15. Stringari G, Barbato G, Zanzucchi M, Marchesi M, et al (2016). 
Propranolol treatment for infantile hemangioma: a case series of 
sixty-two patients. Pediatr Med Chir, 38(2):69-74. 
16. Mattassi R, Loose DA, Vaghi M (2015). Hemangiomas of 
Infancy: Epidemiology. In: Hemangiomas and Vascular 
Malformations: An Atlas of Diagnosis and Treatment, pp.55-59. 
Springer, Milano. 
17. Orozco-Covarrubias L, Lara-Mendoza L, Garrido-García LM, 
Ruiz-Maldonado R (2018). Therapy for involuting infantile 
hemangioma: Propranolol effectiveness. In J Paediatr Dermatol, 
19(2):120-123. 
Ngày nhận bài báo: 28/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_u_mau_nang_o_tre_em_bang_propranolol.pdf