Kết quả điều trị u lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

U lạc nội mạc tử cung (LNMTC) tái phát từ lâu đã được xem là

một thách thức trong thực hành lâm sàng. Việc điều trị triệt để u lạc

nội mạc vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Điều trị nội khoa và ngoại

khoa bảo tồn chỉ tạo ra một sự thuyên giảm tạm thời nhưng không

thể loại trừ tất cả các tổn thương vi thể, tổn thương sau phúc mạc.

Nghiên cứu được thực hiện trên 46 bệnh nhân được chẩn đoán u lạc

nội mạc tử cung tái phát tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương

Huế từ tháng 01/2011 đến tháng 08/2013 với mục tiêu đánh giá kết

quả điều trị của u lạc nội mạc tử cung tái phát. Kết quả cho thấy có

sự cải thiện về cường độ đau của các triệu chứng thống kinh, đau

vùng chậu không theo kỳ kinh, giao hợp đau và đại tiện khó trước và

sau điều trị. Chất lượng sống, chỉ số hài lòng tình dục tổng thể có sự

cải thiện rõ sau điều trị. Tỷ lệ có thai vào thời điểm 3 tháng sau khi

kết thúc điều trị là 20,0%

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị u lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị u lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Kết quả điều trị u lạc nội mạc tử cung tái phát tại khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN TUẤN, TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC
62
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Hoàng Thị Liên Châu, Châu Khắc Tú, Lê Sỹ Phương, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Thị Hoàn, Hoàng Thị Bích Ngọc
Bệnh viện Trung ương Huế 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG TÁI PHÁT 
TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tóm tắt
U lạc nội mạc tử cung (LNMTC) tái phát từ lâu đã được xem là 
một thách thức trong thực hành lâm sàng. Việc điều trị triệt để u lạc 
nội mạc vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Điều trị nội khoa và ngoại 
khoa bảo tồn chỉ tạo ra một sự thuyên giảm tạm thời nhưng không 
thể loại trừ tất cả các tổn thương vi thể, tổn thương sau phúc mạc. 
Nghiên cứu được thực hiện trên 46 bệnh nhân được chẩn đoán u lạc 
nội mạc tử cung tái phát tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương 
Huế từ tháng 01/2011 đến tháng 08/2013 với mục tiêu đánh giá kết 
quả điều trị của u lạc nội mạc tử cung tái phát. Kết quả cho thấy có 
sự cải thiện về cường độ đau của các triệu chứng thống kinh, đau 
vùng chậu không theo kỳ kinh, giao hợp đau và đại tiện khó trước và 
sau điều trị. Chất lượng sống, chỉ số hài lòng tình dục tổng thể có sự 
cải thiện rõ sau điều trị. Tỷ lệ có thai vào thời điểm 3 tháng sau khi 
kết thúc điều trị là 20,0%.
Abstract 
RESULTS OF RECURRENT ENDOMETRIOSIS 
TREATMENT AT THE OB/GYN DEPARTMENT, HUE 
CENTRAL HOSPITAL 
The study was performed on 46 patients diagnosed recurrent 
endometrial tumors at the Department of Ob/Gyn, Hue Central 
Hospital from January, 2011 to August, 2013 with the aim of 
evaluating the results of recurrence endometrial tumor treatment. 
The results showed an improvement in pain intensity of the 
symptoms: dysmenorrhoea, irregular pelvic pain, painful intercourse 
and difficult defecation before and after treatment. Quality of life, 
overall sexual satisfaction index has improved after the treatment. 
Pregnant rates at the time of 3 months after the end of treatment 
was 20.0%.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Liên Châu,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):25/04/2016
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 62 - 66, 2016
63
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
U lạc nội mạc tử cung là một trong những 
bệnh lý thường gặp trong phụ khoa, trong đó 
có sự hiện diện lạc chỗ của mô tuyến và mô 
đệm nội mạc tử cung nằm ngoài buồng tử cung 
và có liên quan đến đau vùng chậu và vô sinh. 
Mặc dù được miêu tả lần đầu cách đây hơn 300 
năm nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi 
về cơ chế sinh bệnh, nguyên nhân và thái độ 
xử trí [1].
Triệu chứng của u lạc nội mạc tử cung rất đa 
dạng, thường gặp nhất là thống kinh, giao hợp 
đau và đau vùng chậu mãn tính không theo chu 
kỳ. Ngoài triệu chứng đau u lạc nội mạc tử cung 
cũng có những tác động liên quan đến khả năng 
sinh sản, nguy cơ bị vô sinh ở các bệnh nhân u 
lạc nội mạc tử cung cao gấp 20 lần so với các 
bệnh nhân không bị u lạc nội mạc tử cung [2]. 
Việc điều trị triệt để u lạc nội mạc vẫn còn gặp 
nhiều khó khăn. Điều trị nội khoa và ngoại khoa 
bảo tồn chỉ tạo ra một sự thuyên giảm tạm thời 
nhưng không thể loại trừ tất cả các tổn thương 
vi thể, tổn thương sau phúc mạc. Khoảng 21,5% 
bệnh nhân tái phát sau 2 năm và từ 40 - 45% 
bệnh nhân có tái phát bệnh sau 5 năm [3]. 
U lạc nội mạc tử cung tái phát từ lâu đã được 
công nhận là một vấn đề nghiêm trọng. Việc 
loại bỏ hay giảm tái phát hiện nay chưa thực sự 
có hiệu quả. Tái phát sau phẫu thuật xảy ra do 
tổn thương còn sót lại của u lạc nội mạc tử cung. 
Tốc độ tăng trưởng vi thể của u lạc nội mạc tử 
cung không thể phát hiện qua phẫu thuật.
Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về sự tái 
phát của u lạc nội mạc tử cung cũng như các yếu 
tố tác động đến sự tái phát của bệnh. Hầu hết 
các nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của từng 
yếu tố như: hiệu quả điều trị nội khoa trước phẫu 
thuật hoặc điều trị nội khoa sau phẫu thuật, so 
sánh các phương pháp phẫu thuật trong u lạc 
nội mạc tử cung, đánh giá kết quả nội soi điều 
trị bệnh nhân vô sinh có u lạc nội mạc tử cung
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến 
hành đề tài: “Nghiên cứu kết quả điều trị u lạc 
nội mạc tử cung tái phát tại khoa Phụ sản – 
Bệnh viện Trung ương Huế” nhằm mục tiêu đánh 
giá kết quả điều trị của u lạc nội mạc tử cung 
tái phát.
2. Đói tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng 
nghiên cứu gồm 46 BN được chẩn đoán u 
LNMTC tái phát vào điều trị tại khoa Phụ Sản 
Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 01/2011 
đến tháng 8/2013.
* Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
- Tiền sử: đã được chẩn đoán xác định bằng 
giải phẫu bệnh và điều trị u lạc nội mạc tử cung.
- Lâm sàng có triệu chứng của u lạc nội mạc 
tử cung: thống kinh, đau vùng chậu không theo 
kỳ kinh, giao hợp đau, đại tiện khó, có khối u 
phần phụ.
- Siêu âm: Có sự hiện diện tiêu chuẩn điển hình 
của u lạc nội mạc tử cung (khối echo giảm âm, 
dạng gương mờ) với đường kính >2cm [4].
- Bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh là u LNMTC.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang
2.2.1. Các bước tiến hành:
Các bệnh nhân sau khi được chẩn đoán là u lạc 
nội mạc tử cung tái phát, chúng tôi tiến hành điều 
trị theo phác đồ như sau:
- Khám lâm sàng thấy có viêm dính nhiều vùng 
chậu, tử cung kém di động, thâm nhiễm trực tràng 
âm đạo. Điều trị nội khoa trước phẫu thuật:
+ Bước 1: Điều trị nội khoa bằng Goserelin 
acetate (Zoladex) liều 3,6mg tiêm dưới da thành 
bụng trước mỗi 28 ngày, tiêm ba liều và liều đầu 
tiên vào ngày đầu hành kinh.
+ Bước 2: Điều trị ngoại khoa, chúng tôi hẹn 
bệnh nhân nhập viện để phẫu thuật 15 ngày sau 
khi kết thúc đợt điều trị thứ ba. Trong quá trình 
phẫu thuật đánh giá mức độ lạc nội mạc tử cung 
theo AFS.
• Độ I - II: không điều trị nội khoa sau phẫu thuật
• Độ III - IV: điều trị nội khoa sau phẫu thuật
- Khám lâm sàng không viêm dính hay viêm 
dính nhẹ. 
+ Bước 1: Điều trị ngoại khoa. Trong quá trình 
phẫu thuật đánh giá mức độ lạc nội mạc tử cung 
theo AFS.
• Độ I - II: không điều trị nội khoa sau phẫu thuật
• Độ III - IV: điều trị nội khoa sau phẫu thuật
+ Bước 2: Điều trị nội khoa sau phẫu thuật bằng 
3. Kết quả nghiên cứu
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa cường 
độ đau của các triệu chứng thống kinh, đau vùng 
chậu không theo kỳ kinh, giao hợp đau và đại tiện 
khó trước và sau điều trị (p < 0,05).
Có 35 trường hợp đau vùng chậu mức độ trung 
bình và nặng trước điều trị chiếm tỷ lệ 76,1%. Sau 
điều trị có 73,9% trường hợp không còn triệu chứng 
đau vùng chậu.
Có 37 trường hợp thống kinh mức độ trung bình và 
nặng trước điều trị chiếm tỷ lệ 80, 5%. Sau điều trị có 
80,4% trường hợp không còn triệu chứng thống kinh.
Có 41,3% trường hợp giao hợp đau mức độ 
trung bình và nặng trước điều trị.
Sau điều trị giao hợp không đau và đau nhẹ 
chiếm tỷ lệ là 91,3% và 8,7%.
Có 19,5% trường hợp đại tiện khó mức độ trung 
bình và nặng trước điều trị.
Sau điều trị không có trường hợp nào đại tiện 
khó mức độ trung bình và nặng.
HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN TUẤN, TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC
64
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Goserelin acetate (Zoladex) liều 3,6mg tiêm dưới 
da thành bụng trước mỗi 28 ngày, tiêm ba liều, 
liều đầu tiên vào ngày đầu hành kinh của chu kỳ 
kế tiếp ngay sau phẫu thuật.
2.2.2. Theo dõi và đánh giá sau điều trị:
Vào thời điểm 3 tháng sau kết thúc điều trị 
chúng tôi ghi nhận:
- Sự thay đổi của các triệu chứng thống kinh, 
đau vùng chậu không theo kỳ kinh, giao hợp đau, 
đại tiện khó theo thước đo cảm giác đau so với 
trước điều trị.
- Chất lượng sống liên quan đến sức khỏe theo 
EQ VAS và chỉ số hài lòng tình dục tổng thể so với 
trước điều trị.
- Tỷ lệ có thai sau điều trị.
2.2.3. Các tiêu chuẩn đánh giá
2.2.3.1. Cường độ triệu chứng đau, chất lượng 
sống và chất lượng tình dục
* Cường độ triệu chứng đau được đánh giá theo 
thước đo cảm giác đau và được phân chia mức độ 
theo Vercellini và cs (2007) [ 5]:
- Đau nhẹ: 1-50 điểm
- Đau vừa: 51-80 điểm
- Đau nặng: 81-100 điểm
* Đánh giá chất lượng sống theo EQ VAS [6]:
- Tình trạng sức khỏe tốt nhất được đánh dấu ở 
mức 100 điểm.
- Tình trạng sức khỏe kém nhất được đánh dấu 
ở mức 0 điểm.
- Người bệnh sẽ tự đánh giá tình trạng sức khỏe 
của mình bằng cách vẽ một đường từ hộp “tình 
trạng sức khỏe của bản thân hiện tại” đến điểm 
thích hợp trên thước đo EQ VAS.
* Đánh giá chất lượng tình dục: theo chỉ số hài 
lòng tình dục tổng thể (Global Sexual Satisifaction 
Index) [7]. BN tự đánh giá sự hài lòng tình dục theo 
thang đo 9 điểm, trong đó:
- Mức 0 điểm tương ứng với chất lượng tình dục 
xấu nhất.
- Mức 9 điểm tương ứng với chất lượng tình dục 
tốt nhất.
2.2.3.2. Đánh giá mức độ bệnh LNMTC theo 
AFS [8]
Độ I: Nhẹ 1-5 điểm
Độ II: Trung bình 6-15 điểm
Độ III: Nặng 16-40 điểm
Độ IV: Rất nặng > 40 điểm
Cường độ
Triệu chứng
Trước điều trị
TB ± ĐLC
Sau điều trị
TB ± ĐLC P
Đau vùng chậu 57,8 ± 5,0 3,2 ± 0,9 < 0,05
Thống kinh 62,9 ± 3,8 2,3 ± 0,9 < 0,05
Giao hợp đau 34,8 ± 5,1 0,7 ± 0,4 < 0,05
Đại tiện khó 17,2 ± 4,2 1,1 ± 0,5 < 0,05
Bảng 3.1. Thay đổi cường độ triệu chứng đau trước và sau điều trị
Không đau Nhẹ TB Nặng
N % N % N % N %
Trước điều trị 11 23,9 0 0 21 45,7 14 30,4
Sau điều trị 34 73,0 12 26,1 0 0 0 0
Bảng 3.2. Thay đổi triệu chứng đau vùng chậu trước và sau điều trị
Không đau Nhẹ TB Nặng
N % N % N % N %
Trước điều trị 5 10,9 4 8,7 28 60,9 9 19,6
Sau điều trị 28 80,4 7 19,6 0 0 0 0
Bảng 3.3. Thay đổi triệu chứng thống kinh trước và sau điều trị
Không đau Nhẹ TB Nặng
N % N % N % N %
Trước điều trị 22 47,8 5 10,9 17 37,0 2 4,3
Sau điều trị 42 91,3 4 8,7 0 0 0 0
Bảng 3.4. Thay đổi triệu chứng giao hợp đau trước và sau điều trị
Không đau Nhẹ TB Nặng
N % N % N % N %
Trước điều trị 33 71,7 4 8,7 7 15,2 2 4,3
Sau điều trị 42 91,3 4 8,7 0 0 0 0
Bảng 3.5. Thay đổi triệu chứng đại tiện khó trước và sau điều trị
Điểm số chất lượng sống trước điều trị là 55,7 ± 
11,4, sau điều trị là 87,0 ± 5,5.
Chỉ số hài lòng tình dục tổng thể trước điều trị 
là 3,8 ± 1,2, sau điều trị là 8,0 ± 0,9.
Có 7 trường hợp có thai trên tổng số 35 bệnh 
nhân (không tính 11 trường hợp BN đã cắt tử 
cung toàn phần) sau kết thúc điều trị 3 tháng 
chiếm tỷ lệ 20,0%
4. Bàn luận
1. Thay đổi triệu chứng cơ năng, chất lượng 
sống và chỉ số hài lòng tình dục sau điều trị
 LNMTC có tác động không tốt đến chất 
lượng sống. Vì vậy việc điều trị nhằm nâng cao 
chất lượng cuộc sống là điều cần thiết. Ở BN u 
LNMTC đánh giá hiệu quả điều trị hầu hết dựa 
vào việc đánh giá triệu chứng đau và tình trạng 
vô sinh. Trong lĩnh vực điều trị cải thiện triệu 
chứng đau, phương thức điều trị được lựa chọn 
là điều trị nội khoa. Có nhiều nghiên cứu đã tập 
trung vào các phương pháp điều trị bởi các loại 
thuốc khác nhau như các loại thuốc giảm đau từ 
non-steroid, thuốc tránh thai, progestin, các loại 
nội tiết danazol, các chất đồng vận GnRH nhằm 
đánh giá hiệu quả của từng loại thuốc, từng loại 
liều và cân nhắc với tác dụng phụ cũng như đáp 
ứng với từng bệnh nhân. Điều trị ngoại khoa 
được chỉ định khi triệu chứng đau trầm trọng 
hay cấp tính, điều trị nội khoa thất bại (không 
giảm đau) và bệnh có những dấu hiệu đang tiến 
triển nhiều [9].
Trong nghiên cứu của chúng tôi có sự cải 
thiện rõ rệt về cường độ đau của các triệu chứng 
thống kinh, đau vùng chậu không theo kỳ kinh, 
giao hợp đau và đại tiện khó, chất lượng cuộc 
sống và chỉ số hài lòng tình dục tổng thể sau 
điều trị (p < 0,05) với thời gian theo dõi 3 tháng. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 62 - 66, 2016
65
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Thời điểm
Triệu chứng
Trước điều trị
TB ± ĐLC
Sau điều trị
TB ± ĐLC P
Chất lượng sống theo EQ VAS 55,7 ± 11,4 87,0 ± 5,5
< 0,05
Chỉ số hài lòng tình dục tổng thể 3,8 ± 1,2 8,0 ± 0,9
Bảng 3.6. Chất lượng sống và chỉ số hài lòng tình dục trước và sau điều trị 
Có thai sau điều trị N %
Có thai 7 20,0
Không có thai 28 80,0
Tổng 35 100
Bảng 3.7. Tỉ lệ có thai chung sau điều trị
Kết quả này cũng tương tự kết quả của Abott JA 
và cs, Ferrero S. và cs [10].
2. Tỉ lệ có thai chung sau điều trị
Vô sinh cũng là một trong những mục tiêu 
của việc điều trị u LNMTC. Tỉ lệ có thai dao động 
từ 23% - 67% sau phẫu thuật u LNMTC [11]. 
Trong một phân tích gộp so sánh phẫu thuật với 
các biện pháp điều trị không phẫu thuật ở tất cả 
các giai đoạn, người ta nhận thấy phẫu thuật 
đem lại tỉ lệ có thai cao hơn và khi so sánh phẫu 
thuật nội soi và mổ hở so với các biện pháp 
không phẫu thuật khác thì biện pháp phẫu thuật 
cũng đem lại hiệu quả cao hơn. Theo Trần Đình 
Vinh tỉ lệ có thai tích luỹ sau 12 tháng là 36,6% 
và đa số là bệnh nhân có thai trong khoảng thời 
gian 5 tháng đầu sau mổ [12]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi tỷ lệ có thai lại sau phẫu thuật là 
7 trường hợp chiếm tỷ lệ 20,0%. Tỷ lệ của chúng 
tôi thấp hơn vì chúng tôi không tách riêng nhóm 
vô sinh mà tính tỷ lệ có thai chung sau phẫu 
thuật do cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ.
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cũng 
đã nổ lực trong việc tìm hiểu điều trị u LNMTC 
nói chung và u LNMTC gây vô sinh nói riêng 
để đi đến một sự thống nhất cao trong lựa chọn 
phương pháp điều trị. Đến nay vẫn còn nhiều 
tranh cãi, vẫn chưa có giải pháp triệt để nào để 
có hiệu quả cao nhất, dù là điều trị nội khoa, 
ngoại khoa, ngoại khoa hỗ trợ sinh sản, hay 
phối hợp các điều trị với nhau. Cần có nhiều 
nghiên cứu hơn nữa để hy vọng trong một tương 
lai gần mọi phụ nữ u LNMTC đều có cơ hội chọn 
lựa khả năng sinh sản của mình [13].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 46 bệnh nhân u LNMTC tái 
phát ở buồng trứng được điều trị tại Khoa Phụ sản 
Bệnh viện Trung ương Huế chúng tôi rút ra các kết 
luận sau: 
- Có sự cải thiện về cường độ đau của các triệu 
chứng thống kinh, đau vùng chậu không theo kỳ 
kinh, giao hợp đau và đại tiện khó trước và sau 
điều trị (p < 0,05).
- Chất lượng sống, chỉ số hài lòng tình dục tổng 
thể cũng có sự cải thiện rõ sau điều trị (p < 0,05).
- Tỷ lệ có thai vào thời điểm 3 tháng sau khi kết 
thúc điều trị là 20,0%.
HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, CHÂU KHẮC TÚ, LÊ SỸ PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN TUẤN, TRẦN THỊ HOÀN, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC
66
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. Adamson G. D., Pasta D. J. Endometriosis fertility index: the new, 
validated endometriosis staging system, Fertil Steril; 2009. p. 192-197.
2. Busacca M., Chiaffarino F., Sci B., et al. Determinants of long-
term clinically detected recurrence rates of deep, ovarian, and pelvic 
endometriosis, American Journal of Obstetrics and Gynecology. 
2006; p. 26-32.
3. Guo SW, Recurrence of endometriosis and its control. Human 
Reproduction Update. 2009;15(4): 441-461.
4. Kikuchi I, Takeuchi H, Kitade M. Recurrence rate of endometriomas 
following a laparoscopic cystectomy. Acta Obstetricia et Gynecologica. 
2006; 85:120-1124.
5. Vercellini P., Fedele L., Aimi G. Association between endometriosis 
stage, lesion type, patient characteristics and severity of pelvic pain 
symptoms: a multivariate analysis of over 1000 patients, Human 
Reproduction; 2007. 22(1), p.266-271.
6. Rabin R., Oemar M., Oppe M., et al. EQ-5D-5L User Guide, EuroQol 
Group; 2011. p.1-28.
7. Ferrero S., Esposito F., Abbamonte L. H., et al. Quality of sex life in 
women with endometriosis and deep dyspareunia, Fertility and Sterility; 
2005.83(3). p.573-579.
8. Overton C., Davis C., McMillan L., et al. An Atlas of Endometriosis, 
The Parthenon Publishing Group; 2007.
9. Nguyễn Thị Thanh Mai. Khảo sát yếu tố liên quan tái phát lạc nội 
mạc tử cung ở buồng trứng. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú; 2007.
10. Abbott J. A., Hawe J., Clayton R. D., et al. The effects 
and effectiveness of laparoscopic excision of endometriosis: a 
prospective study with 2 ± 5 year follow-up, Human Reproduction; 2003; 
18(9), p.1922-1927.
11. Busacca M., Chiaffarino F., Sci B., et al. Determinants of long-
term clinically detected recurrence rates of deep, ovarian, and pelvic 
endometriosis, American Journal of Obstetrics and Gynecology; 
2006. p. 26-32.
12. Trần Đình Vinh . Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
và giá trị của siêu âm doppler màu trong chẩn đoán và theo dõi kết 
quả u lạc nội mạc tử cung. Luận án Tiến sĩ y học. Trường Đại học Y 
Dược Huế; 2010.
13. Nguyễn Văn Tuấn. Nghiên cứu kết quả điều trị u lạc nội mạc 
tử cung ở buồng trứng bằng phẫu thuật phối hợp với liệu pháp hỗ 
trợ chất đồng vận GnRH. Luận án Tiến sĩ y học. Trường Đại Học Y 
Dược Huế; 2012.
 được bán ở
 Hà Nội, Hải Phòng: Các shop sữa gần Bệnh Viện Phụ Sản
 TP. HCM: Hệ thống shop "ConCưng.com"

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_u_lac_noi_mac_tu_cung_tai_phat_tai_khoa_phu.pdf