Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014

Phẫu thuật là phƣơng pháp điều trị cơ bản chấn thƣơng ngực kín. Đa số chấn thƣơng ngực kín đƣợc xử trí bằng dẫn lƣu màng phổi, chỉ có một tỷ lệ nhỏ phải mở ngực. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội từ 1/2012 đến 12/2014 trên 113 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín điều trị bằng phẫu thuật nhằm nêu một số nhận xét về đặc điểm triệu chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật các trƣờng hợp chấn thƣơng ngực kín. Tuổi trung bình 46,6  16,9, nam giới 85%. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (60,2%). Thể bệnh chính là tràn máu tràn khí màng phổi (53,1%). Các tổn thƣơng đi kèm nhƣ chấn thƣơng sọ não (12,38%), chấn thƣơng bụng kín (14,1%), xƣơng khớp (30,1%). Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lƣu màng phổi (93%), chỉ có 7% phải mở ngực. Kết quả ghi nhận tốt (71,7%), trung bình (15,1%), xấu (3,5%), tử vong (8,8%), sai sót và biến chứng là 51,3%

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014

Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN  
 3 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN 
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012-2014 
Đoàn Duy Hùng *, Đoàn Quốc Hưng ** 
TÓM TẮT: Phẫu thuật là phƣơng pháp điều trị cơ 
bản chấn thƣơng ngực kín. Đa số chấn thƣơng ngực 
kín đƣợc xử trí bằng dẫn lƣu màng phổi, chỉ có một tỷ 
lệ nhỏ phải mở ngực. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh 
viện Xanh Pôn Hà Nội từ 1/2012 đến 12/2014 trên 
113 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín điều trị bằng 
phẫu thuật nhằm nêu một số nhận xét về đặc điểm 
triệu chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật 
các trƣờng hợp chấn thƣơng ngực kín. Tuổi trung bình 
46,6 16,9, nam giới 85%. Nguyên nhân chủ yếu là 
tai nạn giao thông (60,2%). Thể bệnh chính là tràn 
máu tràn khí màng phổi (53,1%). Các tổn thƣơng đi 
kèm nhƣ chấn thƣơng sọ não (12,38%), chấn thƣơng 
bụng kín (14,1%), xƣơng khớp (30,1%). Phẫu thuật 
chủ yếu là dẫn lƣu màng phổi (93%), chỉ có 7% phải 
mở ngực. Kết quả ghi nhận tốt (71,7%), trung bình 
(15,1%), xấu (3,5%), tử vong (8,8%), sai sót và biến 
chứng là 51,3%. 
SUMMARY: Surgery is the basic treatment of 
blunt chest injury (BCI). Most of thoracic injuries are 
managed with simple maneuvers such as a tube 
thoracostomy, only a small number requires definitive 
operative repair. Our researches at Saint Paul Hospital 
of Ha Noi from January 2012 to December 2014 
conducted on 113 blunt chest patients treated with 
surgical procedure, in order to note down some 
characteristics of symptoms, injuries and treatment 
results. The average age was 46,6 16,9, male took 
up 85%. Types of BCI was oftenly caused by traffic 
accidents (60,2%). The main kind of BCI was 
hemopneumothorax (53,1%). Side injuries included 
brain injury (12,38%), abdominal trauma (14,1%), 
orthopedic trauma (30,1%). Conducted procedure was 
mostly chest drainage (93%), only 7% among cases 
required thoracotomy. Opperative results included 
good signs (71,7%), average (15,1%), bad (3,5%), 
death (8,8%), complications(51,3%). 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Chấn thƣơng ngực kín rất thƣờng gặp trong cấp 
cứu ngoại khoa ở mọi tuyến y tế và có tỉ lệ cao ở các 
bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố [1],[7]. Các nguyên 
nhân của chấn thƣơng ngực kín là tai nạn giao thông, 
tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt, đặc biệt nguyên 
nhân do tai nạn giao thông ngày càng tăng theo thời 
gian [1],[2],[4], tổn thƣơng nặng, nguy cơ tử vong 
cao. Chấn thƣơng ngực kín gây nên những tổn thƣơng 
giải phẫu ở lồng ngực dẫn đến những rối loạn sinh lý 
bệnh nhanh chóng trên cơ quan hô hấp và tuần hoàn, 
ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng của 
bệnh nhân, đòi hỏi phải đƣợc phát hiện và chẩn đoán 
nhanh, xử trí kịp thời, chính xác mới có thể cứu sống 
bệnh nhân, giảm tỉ lệ thƣơng tật. Ngoài những trƣờng 
hợp chấn thƣơng ngực kín cần cấp cứu tức thì vẫn còn 
những trƣờng hợp tổn thƣơng phổi và màng phổi xuất 
hiện muộn cần đƣợc theo dõi, phát hiện và can thiệp, 
tránh bỏ sót. Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại 
Bệnh viện Xanh Pôn, tuyến cuối về ngoại khoa của Sở 
y tế Hà Nội với mục tiêu nhận xét về đặc điểm triệu 
chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật chấn 
thƣơng ngực kín giai đoạn 2012-2014. * 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng 
Tất cả bệnh nhân bị chấn thƣơng ngực kín đƣợc 
phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi hay mở ngực tại bệnh 
viện Xanh Pôn-HN từ 01/2012 12/2014. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Mô tả, hồi cứu. Tất cả các bệnh nhân đều đƣợc 
xác định các chỉ tiêu nghiên cứu theo một mẫu nghiên 
cứu thống nhất, chú trọng các chỉ tiêu về triệu chứng 
lâm sàng, XQ lồng ngực, siêu âm màng phổi cấp cứu, 
phƣơng pháp phẫu thuật và kết quả ban đầu.Sử dụng 
phần mềm SPSS 16.0 để phân tích và xử lý số liệu. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Có 113 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu với 
các đặc điểm nhƣ sau 
3.1. Đặc điểm dịch tễ 
- Giới: Nam: 96 (85%), Nữ: 17 (15%), tỉ lệ Nam/Nữ 
là 5,64. Tuổi: từ 7 đến 81, trung bình 46,6 16,9 
* Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn 
**Trường Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 4 
Bảng 1: Tỉ lệ theo nhóm tuổi (nhóm tuổi theo 
WHO) (n=113) 
Nhóm tuổi n (Bệnh nhân) Tỷ lệ (%) 
< 20 7 6.2 
20 - 39 31 27.4 
40 - 59 53 46.9 
≥ 60 22 19.5 
Tổng 113 100 
Bảng 2: Nguyên nhân tai nạn (N=113) 
Nguyên nhân 
n 
(Bệnh 
nhân) 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Tổng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
TN 
giao 
thông 
Tự ngã xe 
máy 
38 33,6 
68 60,2 
Va chạm với 
PTGT khác 
30 26,6 
Tai 
nạn 
lao 
động 
Ngã cao 11 9,7 
12 10,6 
Bị đè ép 1 0,9 
Tai 
nạn 
sinh 
hoạt 
Bị ngã 23 20,4 
33 29,2 
Bị đánh 10 8,9 
Tổng 113 100 113 100 
Bảng 3: Tổn thương lồng ngực và tổn thương 
phối hợp ở cơ quan khác (N=113) 
Tổn thƣơng ngực Số lƣợng BN Tỷ lệ (%) 
Đơn thuần 58 51,3 
Phối hợp 
Bụng 16 14,15 
Sọ não 14 12,38 
Xƣơng khớp 34 30,08 
Bảng 4: Tổn thương giải phẫu của lồng ngực 
(n=113) 
Tổn thƣơng 
Số lƣợng 
BN 
Tỷ lệ 
(%) 
Gẫy xƣơng sƣờn 96 80,5 
Mảng sƣờn di động 7 6,2 
Vỡ cơ hoành 2 1,8 
Rách phổi 2 1,8 
Dập phổi 6 5,4 
Tổn thƣơng mạch máu lớn 3 2,7 
Bảng 5: Đặc điểm tổn thương khoang màng 
phổi (n=113) 
Tổn thƣơng 
khoang màng phổi 
n 
(bệnh 
nhân) 
Tỷ 
lệ 
(%) 
Tổng 
Tỷ 
lệ 
(%) 
TMMP 
Bên phải 14 12,4 
44 39,0 Bên trái 25 22,1 
Hai bên 5 4,4 
TKMP 
Bên phải 7 6,2 
9 7,9 Bên trái 2 1,8 
Hai bên 0 0 
Bên phải 20 17,7 
60 53,1 Bên trái 28 24,8 
Hai bên 12 10,6 
Bảng 6: Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng 
(n=113) 
Đặc điểm triệu chứng 
Số 
lƣợng 
Tỷ lệ % 
Suy hô hấp 57 51,4 
Sốc 17 15 
Đau ngực 99 87,6 
Khó thở 57 51,4 
Bầm tím, tụ máu, xây xát 
da thành ngực 
38 33,6 
Điểm đau chói khi nắn 
thành ngực 
79 69,9 
Biến dạng lồng ngực 18 16,0 
Mảng sƣờn di động 7 6,2 
Tràn khí dƣới da 24 21,2 
Rì rào phế nang giảm, mất 80 79,8 
Gõ vang vùng cao 23 20,4 
Gõ đục vùng thấp 29 25,7 
Chọc dò màng phổi ra máu, 
khí 
18 15,92 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN  
 5 
Bảng 7: Hình ảnh tổn thương trên phim XQ 
ngực và siêu âm màng phổi (n=113) 
Hình ảnh tổn thƣơng Số lƣợng Tỷ lệ % 
Gãy xƣơng sƣờn 96 84,9 
Mảng sƣờn di động 7 6,2 
Vỡ cơ hoành 1 0,9 
Tràn khí dƣới da 24 21,2 
Tràn máu màng phổi 38 33,6 
Tràn khí màng phổi 9 7,9 
Tràn máu tràn khí màng phổi 56 53,1 
Siêu âm màng phổi có dịch 104 92,1 
3.2.Xử trí 
Bảng 8: Đặc điểm chung phẫu thuật chấn 
thương ngực kín (n=113) 
Đặc điểm Số lƣợng 
Tỷ lệ 
% 
Phƣơng pháp 
phẫu thuật 
Dẫn lƣu màng 
phổi 
105 93 
Mở ngực 8 7 
Thời gian từ 
khi vào viện 
tới khi phẫu 
thuật 
<1h 24 21,2 
1h – 6h 31 27,4 
>6h – 24h 10 8,8 
>24h 48 42,5 
Phẫu thuật 
phối hợp trên 
cơ quan khác 
Bụng 16 14,1 
Sọ não và 
xƣơng khớp 
8 7,2 
Nhận xét: Thời gian trung bình: 38,8 4,8 giờ, 
ngắn nhất là 0,18 giờ, dài nhất là 192 giờ. 
Bảng 9: Đặc điểm phẫu thuật dẫn lưu màng 
phổi (n=113) 
Đặc điểm 
Số lƣợng 
BN 
Tỷ lệ 
% 
Chỉ định 
Tràn máu màng 
phổi 
44 38,9 
Tràn khí màng 
phổi 
9 7,9 
Tràn máu tràn 
khí màng phổi 
60 53,1 
Thực hiện trong phòng mổ 54 47,7 
Phẫu thuật viên chuyên khoa 69 61,1 
Dẫn lƣu màng phổi đơn thuần 96 84,9 
Dẫn lƣu màng phổi cấp cứu 64 56,6 
Dẫn lƣu màng phổi sau 24 giờ 49 43,3 
Đặt 2 dẫn lƣu vào một khoang 
màng phổi 
5 4,4 
Dẫn lƣu khoang màng phổi hai 
bên 
13 11,5 
Bảng 10: Đặc điểm phẫu thuật mở ngực cấp cứu 
(n=8) 
Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ % 
Chỉ 
định 
Tràn máu màng 
phổi 
4 50 
Tràn máu màng tim 1 12,5 
ổ cặn màng phổi 3 2,7 
Phân 
loại 
Sau dẫn lƣu màng 
phổi 
5 62,5 
Thì 2 3 37,5 
Đƣờng 
mổ 
Khoang liên sƣờn 5 4 50 
Mở dọc xƣơng ức 1 12,5 
Nội soi 3 37,5 
Xử trí 
Khâu phổi 3 37,5 
Cầm máu 4 50 
Dọn ổ cặn,bóc vỏ 
phổi 
3 37,5 
Khâu cơ hoành 1 12,5 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 6 
Bảng 11 : Kết quả chung 
Kết quả Số lƣợng Tỷ lệ % 
Tốt 81 71,7 
Trung bình 18 15,1 
Xấu 4 3,5 
Tử vong 10 8,8 
Bảng 12 : Sai sót và biến chứng của phẫu thuật 
dẫn lưu màng phổi (n=58) 
Sai sót và biến chứng Số lƣợng 
BN 
Tỷ lệ 
(%) 
Chẩn đoán không đúng thể 
bệnh và chỉ định cách thức 
phẫu thuật không chính xác 
1 1,72 
 Vị trí đặt dẫn lƣu không đúng 1 1,72 
Cỡ ống dẫn lƣu không đúng 10 17,24 
Dẫn lƣu đặt không vào 
khoang màng phổi 
1 1,72 
Phát hiện muộn, bỏ sót tổn 
thƣơng khoang màng phổi 
11 18,96 
Còn dịch, khí màng phổi sau 
rút dẫn lƣu màng phổi 
12 20,68 
Xẹp phổi 4 6,89 
Tụt ống dẫn lƣu do cố định 
không chắc 
5 8,62 
Ống dẫn lƣu đặt quá sâu 
(>16 cm) 
3 5,17 
Tràn dịch màng phổi tái phát 
sau rút dẫn lƣu màng phổi 
7 12,06 
Ổ cặn màng phổi 3 5,17 
Tổng sai sót và biến chứng 
chung 
58 100 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Tuổi và giới: Chấn thƣơng ngực kín xảy ra 
chủ yếu ở nam giới (85%), nam/nữ là 5,64. Tuổi 
trung bình của bệnh nhân 46,67 ± 16,97 (7-81 tuổi). 
Lứa tuối hay gặp nhất là 40-59 (46,93%). Nhƣ vậy 
số bệnh nhân ở độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ khá cao 
là 73,48% (bảng 1). Các số liệu này khá tƣơng đồng 
với nhiều nghiên cứu khác [1],[6],[7],[8]. 
4.2. Nguyên nhân tai nạn: Có ba nhóm nguyên 
nhân gây ra chấn thƣơng ngực kín là tai nạn giao 
thông (59,3%), tai nạn lao động (9,7%), và tai nạn 
sinh hoạt (31%), trong đó số bệnh nhân tự ngã xe 
máy là 33,6% và ngã tại nhà là 20,4%. Số liệu này 
cho thấy tai nạn giao thông vẫn là nguyên nhân cơ 
bản nhất, chiếm tỷ lệ cao ở tất cả các nhóm tuổi. Tai 
nạn sinh hoạt cũng có tỷ lệ khá cao so với những 
nghiên cứu khác, chủ yếu gặp ở ngƣời cao tuổi, có 
thể giải thích là do tuổi thọ ngày càng cao cùng tiện 
nghi phức tạp của đời sống đô thị. Nhận xét này 
hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Đặng Ngọc 
Hùng với các tỷ lệ tƣơng ứng là 64,7%, 14,4% và 
20,7% [6]. 
4.3. Tổn thương giải phẫu: Số BN chấn thƣơng 
ngực kín đơn thuần chiếm tỷ lệ 51,3%, còn lại 
48,7% có kèm chấn thƣơng ở những cơ quan khác 
nhƣ bụng (14,2%), sọ não (12,4%), xƣơng khớp 
(20,1%). Các tổn thƣơng phối hợp khi thì nổi trội 
che lấp biểu hiện của chấn thƣơng ngực nhƣng cũng 
có khi kín đáo dễ bị bỏ sót dẫn tới những sai lầm 
đáng tiếc trong theo dõi và xử lý cấp cứu. Số liệu 
này của chúng tôi có cao hơn Đặng Ngọc Hùng có 
8,6% tổn thƣơng phối hợp [6]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi đa số bệnh nhân có gãy xƣơng sƣờn 
(89,5%), trong đó 6,2% có mảng sƣờn di động. 
Nhận xét này cũng phù hợp với các nghiên cứu 
khác trong và ngoài nƣớc, tỷ lệ này của Đặng Ngọc 
Hùng là 93,5% [6], của J.Hugh Devitt là 67,3% [2], 
theo Liman mảng sƣờn di động là 17% [8]. 
4.4. Tổn thương khoang màng phổi: Tất cả các 
bệnh nhân đều có tổn thƣơng khoang màng phổi, 
trong đó có 36,3 % gặp ở bên phải, 48,7% gặp ở 
bên trái, 15% tổn thƣơng cả 2 bên. Có 39% là tràn 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN  
 7 
máu màng phổi, 7,9% là tràn khí màng phổi và 
53,1% là tràn máu tràn khí màng phổi. Đáng lƣu ý 
là có 19,5% tổn thƣơng khoang màng phổi mà 
không có gãy xƣơng sƣờn. Theo Đoàn Anh Tuấn có 
5,3% số trƣờng hợp không có gãy xƣơng sƣờn 
nhƣng có khí, máu trong khoang màng phổi [10]. 
Trong số 482 bệnh nhân chán thƣơng ngực kín của 
Liman có 6,7% có tổn thƣơng màng phổi mà không 
có gãy xƣơng sƣờn [8]. Theo Nguyễn Hữu Ƣớc trên 
411 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín thì tràn máu 
màng phổi là 3,0%, tràn khí màng phổi là 9,2% và 
tràn máu tràn khí màng phổi là 80,8% [7]. Đáng chú 
ý là có 43,2% tổn thƣơng khoang màng phổi không 
xuất hiện ngay sau chấn thƣơng, các triệu chứng 
lâm sàng và cận lâm sàng chƣa rõ ràng nhƣng bệnh 
nhân vẫn đƣợc nhập viện điều trị nội trú, theo dõi 
sát về lâm sàng, XQ ngực, siêu âm màng phổi trong 
những ngày sau để có chẩn đoán xác định và xử trí 
kịp thời, triệt để, tránh biến chứng mủ hay dày dính 
màng phổi. 
4.5. Tổn thương phối hợp: 14,1% số trƣờng 
hợp có tổn thƣơng bụng phối hợp gồm vỡ gan 
(4,4%), vỡ lách (7,1%), rách mạc treo ruột (1,8%), 
vỡ ống tiêu hóa (2,7%) là những tổn thƣơng nặng 
đe dọa tính mạng. Có 12,3% kèm chấn thƣơng sọ 
não đều là những tổn thƣơng không phải mổ. Chấn 
thƣơng xƣơng khớp phối hợp chiếm tỷ lệ cao nhất 
là 30,1%, trong đó đa số là gãy xƣơng đòn (15%), 
gãy xƣơng bả vai (8,8%), gãy cột sống (2,7%) và 
gãy xƣơng chi (5,3%), không phải là những tổn 
thƣơng trầm trọng. Những tổn thƣơng bụng phối 
hợp với chấn thƣơng ngực kín làm cho tình trạng 
bệnh nhân thêm phức tạp, đôi khi nổi bật che lấp 
các triệu chứng của chấn thƣơng ngực, nếu không 
khám xét tỉ mỉ, toàn diện có thể bỏ sót chấn thƣơng 
ngực kín. Có nhiều trƣờng hợp phải mổ cấp cứu 
ngay do chấn thƣơng bụng kín nặng, tổn thƣơng 
khoang màng phổi chỉ có thể phát hiện bằng khám 
lâm sàng và chọc dò màng phổi (15,1%). 
4.6. Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng toàn 
thân thƣờng gặp là suy hô hấp (50%), chủ yếu là 
suy hô hấp nhẹ (40,7%). Hội chứng sốc gặp ở 15% 
số bệnh nhân, trong đó vừa là 3,5% và sốc nặng là 
1,8%. Dấu hiệu cơ năng có đau ngực (87,6%), khó 
thở (50,4%) và ho ra máu (2,7%). Các dấu hiệu dễ 
quan sát thấy khi thăm khám là bầm tím, tụ máu, 
xây sát da thành ngực (33,6%), một bên ngực phồng 
lên hay xẹp xuống (16%), mảng sƣờn di động 
(6,2%). Triệu chứng đau chói khi nắn trên thành 
ngực là 69,9%, nghe phổi thấy rì rào phế nang giảm 
hoặc mất là 70,8% và tràn khí dƣới da là 21,2%. 
Các triệu chứng lâm sàng trong nghiên cứu của 
chúng tôi tƣơng đƣơng với những nghiên cứu khác, 
riêng dấu hiệu tràn khí dƣới da là cao hơn. 
4.7. Cận lâm sàng: XQ ngực thẳng vẫn là chẩn 
đoán hình ảnh cơ bản nhất với 95,7% đƣợc chụp 
ngay khi bệnh nhân nhập viện, trong đó có 23,8% 
đƣợc chụp tại khoa hồi sức cấp cứu do tình trạng 
nặng đòi hỏi phải hồi sức tích cực ngay. Số liệu này 
theo Nguyễn Hữu Ƣớc là 95,0% [7] , theo Nguyễn 
Thế Hiệp là 91,5% [1], tƣơng đƣơng kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi. Kết quả trên XQ ngực cho thấy 
có 89,9% gãy xƣơng sƣờn, trong đó có 5,8% gãy 
xƣơng sƣờn cả hai bên ngực, mảng sƣờn là 6,2%, 
vỡ cơ hoành 0,9% và tràn khí dƣới da là 21,2%. Các 
xƣơng sƣờn hay bị gãy là xƣơng sƣờn 6 (48,6%), 
xƣơng sƣờn 7 (41,5%) và xƣơng sƣờn 8 (30,1%). 
Số xƣơng sƣờn gãy ở một bên ngực hay gặp nhất là 
2 xƣơng (15%), 3 xƣơng (27,5%), 4 xƣơng (15,9%), 
có 1,8% gãy tới 10 xƣơng sƣờn ở một bên ngực.Kết 
quả này khá phù hợp với các nghiên cứu khác trong 
và ngoài nƣớc [6],[8]. Tổn thƣơng khoang màng 
phổi trên phim Xquang ngực gồm có TMMP 
(33,6%), tràn khí màng phổi (9,6%), tràn khí tràn 
máu màng phổi (49,5%). Có 31,9% tổn thƣơng 
khoang màng phổi phải, 46,9% tổn thƣơng khoang 
màng phổi trái và 12,4% tổn thƣơng cả hai bên. Có 
42,3 % số trƣờng hợp tổn thƣơng khoang màng phổi 
xuất hiện sau 24 giờ. Vì vậy với những trƣờng hợp 
triệu chứng lâm sàng và XQ ban đầu chƣa rõ ràng 
thì việc khám xét và chụp XQ ngực sau 24 đến 48 
giờ là nên làm, tránh bỏ sót tổn thƣơng xuất hiện 
muộn. Toàn bộ bệnh nhân đều làm siêu âm màng 
phổi ngay khi vào viện. Tùy tình trạng bệnh nhân 
mà việc siêu âm đƣợc tiến hành tại phòng siêu âm 
(86,7%), tại khoa hồi sức cấp cứu (5,3%), hoặc 
ngay tại phòng mổ (2,7%). Có 46,9 % phát hiện 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 8 
ngay có dịch màng phổi, trong đó 15% có dịch ở cả 
hai khoang màng phổi. Kết quả siêu âm màng phổi 
kết hợp với tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và 
hình ảnh trên phim XQ ngực sẽ giúp chẩn đoán mức 
độ tổn thƣơng khoang màng phổi và chỉ định phẫu 
thuật. 
4.8. Điều trị phẫu thuật: Phẫu thuật dẫn lƣu 
màng phổi là phẫu thuật chủ yếu với 93%, chỉ có 
7% phải mở ngực. Số liệu này phù hợp với Nguyễn 
Hữu Ƣớc với 88,9% dẫn lƣu màng phổi ,11,1% mở 
ngực [7] và Nguyễn Thế Hiệp với 87,2% dẫn lƣu 
màng phổi, 12,7% mở ngực. Có 42,5% bệnh nhân 
đƣợc dẫn lƣu màng phổi sau 24 giờ là những trƣờng 
hợp tràn máu- tràn khí màng phổi xuất hiện muộn. 
Về chỉ định dẫn lƣu màng phổi có 38,4% do tràn 
máu màng phổi, 7,9% do tràn khí màng phổi và 
53,1% do tràn máu tràn khí màng phổi. Chỉ 47,7% 
số bệnh nhân đƣợc dẫn lƣu màng phổi tại phòng 
mổ, 61,1 % do bác sĩ chuyên khoa tim mạch-lồng 
ngực thực hiện, 84,9% dẫn lƣu màng phổi đơn 
thuần và 15,1% dẫn lƣu màng phổi phối hợp với các 
phẫu thuật khác. Có 4,4% đặt 2 dẫn lƣu vào một 
khoang màng phổi và 11,5% dẫn lƣu cả hai bên 
ngực. Có 5 trƣờng hợp (4,4%) mở ngực đƣợc thực 
hiện trong cấp cứu với chỉ định tràn máu màng phổi 
không cầm và 3 trƣờng hợp (2,7%) phẫu thuật nội 
soi ngực để xử trí ổ cặn màng phổi. Cả 5 trƣờng 
hợp mở ngực cấp cứu đều thực hiện sau dẫn lƣu 
màng phổi, đƣợc theo dõi sát, phát hiện và chỉ định 
mổ kịp thời. 
4.9. Các sai sót trong dẫn lưu màng phổi: Các 
sai sót trong dẫn lƣu màng phổi trong nghiên cứu 
của chúng tôi bao gồm chẩn đoán và chỉ định phẫu 
thuật không chính xác dẫn đến thực hiện không 
chuẩn xác (0,9%), đặt dẫn lƣu màng phổi sai vị trí 
(1,8%), sử dụng cỡ ống dẫn lƣu không phù hợp 
(11,5%), ống dẫn lƣu nằm ngoài khoang màng phổi 
(0,9%), tuột ống dẫn lƣu do cố định ống dẫn lƣu 
không tốt (4,4%), đặt ống dẫn lƣu quá sâu gây đau 
cho bệnh nhân (2,7%). Trong quá trình chăm sóc 
dẫn lƣu màng phổi có 10,6% còn dịch, khí trên 
phim chụp Xquang ngực kiểm tra, 6,2% tràn dịch 
màng phổi tái phát, 2,7% có ổ cặn màng phổi, 3,5% 
có xẹp phổi 0,9% mủ màng phổi. Đoàn Quốc Hƣng 
đã có hai nghiên cứu tại bệnh viên Việt Đức cũng 
đƣa ra các sai sót và biến chứng nhƣ của chúng tôi 
với tỷ lệ tƣơng đƣơng [11],[12]. Các sai sót chủ yếu 
do các bác sĩ không chuyên khoa thực hiện trong 
quá trình trực cấp cứu. Mặc dù dẫn lƣu màng phổi 
không phải là kỹ thuật chuyên sâu đòi hỏi trình độ 
cao, các phẫu thuật viên đều có thể thực hiện tốt 
nếu đƣợc đào tạo bài bản, nhƣng với tỷ lệ sai sót 
nhƣ trên thì vấn đề trang bị lại kỹ năng dẫn lƣu 
màng phổi cho các phẫu thuật viên không chuyên 
khoa vẫn nên đƣợc làm thƣờng xuyên. 
4.10. Kết quả điều trị sớm: Khi bệnh nhân xuất 
viện có 71,7% có kết quả tốt, 15,1% kết quả trung 
bình, 3,5% kết quả xấu và 8,8% tử vong. Kết quả 
này tƣơng đƣơng với các nghiên cứu khác trong 
nƣớc của Đoàn Anh Tuấn [10], của Nguyễn Huy 
Sơn [9].Tuy nhiên so với kết quả của Nguyễn Hữu 
Ƣớc với các tỷ lệ tốt là 89,9%, không tốt là 5,7% và 
tử vong là 4,4% thì thấy rõ năng lực của bệnh viện 
Việt Đức là rất cao trong việc tiếp nhận, điều trị cấp 
cứu cũng nhƣ chăm sóc bệnh nhân sau mổ [7]. 
Trong số bệnh nhân tử vong có 3,5% nguyên nhân 
do tổn thƣơng nặng về lồng ngực, 5,3% có tổn 
thƣơng ngực phối hợp với tổn thƣơng bụng nặng có 
chảy máu trong ổ bụng gây sốc mất máu không hồi 
phục dù đã đƣợc mổ cấp cứu ngay khi vừa nhập 
viện. Tuy nhiên trong số bệnh nhân nặng vẫn có 
3,5% bệnh nhân có tổn thƣơng ngực bụng phối hợp 
sốc mất máu nặng vừa mở ngực vừa mở bụng để 
cầm máu vẫn có kết quả tốt. Điều đó nói lên rằng 
công tác tổ chức cấp cứu, sự phối hợp tốt giữa phẫu 
thuật và gây mê hồi sức cùng trang thiết bị tiên tiến 
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cứu sống 
bệnh nhân nặng và giảm tỷ lệ tử vong. 
V. KẾT LUẬN 
Qua 113 bệnh nhân đƣợc điều trị phẫu thuật 
chấn thƣơng ngực kín tại bệnh viện đa khoa Xanh 
Pôn giai đoạn 2012-2014 chúng tôi rút ra một số 
nhận xét sau: 
- Chấn thƣơng ngực kín gặp ở nam nhiều hơn 
nữ, chủ yếu ở lứa tuổi lao động (73,4%), số bệnh 
nhân cao tuổi cũng có tỷ lệ đáng kể (19,5%). 
Nguyên nhân phần lớn là do tai nạn giao thông 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN  
 9 
(59,3%). Chấn thƣơng ngực kín có tổn thƣơng phối 
hợp ở các cơ quan khác là 48,7% với 14,5% là 
chấn thƣơng bụng kín nặng ảnh hƣởng đến tính 
mạng bệnh nhân. Triệu chứng lâm sàng đáng lƣu ý 
là có 21,2% tràn khí dƣới da. Đa số có gãy xƣơng 
sƣờn (89,9%) và toàn bộ bệnh nhân có tràn máu - 
tràn khí khoang màng phổi. Có 15,1% phải kết hợp 
thăm khám lâm sàng và chọc dò màng phổi để chẩn 
đoán tổn thƣơng màng phổi ở những bệnh nhân 
nặng đòi hỏi mổ cấp cứu ngay chƣa kịp làm xét 
nghiệm cận lâm sàng. 
- Phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi là phẫu thuật 
chủ yếu với 93%. Đa số bệnh nhân đƣợc dẫn lƣu 
màng phổi ngay trong những giờ đầu nhập viện, có 
43,3% dẫn lƣu màng phổi muộn sau việc theo dõi 
chặt chẽ trong quá trình điều trị bảo tồn giúp tránh 
bỏ sót tổn thƣơng TMTKKMP. Tỷ lệ sai sót khi 
làm phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi (51,3%), chủ 
yếu ở những trƣờng hợp do phẫu thuật viên không 
chuyên khoa thực hiện.Tỷ lệ mở ngực cấp cứu là 
4,4%, do tràn máu màng phổi không cầm. Kết quả 
điều trị tốt là 71,7%. Tỷ lệ tử vong là 8,8% do chấn 
thƣơng ngực kín nặng hoặc có tổn thƣơng phối hợp 
trầm trọng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Thế Hiệp, Lê Nữ Hòa Hiệp, Nguyễn 
Hoài Nam và cộng sự (2008). Kết quả điều trị 
chấn thƣơng và vết thƣơng ngực tại bệnh viện 
nhân dân Gia Định- TP.HCM. Tạp chí y học Việt 
Nam, 352, 483 – 490. 
2. J. Hugh Devitt (1993). Blunt Chest Trauma: 
Anaesthesia, assessment and management. Can J 
Anaesth, 40, 29-39. 
3. J. Wayne Meredith (2007). Thoracic Trauma: 
When and How to Intervenne. Surg Clin N Ann, 
87, 95-118. 
4. Maurice Hood (1995). Trauma to the chest, 
Surgery of the Chest, Sabiston and Spencer, 
Chapter 14, 383-415. 
5. Đặng Hanh Đệ (2006). Thái độ xử trí trong 
thƣơng lồng ngực, Cấp cứu ngoại khoa tim 
mạch – lồng ngực, Nhà xuất bản Y học, Hà 
Nội, 7 – 20. 
6. Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2006). Một số 
nhận xét về đặc điểm triệu chứng, sơ cứu và 
cấp cứu chấn thƣơng ngực kín qua 139 trƣờng 
hợp tại bệnh viện 103. Tạp chí ngoại khoa, 56 
(6), 2 – 11. 
7. Nguyễn Hữu Ƣớc (2007). Đánh giá tình hình cấp 
cứu chấn thƣơng lồng ngực tại bệnh viện Việt 
Đức từ 2004-2006. Tạp chí Y học Việt Nam, 328, 
402-413. 
8. Liman. ST et al (2003). Chest injury due to blunt 
trauma. European Journal of Cardiothoracic 
Surgery, 23, 374 – 378. 
9. Nguyễn Huy Sơn (2001). Nghiên cứu điều trị 
tràn máu màng phổi do chấn thương ngực bằng 
dẫn lưu màng phổi, Luận văn chuyên khoa cấp 
II, Trƣờng Đại học Y Hà Nội. 
10. Đoàn Anh Tuấn (2001). Nhận xét về chẩn đoán 
và xử trí tràn máu, khí màng phổi trong chấn 
thương ngực tại bệnh viện Xanh Pôn trong 5 
năm từ 1995 – 1999, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ 
y khoa, Đại học Y Hà Nội. 
11. Đoàn Quốc Hƣng (2007). Dẫn lƣu khoang màng 
phổi chuẩn mực. Tạp chí Ngoại khoa(4), 45-52. 
12. Đoàn Quốc Hƣng (2010). Nhận xét quy trình 
chăm sóc dẫn lƣu khoang màng phổi trên 
bệnh nhân chấn thƣơng-vết thƣơng ngực tại 
khoa phẫu thuật tim mạch - lồng ngực bệnh 
viện Việt Đức. Tạp chí Y học thực hành (9), 
110-113. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_phau_thuat_chan_thuong_nguc_kin_tai_benh_vi.pdf