Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014
Phẫu thuật là phƣơng pháp điều trị cơ bản chấn thƣơng ngực kín. Đa số chấn thƣơng ngực kín đƣợc xử trí bằng dẫn lƣu màng phổi, chỉ có một tỷ lệ nhỏ phải mở ngực. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội từ 1/2012 đến 12/2014 trên 113 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín điều trị bằng phẫu thuật nhằm nêu một số nhận xét về đặc điểm triệu chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật các trƣờng hợp chấn thƣơng ngực kín. Tuổi trung bình 46,6 16,9, nam giới 85%. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (60,2%). Thể bệnh chính là tràn máu tràn khí màng phổi (53,1%). Các tổn thƣơng đi kèm nhƣ chấn thƣơng sọ não (12,38%), chấn thƣơng bụng kín (14,1%), xƣơng khớp (30,1%). Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lƣu màng phổi (93%), chỉ có 7% phải mở ngực. Kết quả ghi nhận tốt (71,7%), trung bình (15,1%), xấu (3,5%), tử vong (8,8%), sai sót và biến chứng là 51,3%
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN 3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012-2014 Đoàn Duy Hùng *, Đoàn Quốc Hưng ** TÓM TẮT: Phẫu thuật là phƣơng pháp điều trị cơ bản chấn thƣơng ngực kín. Đa số chấn thƣơng ngực kín đƣợc xử trí bằng dẫn lƣu màng phổi, chỉ có một tỷ lệ nhỏ phải mở ngực. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội từ 1/2012 đến 12/2014 trên 113 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín điều trị bằng phẫu thuật nhằm nêu một số nhận xét về đặc điểm triệu chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật các trƣờng hợp chấn thƣơng ngực kín. Tuổi trung bình 46,6 16,9, nam giới 85%. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (60,2%). Thể bệnh chính là tràn máu tràn khí màng phổi (53,1%). Các tổn thƣơng đi kèm nhƣ chấn thƣơng sọ não (12,38%), chấn thƣơng bụng kín (14,1%), xƣơng khớp (30,1%). Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lƣu màng phổi (93%), chỉ có 7% phải mở ngực. Kết quả ghi nhận tốt (71,7%), trung bình (15,1%), xấu (3,5%), tử vong (8,8%), sai sót và biến chứng là 51,3%. SUMMARY: Surgery is the basic treatment of blunt chest injury (BCI). Most of thoracic injuries are managed with simple maneuvers such as a tube thoracostomy, only a small number requires definitive operative repair. Our researches at Saint Paul Hospital of Ha Noi from January 2012 to December 2014 conducted on 113 blunt chest patients treated with surgical procedure, in order to note down some characteristics of symptoms, injuries and treatment results. The average age was 46,6 16,9, male took up 85%. Types of BCI was oftenly caused by traffic accidents (60,2%). The main kind of BCI was hemopneumothorax (53,1%). Side injuries included brain injury (12,38%), abdominal trauma (14,1%), orthopedic trauma (30,1%). Conducted procedure was mostly chest drainage (93%), only 7% among cases required thoracotomy. Opperative results included good signs (71,7%), average (15,1%), bad (3,5%), death (8,8%), complications(51,3%). I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chấn thƣơng ngực kín rất thƣờng gặp trong cấp cứu ngoại khoa ở mọi tuyến y tế và có tỉ lệ cao ở các bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố [1],[7]. Các nguyên nhân của chấn thƣơng ngực kín là tai nạn giao thông, tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt, đặc biệt nguyên nhân do tai nạn giao thông ngày càng tăng theo thời gian [1],[2],[4], tổn thƣơng nặng, nguy cơ tử vong cao. Chấn thƣơng ngực kín gây nên những tổn thƣơng giải phẫu ở lồng ngực dẫn đến những rối loạn sinh lý bệnh nhanh chóng trên cơ quan hô hấp và tuần hoàn, ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân, đòi hỏi phải đƣợc phát hiện và chẩn đoán nhanh, xử trí kịp thời, chính xác mới có thể cứu sống bệnh nhân, giảm tỉ lệ thƣơng tật. Ngoài những trƣờng hợp chấn thƣơng ngực kín cần cấp cứu tức thì vẫn còn những trƣờng hợp tổn thƣơng phổi và màng phổi xuất hiện muộn cần đƣợc theo dõi, phát hiện và can thiệp, tránh bỏ sót. Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại Bệnh viện Xanh Pôn, tuyến cuối về ngoại khoa của Sở y tế Hà Nội với mục tiêu nhận xét về đặc điểm triệu chứng, tổn thƣơng và kết quả điều trị phẫu thuật chấn thƣơng ngực kín giai đoạn 2012-2014. * II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng Tất cả bệnh nhân bị chấn thƣơng ngực kín đƣợc phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi hay mở ngực tại bệnh viện Xanh Pôn-HN từ 01/2012 12/2014. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Mô tả, hồi cứu. Tất cả các bệnh nhân đều đƣợc xác định các chỉ tiêu nghiên cứu theo một mẫu nghiên cứu thống nhất, chú trọng các chỉ tiêu về triệu chứng lâm sàng, XQ lồng ngực, siêu âm màng phổi cấp cứu, phƣơng pháp phẫu thuật và kết quả ban đầu.Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích và xử lý số liệu. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Có 113 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu với các đặc điểm nhƣ sau 3.1. Đặc điểm dịch tễ - Giới: Nam: 96 (85%), Nữ: 17 (15%), tỉ lệ Nam/Nữ là 5,64. Tuổi: từ 7 đến 81, trung bình 46,6 16,9 * Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn **Trường Đại học Y Hà Nội Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Bùi Đức Phú PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 4 Bảng 1: Tỉ lệ theo nhóm tuổi (nhóm tuổi theo WHO) (n=113) Nhóm tuổi n (Bệnh nhân) Tỷ lệ (%) < 20 7 6.2 20 - 39 31 27.4 40 - 59 53 46.9 ≥ 60 22 19.5 Tổng 113 100 Bảng 2: Nguyên nhân tai nạn (N=113) Nguyên nhân n (Bệnh nhân) Tỷ lệ (%) Tổng Tỷ lệ (%) TN giao thông Tự ngã xe máy 38 33,6 68 60,2 Va chạm với PTGT khác 30 26,6 Tai nạn lao động Ngã cao 11 9,7 12 10,6 Bị đè ép 1 0,9 Tai nạn sinh hoạt Bị ngã 23 20,4 33 29,2 Bị đánh 10 8,9 Tổng 113 100 113 100 Bảng 3: Tổn thương lồng ngực và tổn thương phối hợp ở cơ quan khác (N=113) Tổn thƣơng ngực Số lƣợng BN Tỷ lệ (%) Đơn thuần 58 51,3 Phối hợp Bụng 16 14,15 Sọ não 14 12,38 Xƣơng khớp 34 30,08 Bảng 4: Tổn thương giải phẫu của lồng ngực (n=113) Tổn thƣơng Số lƣợng BN Tỷ lệ (%) Gẫy xƣơng sƣờn 96 80,5 Mảng sƣờn di động 7 6,2 Vỡ cơ hoành 2 1,8 Rách phổi 2 1,8 Dập phổi 6 5,4 Tổn thƣơng mạch máu lớn 3 2,7 Bảng 5: Đặc điểm tổn thương khoang màng phổi (n=113) Tổn thƣơng khoang màng phổi n (bệnh nhân) Tỷ lệ (%) Tổng Tỷ lệ (%) TMMP Bên phải 14 12,4 44 39,0 Bên trái 25 22,1 Hai bên 5 4,4 TKMP Bên phải 7 6,2 9 7,9 Bên trái 2 1,8 Hai bên 0 0 Bên phải 20 17,7 60 53,1 Bên trái 28 24,8 Hai bên 12 10,6 Bảng 6: Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng (n=113) Đặc điểm triệu chứng Số lƣợng Tỷ lệ % Suy hô hấp 57 51,4 Sốc 17 15 Đau ngực 99 87,6 Khó thở 57 51,4 Bầm tím, tụ máu, xây xát da thành ngực 38 33,6 Điểm đau chói khi nắn thành ngực 79 69,9 Biến dạng lồng ngực 18 16,0 Mảng sƣờn di động 7 6,2 Tràn khí dƣới da 24 21,2 Rì rào phế nang giảm, mất 80 79,8 Gõ vang vùng cao 23 20,4 Gõ đục vùng thấp 29 25,7 Chọc dò màng phổi ra máu, khí 18 15,92 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN 5 Bảng 7: Hình ảnh tổn thương trên phim XQ ngực và siêu âm màng phổi (n=113) Hình ảnh tổn thƣơng Số lƣợng Tỷ lệ % Gãy xƣơng sƣờn 96 84,9 Mảng sƣờn di động 7 6,2 Vỡ cơ hoành 1 0,9 Tràn khí dƣới da 24 21,2 Tràn máu màng phổi 38 33,6 Tràn khí màng phổi 9 7,9 Tràn máu tràn khí màng phổi 56 53,1 Siêu âm màng phổi có dịch 104 92,1 3.2.Xử trí Bảng 8: Đặc điểm chung phẫu thuật chấn thương ngực kín (n=113) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ % Phƣơng pháp phẫu thuật Dẫn lƣu màng phổi 105 93 Mở ngực 8 7 Thời gian từ khi vào viện tới khi phẫu thuật <1h 24 21,2 1h – 6h 31 27,4 >6h – 24h 10 8,8 >24h 48 42,5 Phẫu thuật phối hợp trên cơ quan khác Bụng 16 14,1 Sọ não và xƣơng khớp 8 7,2 Nhận xét: Thời gian trung bình: 38,8 4,8 giờ, ngắn nhất là 0,18 giờ, dài nhất là 192 giờ. Bảng 9: Đặc điểm phẫu thuật dẫn lưu màng phổi (n=113) Đặc điểm Số lƣợng BN Tỷ lệ % Chỉ định Tràn máu màng phổi 44 38,9 Tràn khí màng phổi 9 7,9 Tràn máu tràn khí màng phổi 60 53,1 Thực hiện trong phòng mổ 54 47,7 Phẫu thuật viên chuyên khoa 69 61,1 Dẫn lƣu màng phổi đơn thuần 96 84,9 Dẫn lƣu màng phổi cấp cứu 64 56,6 Dẫn lƣu màng phổi sau 24 giờ 49 43,3 Đặt 2 dẫn lƣu vào một khoang màng phổi 5 4,4 Dẫn lƣu khoang màng phổi hai bên 13 11,5 Bảng 10: Đặc điểm phẫu thuật mở ngực cấp cứu (n=8) Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ % Chỉ định Tràn máu màng phổi 4 50 Tràn máu màng tim 1 12,5 ổ cặn màng phổi 3 2,7 Phân loại Sau dẫn lƣu màng phổi 5 62,5 Thì 2 3 37,5 Đƣờng mổ Khoang liên sƣờn 5 4 50 Mở dọc xƣơng ức 1 12,5 Nội soi 3 37,5 Xử trí Khâu phổi 3 37,5 Cầm máu 4 50 Dọn ổ cặn,bóc vỏ phổi 3 37,5 Khâu cơ hoành 1 12,5 PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 6 Bảng 11 : Kết quả chung Kết quả Số lƣợng Tỷ lệ % Tốt 81 71,7 Trung bình 18 15,1 Xấu 4 3,5 Tử vong 10 8,8 Bảng 12 : Sai sót và biến chứng của phẫu thuật dẫn lưu màng phổi (n=58) Sai sót và biến chứng Số lƣợng BN Tỷ lệ (%) Chẩn đoán không đúng thể bệnh và chỉ định cách thức phẫu thuật không chính xác 1 1,72 Vị trí đặt dẫn lƣu không đúng 1 1,72 Cỡ ống dẫn lƣu không đúng 10 17,24 Dẫn lƣu đặt không vào khoang màng phổi 1 1,72 Phát hiện muộn, bỏ sót tổn thƣơng khoang màng phổi 11 18,96 Còn dịch, khí màng phổi sau rút dẫn lƣu màng phổi 12 20,68 Xẹp phổi 4 6,89 Tụt ống dẫn lƣu do cố định không chắc 5 8,62 Ống dẫn lƣu đặt quá sâu (>16 cm) 3 5,17 Tràn dịch màng phổi tái phát sau rút dẫn lƣu màng phổi 7 12,06 Ổ cặn màng phổi 3 5,17 Tổng sai sót và biến chứng chung 58 100 IV. BÀN LUẬN 4.1. Tuổi và giới: Chấn thƣơng ngực kín xảy ra chủ yếu ở nam giới (85%), nam/nữ là 5,64. Tuổi trung bình của bệnh nhân 46,67 ± 16,97 (7-81 tuổi). Lứa tuối hay gặp nhất là 40-59 (46,93%). Nhƣ vậy số bệnh nhân ở độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ khá cao là 73,48% (bảng 1). Các số liệu này khá tƣơng đồng với nhiều nghiên cứu khác [1],[6],[7],[8]. 4.2. Nguyên nhân tai nạn: Có ba nhóm nguyên nhân gây ra chấn thƣơng ngực kín là tai nạn giao thông (59,3%), tai nạn lao động (9,7%), và tai nạn sinh hoạt (31%), trong đó số bệnh nhân tự ngã xe máy là 33,6% và ngã tại nhà là 20,4%. Số liệu này cho thấy tai nạn giao thông vẫn là nguyên nhân cơ bản nhất, chiếm tỷ lệ cao ở tất cả các nhóm tuổi. Tai nạn sinh hoạt cũng có tỷ lệ khá cao so với những nghiên cứu khác, chủ yếu gặp ở ngƣời cao tuổi, có thể giải thích là do tuổi thọ ngày càng cao cùng tiện nghi phức tạp của đời sống đô thị. Nhận xét này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng với các tỷ lệ tƣơng ứng là 64,7%, 14,4% và 20,7% [6]. 4.3. Tổn thương giải phẫu: Số BN chấn thƣơng ngực kín đơn thuần chiếm tỷ lệ 51,3%, còn lại 48,7% có kèm chấn thƣơng ở những cơ quan khác nhƣ bụng (14,2%), sọ não (12,4%), xƣơng khớp (20,1%). Các tổn thƣơng phối hợp khi thì nổi trội che lấp biểu hiện của chấn thƣơng ngực nhƣng cũng có khi kín đáo dễ bị bỏ sót dẫn tới những sai lầm đáng tiếc trong theo dõi và xử lý cấp cứu. Số liệu này của chúng tôi có cao hơn Đặng Ngọc Hùng có 8,6% tổn thƣơng phối hợp [6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân có gãy xƣơng sƣờn (89,5%), trong đó 6,2% có mảng sƣờn di động. Nhận xét này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác trong và ngoài nƣớc, tỷ lệ này của Đặng Ngọc Hùng là 93,5% [6], của J.Hugh Devitt là 67,3% [2], theo Liman mảng sƣờn di động là 17% [8]. 4.4. Tổn thương khoang màng phổi: Tất cả các bệnh nhân đều có tổn thƣơng khoang màng phổi, trong đó có 36,3 % gặp ở bên phải, 48,7% gặp ở bên trái, 15% tổn thƣơng cả 2 bên. Có 39% là tràn KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN 7 máu màng phổi, 7,9% là tràn khí màng phổi và 53,1% là tràn máu tràn khí màng phổi. Đáng lƣu ý là có 19,5% tổn thƣơng khoang màng phổi mà không có gãy xƣơng sƣờn. Theo Đoàn Anh Tuấn có 5,3% số trƣờng hợp không có gãy xƣơng sƣờn nhƣng có khí, máu trong khoang màng phổi [10]. Trong số 482 bệnh nhân chán thƣơng ngực kín của Liman có 6,7% có tổn thƣơng màng phổi mà không có gãy xƣơng sƣờn [8]. Theo Nguyễn Hữu Ƣớc trên 411 bệnh nhân chấn thƣơng ngực kín thì tràn máu màng phổi là 3,0%, tràn khí màng phổi là 9,2% và tràn máu tràn khí màng phổi là 80,8% [7]. Đáng chú ý là có 43,2% tổn thƣơng khoang màng phổi không xuất hiện ngay sau chấn thƣơng, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng chƣa rõ ràng nhƣng bệnh nhân vẫn đƣợc nhập viện điều trị nội trú, theo dõi sát về lâm sàng, XQ ngực, siêu âm màng phổi trong những ngày sau để có chẩn đoán xác định và xử trí kịp thời, triệt để, tránh biến chứng mủ hay dày dính màng phổi. 4.5. Tổn thương phối hợp: 14,1% số trƣờng hợp có tổn thƣơng bụng phối hợp gồm vỡ gan (4,4%), vỡ lách (7,1%), rách mạc treo ruột (1,8%), vỡ ống tiêu hóa (2,7%) là những tổn thƣơng nặng đe dọa tính mạng. Có 12,3% kèm chấn thƣơng sọ não đều là những tổn thƣơng không phải mổ. Chấn thƣơng xƣơng khớp phối hợp chiếm tỷ lệ cao nhất là 30,1%, trong đó đa số là gãy xƣơng đòn (15%), gãy xƣơng bả vai (8,8%), gãy cột sống (2,7%) và gãy xƣơng chi (5,3%), không phải là những tổn thƣơng trầm trọng. Những tổn thƣơng bụng phối hợp với chấn thƣơng ngực kín làm cho tình trạng bệnh nhân thêm phức tạp, đôi khi nổi bật che lấp các triệu chứng của chấn thƣơng ngực, nếu không khám xét tỉ mỉ, toàn diện có thể bỏ sót chấn thƣơng ngực kín. Có nhiều trƣờng hợp phải mổ cấp cứu ngay do chấn thƣơng bụng kín nặng, tổn thƣơng khoang màng phổi chỉ có thể phát hiện bằng khám lâm sàng và chọc dò màng phổi (15,1%). 4.6. Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng toàn thân thƣờng gặp là suy hô hấp (50%), chủ yếu là suy hô hấp nhẹ (40,7%). Hội chứng sốc gặp ở 15% số bệnh nhân, trong đó vừa là 3,5% và sốc nặng là 1,8%. Dấu hiệu cơ năng có đau ngực (87,6%), khó thở (50,4%) và ho ra máu (2,7%). Các dấu hiệu dễ quan sát thấy khi thăm khám là bầm tím, tụ máu, xây sát da thành ngực (33,6%), một bên ngực phồng lên hay xẹp xuống (16%), mảng sƣờn di động (6,2%). Triệu chứng đau chói khi nắn trên thành ngực là 69,9%, nghe phổi thấy rì rào phế nang giảm hoặc mất là 70,8% và tràn khí dƣới da là 21,2%. Các triệu chứng lâm sàng trong nghiên cứu của chúng tôi tƣơng đƣơng với những nghiên cứu khác, riêng dấu hiệu tràn khí dƣới da là cao hơn. 4.7. Cận lâm sàng: XQ ngực thẳng vẫn là chẩn đoán hình ảnh cơ bản nhất với 95,7% đƣợc chụp ngay khi bệnh nhân nhập viện, trong đó có 23,8% đƣợc chụp tại khoa hồi sức cấp cứu do tình trạng nặng đòi hỏi phải hồi sức tích cực ngay. Số liệu này theo Nguyễn Hữu Ƣớc là 95,0% [7] , theo Nguyễn Thế Hiệp là 91,5% [1], tƣơng đƣơng kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Kết quả trên XQ ngực cho thấy có 89,9% gãy xƣơng sƣờn, trong đó có 5,8% gãy xƣơng sƣờn cả hai bên ngực, mảng sƣờn là 6,2%, vỡ cơ hoành 0,9% và tràn khí dƣới da là 21,2%. Các xƣơng sƣờn hay bị gãy là xƣơng sƣờn 6 (48,6%), xƣơng sƣờn 7 (41,5%) và xƣơng sƣờn 8 (30,1%). Số xƣơng sƣờn gãy ở một bên ngực hay gặp nhất là 2 xƣơng (15%), 3 xƣơng (27,5%), 4 xƣơng (15,9%), có 1,8% gãy tới 10 xƣơng sƣờn ở một bên ngực.Kết quả này khá phù hợp với các nghiên cứu khác trong và ngoài nƣớc [6],[8]. Tổn thƣơng khoang màng phổi trên phim Xquang ngực gồm có TMMP (33,6%), tràn khí màng phổi (9,6%), tràn khí tràn máu màng phổi (49,5%). Có 31,9% tổn thƣơng khoang màng phổi phải, 46,9% tổn thƣơng khoang màng phổi trái và 12,4% tổn thƣơng cả hai bên. Có 42,3 % số trƣờng hợp tổn thƣơng khoang màng phổi xuất hiện sau 24 giờ. Vì vậy với những trƣờng hợp triệu chứng lâm sàng và XQ ban đầu chƣa rõ ràng thì việc khám xét và chụp XQ ngực sau 24 đến 48 giờ là nên làm, tránh bỏ sót tổn thƣơng xuất hiện muộn. Toàn bộ bệnh nhân đều làm siêu âm màng phổi ngay khi vào viện. Tùy tình trạng bệnh nhân mà việc siêu âm đƣợc tiến hành tại phòng siêu âm (86,7%), tại khoa hồi sức cấp cứu (5,3%), hoặc ngay tại phòng mổ (2,7%). Có 46,9 % phát hiện PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 8 ngay có dịch màng phổi, trong đó 15% có dịch ở cả hai khoang màng phổi. Kết quả siêu âm màng phổi kết hợp với tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và hình ảnh trên phim XQ ngực sẽ giúp chẩn đoán mức độ tổn thƣơng khoang màng phổi và chỉ định phẫu thuật. 4.8. Điều trị phẫu thuật: Phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi là phẫu thuật chủ yếu với 93%, chỉ có 7% phải mở ngực. Số liệu này phù hợp với Nguyễn Hữu Ƣớc với 88,9% dẫn lƣu màng phổi ,11,1% mở ngực [7] và Nguyễn Thế Hiệp với 87,2% dẫn lƣu màng phổi, 12,7% mở ngực. Có 42,5% bệnh nhân đƣợc dẫn lƣu màng phổi sau 24 giờ là những trƣờng hợp tràn máu- tràn khí màng phổi xuất hiện muộn. Về chỉ định dẫn lƣu màng phổi có 38,4% do tràn máu màng phổi, 7,9% do tràn khí màng phổi và 53,1% do tràn máu tràn khí màng phổi. Chỉ 47,7% số bệnh nhân đƣợc dẫn lƣu màng phổi tại phòng mổ, 61,1 % do bác sĩ chuyên khoa tim mạch-lồng ngực thực hiện, 84,9% dẫn lƣu màng phổi đơn thuần và 15,1% dẫn lƣu màng phổi phối hợp với các phẫu thuật khác. Có 4,4% đặt 2 dẫn lƣu vào một khoang màng phổi và 11,5% dẫn lƣu cả hai bên ngực. Có 5 trƣờng hợp (4,4%) mở ngực đƣợc thực hiện trong cấp cứu với chỉ định tràn máu màng phổi không cầm và 3 trƣờng hợp (2,7%) phẫu thuật nội soi ngực để xử trí ổ cặn màng phổi. Cả 5 trƣờng hợp mở ngực cấp cứu đều thực hiện sau dẫn lƣu màng phổi, đƣợc theo dõi sát, phát hiện và chỉ định mổ kịp thời. 4.9. Các sai sót trong dẫn lưu màng phổi: Các sai sót trong dẫn lƣu màng phổi trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật không chính xác dẫn đến thực hiện không chuẩn xác (0,9%), đặt dẫn lƣu màng phổi sai vị trí (1,8%), sử dụng cỡ ống dẫn lƣu không phù hợp (11,5%), ống dẫn lƣu nằm ngoài khoang màng phổi (0,9%), tuột ống dẫn lƣu do cố định ống dẫn lƣu không tốt (4,4%), đặt ống dẫn lƣu quá sâu gây đau cho bệnh nhân (2,7%). Trong quá trình chăm sóc dẫn lƣu màng phổi có 10,6% còn dịch, khí trên phim chụp Xquang ngực kiểm tra, 6,2% tràn dịch màng phổi tái phát, 2,7% có ổ cặn màng phổi, 3,5% có xẹp phổi 0,9% mủ màng phổi. Đoàn Quốc Hƣng đã có hai nghiên cứu tại bệnh viên Việt Đức cũng đƣa ra các sai sót và biến chứng nhƣ của chúng tôi với tỷ lệ tƣơng đƣơng [11],[12]. Các sai sót chủ yếu do các bác sĩ không chuyên khoa thực hiện trong quá trình trực cấp cứu. Mặc dù dẫn lƣu màng phổi không phải là kỹ thuật chuyên sâu đòi hỏi trình độ cao, các phẫu thuật viên đều có thể thực hiện tốt nếu đƣợc đào tạo bài bản, nhƣng với tỷ lệ sai sót nhƣ trên thì vấn đề trang bị lại kỹ năng dẫn lƣu màng phổi cho các phẫu thuật viên không chuyên khoa vẫn nên đƣợc làm thƣờng xuyên. 4.10. Kết quả điều trị sớm: Khi bệnh nhân xuất viện có 71,7% có kết quả tốt, 15,1% kết quả trung bình, 3,5% kết quả xấu và 8,8% tử vong. Kết quả này tƣơng đƣơng với các nghiên cứu khác trong nƣớc của Đoàn Anh Tuấn [10], của Nguyễn Huy Sơn [9].Tuy nhiên so với kết quả của Nguyễn Hữu Ƣớc với các tỷ lệ tốt là 89,9%, không tốt là 5,7% và tử vong là 4,4% thì thấy rõ năng lực của bệnh viện Việt Đức là rất cao trong việc tiếp nhận, điều trị cấp cứu cũng nhƣ chăm sóc bệnh nhân sau mổ [7]. Trong số bệnh nhân tử vong có 3,5% nguyên nhân do tổn thƣơng nặng về lồng ngực, 5,3% có tổn thƣơng ngực phối hợp với tổn thƣơng bụng nặng có chảy máu trong ổ bụng gây sốc mất máu không hồi phục dù đã đƣợc mổ cấp cứu ngay khi vừa nhập viện. Tuy nhiên trong số bệnh nhân nặng vẫn có 3,5% bệnh nhân có tổn thƣơng ngực bụng phối hợp sốc mất máu nặng vừa mở ngực vừa mở bụng để cầm máu vẫn có kết quả tốt. Điều đó nói lên rằng công tác tổ chức cấp cứu, sự phối hợp tốt giữa phẫu thuật và gây mê hồi sức cùng trang thiết bị tiên tiến có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cứu sống bệnh nhân nặng và giảm tỷ lệ tử vong. V. KẾT LUẬN Qua 113 bệnh nhân đƣợc điều trị phẫu thuật chấn thƣơng ngực kín tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn giai đoạn 2012-2014 chúng tôi rút ra một số nhận xét sau: - Chấn thƣơng ngực kín gặp ở nam nhiều hơn nữ, chủ yếu ở lứa tuổi lao động (73,4%), số bệnh nhân cao tuổi cũng có tỷ lệ đáng kể (19,5%). Nguyên nhân phần lớn là do tai nạn giao thông KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CHẤN THƢƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN 9 (59,3%). Chấn thƣơng ngực kín có tổn thƣơng phối hợp ở các cơ quan khác là 48,7% với 14,5% là chấn thƣơng bụng kín nặng ảnh hƣởng đến tính mạng bệnh nhân. Triệu chứng lâm sàng đáng lƣu ý là có 21,2% tràn khí dƣới da. Đa số có gãy xƣơng sƣờn (89,9%) và toàn bộ bệnh nhân có tràn máu - tràn khí khoang màng phổi. Có 15,1% phải kết hợp thăm khám lâm sàng và chọc dò màng phổi để chẩn đoán tổn thƣơng màng phổi ở những bệnh nhân nặng đòi hỏi mổ cấp cứu ngay chƣa kịp làm xét nghiệm cận lâm sàng. - Phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi là phẫu thuật chủ yếu với 93%. Đa số bệnh nhân đƣợc dẫn lƣu màng phổi ngay trong những giờ đầu nhập viện, có 43,3% dẫn lƣu màng phổi muộn sau việc theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị bảo tồn giúp tránh bỏ sót tổn thƣơng TMTKKMP. Tỷ lệ sai sót khi làm phẫu thuật dẫn lƣu màng phổi (51,3%), chủ yếu ở những trƣờng hợp do phẫu thuật viên không chuyên khoa thực hiện.Tỷ lệ mở ngực cấp cứu là 4,4%, do tràn máu màng phổi không cầm. Kết quả điều trị tốt là 71,7%. Tỷ lệ tử vong là 8,8% do chấn thƣơng ngực kín nặng hoặc có tổn thƣơng phối hợp trầm trọng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thế Hiệp, Lê Nữ Hòa Hiệp, Nguyễn Hoài Nam và cộng sự (2008). Kết quả điều trị chấn thƣơng và vết thƣơng ngực tại bệnh viện nhân dân Gia Định- TP.HCM. Tạp chí y học Việt Nam, 352, 483 – 490. 2. J. Hugh Devitt (1993). Blunt Chest Trauma: Anaesthesia, assessment and management. Can J Anaesth, 40, 29-39. 3. J. Wayne Meredith (2007). Thoracic Trauma: When and How to Intervenne. Surg Clin N Ann, 87, 95-118. 4. Maurice Hood (1995). Trauma to the chest, Surgery of the Chest, Sabiston and Spencer, Chapter 14, 383-415. 5. Đặng Hanh Đệ (2006). Thái độ xử trí trong thƣơng lồng ngực, Cấp cứu ngoại khoa tim mạch – lồng ngực, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 7 – 20. 6. Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2006). Một số nhận xét về đặc điểm triệu chứng, sơ cứu và cấp cứu chấn thƣơng ngực kín qua 139 trƣờng hợp tại bệnh viện 103. Tạp chí ngoại khoa, 56 (6), 2 – 11. 7. Nguyễn Hữu Ƣớc (2007). Đánh giá tình hình cấp cứu chấn thƣơng lồng ngực tại bệnh viện Việt Đức từ 2004-2006. Tạp chí Y học Việt Nam, 328, 402-413. 8. Liman. ST et al (2003). Chest injury due to blunt trauma. European Journal of Cardiothoracic Surgery, 23, 374 – 378. 9. Nguyễn Huy Sơn (2001). Nghiên cứu điều trị tràn máu màng phổi do chấn thương ngực bằng dẫn lưu màng phổi, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trƣờng Đại học Y Hà Nội. 10. Đoàn Anh Tuấn (2001). Nhận xét về chẩn đoán và xử trí tràn máu, khí màng phổi trong chấn thương ngực tại bệnh viện Xanh Pôn trong 5 năm từ 1995 – 1999, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội. 11. Đoàn Quốc Hƣng (2007). Dẫn lƣu khoang màng phổi chuẩn mực. Tạp chí Ngoại khoa(4), 45-52. 12. Đoàn Quốc Hƣng (2010). Nhận xét quy trình chăm sóc dẫn lƣu khoang màng phổi trên bệnh nhân chấn thƣơng-vết thƣơng ngực tại khoa phẫu thuật tim mạch - lồng ngực bệnh viện Việt Đức. Tạp chí Y học thực hành (9), 110-113.
File đính kèm:
ket_qua_dieu_tri_phau_thuat_chan_thuong_nguc_kin_tai_benh_vi.pdf

