Kết quả điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu sớm sau sinh 12 tháng

Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) nếu được điều trị sớm có kết quả tốt.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị nội tiết trẻ bị THKXB lúc 12 tháng tuổi.

Đối tượng: 99 trẻ mắc THKXB được điều trị HCG lúc 12 tháng.

Phương pháp: Mô tả có can thiệp theo dõi dọc.

Kết quả: 99 trẻ mắc với 122 THKXB, bên phải 46 (46,5%), bên trái 30

(30,3%), 2 bên 23 (23,2%), vị trí lỗ bẹn nông 36,1%, ống bẹn 39,3%, lỗ

bẹn sâu 11,5%, sờ không thấy 13,1%. Điều trị nội tiết đợt 1 xuống bìu

thành công 19/122 THKXB (15,6%), điều trị nội tiết đợt 2 thành công

18/89 THKXB ( 20,2%). Kết thúc điều trị nội tiết xuống bìu hoàn toàn

30,3%, xuống 1 phần 28,7%, không xuống 41%. TH ở vị trí lỗ bẹn nông

xuống bìu 72,7%, ống bẹn xuống bìu 10,4%, lỗ bẹn sâu và sờ không

thấy xuống một phần có lợi cho phẫu thuật 16/30 TH (53,3%). Thể sờ

thấy đáp ứng thuốc 61,3%, thể sờ không thấy đáp ứng thuốc 43,7%

khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Điều trị nội tiết THKXB lúc 12 tháng thành công 30,3%, chủ

yếu TH ở lỗ bẹn nông xuống bìu, ở lỗ bẹn sâu hoặc sờ không thấy cần phẫu thuật

pdf 5 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu sớm sau sinh 12 tháng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu sớm sau sinh 12 tháng

Kết quả điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu sớm sau sinh 12 tháng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 103 - 107, 2016
103
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Ngọc Lợi(1), Lê Minh Trác(1), Trần Ngọc Bích(2), Nguyễn Phú Đạt(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT TINH HOÀN
KHÔNG XUỐNG BÌU SỚM SAU SINH 12 THÁNG
Tóm tắt
Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) nếu được điều trị sớm có kết 
quả tốt. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị nội tiết trẻ bị THKXB lúc 12 tháng tuổi. 
Đối tượng: 99 trẻ mắc THKXB được điều trị HCG lúc 12 tháng.
Phương pháp: Mô tả có can thiệp theo dõi dọc.
Kết quả: 99 trẻ mắc với 122 THKXB, bên phải 46 (46,5%), bên trái 30 
(30,3%), 2 bên 23 (23,2%), vị trí lỗ bẹn nông 36,1%, ống bẹn 39,3%, lỗ 
bẹn sâu 11,5%, sờ không thấy 13,1%. Điều trị nội tiết đợt 1 xuống bìu 
thành công 19/122 THKXB (15,6%), điều trị nội tiết đợt 2 thành công 
18/89 THKXB ( 20,2%). Kết thúc điều trị nội tiết xuống bìu hoàn toàn 
30,3%, xuống 1 phần 28,7%, không xuống 41%. TH ở vị trí lỗ bẹn nông 
xuống bìu 72,7%, ống bẹn xuống bìu 10,4%, lỗ bẹn sâu và sờ không 
thấy xuống một phần có lợi cho phẫu thuật 16/30 TH (53,3%). Thể sờ 
thấy đáp ứng thuốc 61,3%, thể sờ không thấy đáp ứng thuốc 43,7% 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 
Kết luận: Điều trị nội tiết THKXB lúc 12 tháng thành công 30,3%, chủ 
yếu TH ở lỗ bẹn nông xuống bìu, ở lỗ bẹn sâu hoặc sờ không thấy cần 
phẫu thuật. 
Từ khóa: Tinh hoàn không xuống bìu.
Abstract 
THE RESULTS OF HORMONAL TREATMENT FOR 
CRYPTORCHIDISM AT 12 MONTHS AFTER BIRTH
Early treatment would give the good result. 
Objectives: To assess the hormonal treatment for cryptorchidism at 
12 months. 
Subjectives: 99 male infants with cryptorchidism were treated by 
HCGat 12 months. 
Methods: A descriptive prospective study with treatment and following up. 
Results: 99 cases with 122 undescended testis, right side 46 (46.5%), 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Minh Trác,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Tinh hoàn không 
xuống bìu. 
Keywords: Cryptorchidism.
bệnh nhân, chúng tôi tiến hành đề tài “Kết quả 
điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu sớm 
sau sinh 12 tháng” với mục tiêu: Đánh giá kết 
quả điều trị nội tiết tinh hoàn không xuống bìu lúc 
12 tháng tuổi
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Gồm 99 trẻ nam sinh ra tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương trong thời gian từ 01.11.2009 đến 
30.6.2012 được khám lâm sàng không có tinh 
hoàn ở bìu 1 bên hoặc 2 bên lúc 12 tháng tuổi.
- Thăm khám lâm sàng hai lần trở lên đều 
không thấy tinh hoàn ở bìu 1 hoặc 2 bên, thuộc 
loại THKXB dừng lại bất thường trên đường di 
chuyển xuống bìu.
Loại trừ:Tinh hoàn lạc chỗ (tinh hoàn không 
xuống bìu ở ngoài đường di chuyển xuống bìu), 
tinh hoàn lò xo, mơ hồ giới tính, bất thường hình 
thái như bìu chẻ đôi, suy tuyến yên, đa dị tật như 
Prader Willi Labhart, Klinefelter
2.2. Phương pháp nghiên cứu
 Chúng tôi dựa vào tỷ lệ điều trị nội tiết TH 
xuống bìu thành công của Pyorala (1995) 19-21%, 
không điều trị TH tự xuống sau 1 tuổi 2-6% [9], 
Ritzen (2008) 14-65% [1], Machetti (2012) 25% 
[4], Nguyễn Thị Ân (2000) 22,2% [6], Trần Long 
Quân (2013) 14,1% [7] để tính cỡ mẫu điều trị nội 
theo công thức sau:
NGUYỄN NGỌC LỢI, LÊ MINH TRÁC, TRẦN NGỌC BÍCH, NGUYỄN PHÚ ĐẠT
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
104
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Tinh hoàn không xuống bìu (THKXB) hay còn 
gọi tinh hoàn ẩn, là một dị tật khá phổ biến ở 
trẻ nam. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ THKXB ở trẻ 
đủ tháng chiếm khoảng 3-5%, ở trẻ non tháng 
là 17-36%, sau 3 tháng tỷ lệ THKXB còn khoảng 
0,8-1,8% [1-3]. 
Các nghiên cứu đã chứng minh, tinh hoàn phát 
triển và thực hiện chức năng đầy đủ khi nhiệt độ tại 
vị trí của tinh hoàn thấp hơn nhiệt độ cơ thể khoảng 
20C. THKXB không được điều trị sẽ gây ra những 
biến chứng như: Ung thư, giảm khả năng sinh sản, 
vô sinh, xoắn tinh hoàn, xơ teo, sang chấn và tổn 
thương tâm lý của trẻ [4-5]. Điều trị THKXB cần 
được thực hiện sớm vào thời điểm 1-2 tuổi, vì để 
muộn sẽ gây ra những ảnh hưởng bất lợi khó hồi 
phục sau này cho người bệnh.
Điều trị bằng nội tiết tố đã được nhiều tác giả 
trên thế giới và Việt Nam sử dụng. Phương pháp 
điều trị nội khoa ít có hiệu quả với những THKXB 
ở cao, nhưng cũng mang lại những thành công 
nhất định đối với các trường hợp THKXB nằm ở 
thấp trong ống bẹn hoặc ở lỗ bẹn nông. Theo các 
báo cáo trong và ngoài nước, tỷ lệ thành công 
của phương pháp nội khoa thường từ 10-65% [6-
8].Cho tới nay theo các công trình nghiên cứu ở 
Việt Nam, tỷ lệ trẻ mắc THKXB được điều trị trước 
2 tuổi rất thấp dưới 10%. Với mục đích làm sao 
chẩn đoán sớm THKXB một cách hệ thống, theo 
dõi và điều trị ở thời điểm có kết quả tốt nhất cho 
left side 30 (30.3%), bilateral 23 (23.2%), position at external inguinal ring 36.1%, inguinal canal 
39.3%, internal inguinal ring 11.5%, nonpalpable 13.1%. After the first hormonal treatment course 
descended 19/122 undescended testis (15.6%), the second hormonal treatment course descended 
18/89 undescended testis (20.2%). The results of hormonal therapy descended successfully 30.3%, 
descended partly 28.7%, did not descent 41%. The testis at external inguinal ring descended 72.7%, 
at inguinal canal descended 10.4%, at internal inguinal ring and nonpalpable descended partly 
made easier for orchiopexy16/30 testis (53.3%). The palpable testis replied hormone 61.3%,the 
nonpalpable testis replied hormone 43.7%, there was no statistic deference. 
Conclusions:Hormonal treatment for cryptorchidism at 12 months descended successfully 
30.3%,the most testis at external inguinal ring descended to scrotum, at internal inguinal ring and 
nonpalpable should perform orchiopexy.
Key word: Cryptorchidism.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 103 - 107, 2016
105
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Có 15,2% số trẻ mắc THKXB có tinh hoàn xuống 
bìu hoàn toàn sau điều trị nội tiết đợt 1.
Sau điều trị nội tiết đợt 1 có 15,6% số tinh hoàn 
di chuyển xuống bìu.
Tỷ lệ thành công sau điều trị nội tiết đợt 2 là 
21,1%,trong đó có 3 bệnh nhân mắc THKXB 2 bên 
xuống hoàn toàn.
Có 20,2% số THKXB di chuyển xuống bìu sau 
điều trị nội tiết đợt 2.
Qua 2 đợt điều trị HCG, tỷ lệ TH xuống bìu 
hoàn toàn là 30,3%, xuống một phần thuận lợi cho 
mổ là 28,7%, không xuống là 41%.
Hiệu chỉnh Yates p=0,1. THKXB thể sờ thấy 
đáp ứng điều trị nội tiết cao hơn thể sờ không thấy 
không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1.
Thể tích trung bình của THKXB sau điều trị nội 
Trong đó: 
z1 - α/2 : Hệ số tin cậy α = 0,05 (độ tin cậy 95%), 
z1 - α/2 = 1,96.
z1 - β: Với lực mẫu 90% thì z1 - β = 0,84. 
P1: Tỷ lệ tinh hoàn không xuống bìu, khi không 
được điều trị nội khoa. 
Theo số liệu của một số tác giả tỷ lệ này là 95%, 
P1= 95% (0,95).
P2: Tỷ lệ THKXB kỳ vọng sau điều trị nội khoa,dự 
kiến P2 = 80% (0,80). 
Thay số vào công thức chúng tôi tính được cỡ 
mẫu lý thuyết n = 75. 
Thuốc sử dụng: trẻ ≤ 2 tuổi tiêm 300 đơn vị 
HCG /1 mũi, cách 2 ngày tiêm 1 mũi, tổng liều là 
7 mũi, tiêm bắp sâu. Trường hợp TH xuống bìu sẽ 
ngừng điều trị. Nếu TH không xuống hoặc xuống 1 
phần sẽ tiêm nhắc lại đợt 2 sau đợt 1 từ 2-3 tháng.
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý bằng phần mềm SPSS statistics 17.0, 
phân tích số liệu bằng thuật toán thống kê y học 
EPI- INFO 6.04
Các giá trị được làm tròn đến 1 chữ số thập phân.
Các biến định tínhđược tính bằng tần suất xuất 
hiện dùng phép kiểm định X2, biến định lượng thể 
tích dung phép kiểm định t- test.
3. Kết quả nghiên cứu
Chúng tôi có 99 trẻ gồm bên phải 46 (46,5%), 
bên trái 30 (30,3%), 2 bên 23 (23,2%) với 122 
THKXBtham gia điều trị nội tiết đợt 1 và 71 bệnh 
nhân tham gia điều trị nội tiết đợt 2.
Bên dị tật Số trẻ trước điều trị nội tiết
Số trẻ sau điều trị nội tiết
Xuống bìu Không xuống bìu
Phải 46 7 41
Trái 30 6 14
2 bên 23 2 19
Tổng 99 (100%) 15 (15,2%) 84 (84,8%)
Bảng 1. Kết quả điều trị nội tiết đợt 1
Thể lâm sàng Số TH điều trị nội tiết Đáp ứng điều trị nội tiết Không đáp ứng
điều trị nội tiết 106 65 (61,3%) 41 (38,7%)
Sờ không thấy 16 7 (43,7%) 9 (56,3%)
Tổng số 122 72 (59,0%) 50 (41%)
p = 0,056
Bảng 6. Kết quả điều trị nội 2 đợt phân theo thể sờ thấy và sờ không thấy
Bên dị tật Trước điều trị nội tiết đợt 2
Sau điều trị nội tiết đợt 2
Xuống bìu Không xuống bìu
Phải 34 7 27
Trái 19 5 14
2 bên 18 3 15
Tổng 71 15 (21,1%) 56 (78,9%)
Bảng 3. Kết quả điều trị nội tiết đợt 2
Trước điều trị Sau điều trị nội tiết đợt 1
Vị trí THKXB Số TH Sờ không thấy Lỗ bẹn sâu Ống bẹn Lỗ bẹn nông Bìu
Sờ không thấy 16 11 5 0 0 0
Lỗ bẹn sâu 14 0 6 8 0 0
Ống bẹn 48 0 0 35 11 2
Lỗ bẹn nông 44 0 0 0 27 17
Tổng số 122 11 11 43 38 19 (15,6%)
Bảng 2. Đáp ứng điều trị nội tiết đợt 1 theo vị trí tinh hoàn
Trước điều trị nội tiết Sau điều trị nội tiết đợt 2
Vị trí THKXB Số TH Sờ không thấy Lỗ bẹn sâu Ống bẹn Lỗ bẹn nông Bìu
Sờ không thấy 9 7 2 0 0 0
Lỗ bẹn sâu 9 0 6 3 0 0
Ống bẹn 38 0 0 27 10 1
Lỗ bẹn nông 33 0 0 0 16 17
Tổng số 89 7 8 30 26 18
Tỷ lệ % 7,9% 9% 33,7% 29,2% 20,2%
Bảng 4. Vị trí TH xuống sau điều trị nội tiết đợt 2
Vị trí TH Số TH trước điều trị nội tiết
Kết quả sau điều trị nội tiết
Xuống bìu hoàn toàn Xuống 1 phần Không xuống
n % n % n %
Sờ không thấy 16 0 0 7 43,8 9 56,2
Lỗ bẹn sâu 14 0 0 9 64,3 5 35,7
Ống bẹn 48 5 10,4 19 39,6 24 50,0
Lỗ bẹn nông 44 32 72,7 0 0 12 27,3
Tổng số 122 37 30,3 35 28,7 50 41,0
Bảng 5. Kết quả của THKXB sau 2 đợt điều trị nội tiết
NGUYỄN NGỌC LỢI, LÊ MINH TRÁC, TRẦN NGỌC BÍCH, NGUYỄN PHÚ ĐẠT
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
106
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Bên THKXB Trước điều trị nội Sau điều trị đợt 1 Sau điều trị đợt 2
Bên phải 0,63 ± 0,26 cm3 0,64 ± 0,23 cm3 0,65 ± 0,22 cm3
Bên trái 0,54 ± 0,24 cm3 0,59 ± 0,23 cm3 0,63 ± 0,28 cm3
p>0,05
Bảng 7. Thể tích THKXB trước so với sau điều trị nội tiết đợt 1 và đợt 2
tiết 2 đợt có tăng so với trước khi điều trị nhưng 
không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)
4. Bàn luận
Chúng tôi chẩn đoán THKXB từ ngay sau sinh và 
theo dõi trong năm đầu nên có kế hoạch chủ động 
điều trị nội tiết cho trẻ từ 12-15 tháng tuổi để bệnh 
nhân được hoàn tất quá trình điều trị kể cả nội tiết 
và phẫu thuật lúc 2 tuổi. Theo một số nghiên cứu thì 
độ tuổi lý tưởng nhất để khuyến cáo điều trị THKXB 
là 12-18 tháng tuổi, trước khi có sự thoái triển về số 
lượng tế bào mầm và hạn chế ống sinh tinh. So với 
các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước 
thì tuổi điều trị ở bệnh nhân THKXB của chúng tôi sớm 
hơn rất nhiều. Điều này chứng tỏ việc chẩn đoán, 
theo dõi tư vấn điều trị là có lợi cho bệnh nhân. 
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy, trước khi điều trị 
nội tiết, THKXB ở vị trí ống bẹn là nhiều nhất chiếm 
39,3%, tiếp theo là ở lỗ bẹn nông 36,1%, ở lỗ bẹn 
sâu 11,5% và sờ không thấy là 13,1%. Kết quả của 
Nguyễn Thị Ân cho thấy TH ở vị trí lỗ bẹn nông chiếm 
tỷ lệ thấp nhất 2,7%, vị trí ở ổ bụng cao 31,3% [6]. 
Nhưng kết quả của chúng tôi cũng tương tự như 
những kết quả nghiên cứu theo dõi dọc của Berkowit 
(1993), vị trí THKXB ở trẻ khi 1 tuổi như sau: ở lỗ 
bẹn nông 19,3%, ống bẹn 35,1%, lỗ bẹn sâu 7%, sờ 
không thấy 24,6%, không xác định 14% [3]. Theo 
Preiksa tỷ lệ THKXB có vị trí lỗ bẹn nông là 69,3%, 
ống bẹn 10,9%, lỗ bẹn sâu và sờ không thấy 18,8% 
[2]. THKXB ở vị trí lỗ bẹn nông trong nghiên cứu của 
Nguyễn Thị Ân (2000) và Trần Long Quân (2013) 
thấp hơn các tác giả khác [6],[7]. Rất có thể những trẻ 
bị THKXB ở vị trí lỗ bẹn nông không được chẩn đoán 
sớm sau sinh nên gia đình không đưa trẻ tới cơ sở y tế 
để điều trị. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thanh 
(2013), THKXB sau dậy thì (sau 18 tuổi) bất luận tinh 
hoàn nằm ở vị trí cao hay thấp đều bị xơ hóa và 
thoái hóa tổ chức tinh hoàn, ảnh hưởng xấu tới sản 
xuất tinh trùng [5]. Tác giả Nguyễn Thị Ân cũng ghi 
nhận THKXB sờ thấy từ tuổi dậy thì trở đi có sự kém 
phát triển thể tích rõ rệt so với bên lành [6]. Như vậy 
chúng tôi chẩn đoán sớm, theo dõi diễn biến THKXB 
sau sinh rất có lợi trong việc tư vấn điều trị sớm trước 
2 tuổi cho dù tinh hoàn ở vị trí nào.
Nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ thành công sau 
điều trị nội tiết đợt 1 là 15,2%.Tính theo số TH thì 
tỷ lệ điều trị thành công, tức là TH di chuyển hoàn 
toàn xuống bìu là 15,6%, xuống 1 phần là 19,7%. 
Kết quả điều trị nội tiết đợt 2 có 20,2% số THKXB 
di chuyển hoàn toàn xuống bìu, 16,9% số THKXB 
xuống 1 phần.Qua 2 đợt điều trị HCG tỷ lệ TH 
xuống bìu hoàn toàn là 30,3%, xuống một phần 
thuận lợi cho mổ là 28,7%, không xuống là 41%. 
THKXB tại vị trí lỗ bẹn nông đáp ứng rất tốt với điều 
trị nội, tỷ lệ xuống bìu hoàn toàn cao nhất 72,7%.
Kết quả của Christiansen (1992) cho thấy tỷ lệ TH 
xuống bìu của liệu pháp HCG là 23%, của GnRH là 
19% [8]. Pyola (1995) thấy tỷ lệ TH xuống bìu của 
liệu pháp HCG là 19%, của GnRH là 21% [9]. Henna 
(2003) của HCG là 25%, của GnRH là 18% [10]. 
Marchetti (2012) thấy tỷ lệ TH xuống bìu của liệu 
pháp hormone là 25% [4]. Kết quả điều trị nội tiết của 
chúng tôi phù hợp nhận định của Ritzen rằng điều trị 
nội tiết có tỷ lệ TH xuống bìu thành công từ 10- 65% 
[1]. Rất có thể sự khác nhau về tỷ lệ thành công là do 
vị trí TH khác nhau khi điều trị nội tiết. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi, THKXB ở vị trí lỗ bẹn nông thành 
công tới 72,7%, ở vị trí ống bẹn là 10,4%, còn ở lỗ 
bẹn sâu và sờ không thấy thì tinh hoàn không xuống 
tới bìu mà chỉ xuống một phần.Theo tác giả Nguyễn 
Thị Ân (2000), vị trí TH ở lỗ bẹn nông điều trị nội tiết 
thành công 75%, ở ống bẹn 8,4% và ở lỗ bẹn sâu 
là 6,9% [6]. Tác giả Trần Long Quân (2013) thấy 
vị trí THKXB ở lỗ bẹn nông điều trị nội tiết TH xuống 
bìu thành công 71,4%, ở ống bẹn là 9,8% [7]. Hiện 
nay các phân tích gộp của các công trình nghiên cứu 
thấy kết quả điều trị hormone còn khiêm tốn, nhưng 
chúng tôi đồng thuận với ý kiến của đa số tác giả cho 
rằng có điều trị nội tiết còn tốt hơn không vì những lý 
do:Tăng cường tưới máu nuôi dưỡng tinh hoàn, giảm 
thoái hóa mô tinh hoàn, xuống một phần khi phẫu 
thuật hạ và cố định xuống bìu dễ dàng hơn, giảm 
mổ nhiều thì. Chúng tôi thấy điều trị nội tiết còn giảm 
được tỷ lệ mổ THKXB từ 20- 35%, rất hiệu quả với 
những tinh hoàn ở vị trí thấp.
Phân loại lâm sàng theo thể THKXB sờ thấy và sờ 
không thấy chúng tôi thấy với THKXB thể sờ thấy thì 
tỷ lệ đáp ứng điều trị nội tiết là 61,3%, không đáp 
ứng là 38,7%. THKXB thể sờ không thấy đáp ứng với 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 103 - 107, 2016
107
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
điều trị nội tiết chỉ chiếm 43,7%, không đáp ứng tới 
56,3% khi so sánh thì sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê với (p = 0,1 có hiệu chỉnh Yates). Tác giả 
Nguyễn Thị Ân (2000), Trần Long Quân (2013) cũng 
thấy rằng THKXB thể sờ thấy đáp ứng điều trị nội tốt 
hơn thể sờ không thấy, tuy nhiên sự khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê với (p> 0,05). Như vậy nghiên 
cứu của chúng tôi và các tác giả trong nước đều có 
nhận định tương tự, THKXB thể sờ thấy cũng như thể 
sờ không thấy đều có đáp ứng như nhau với liệu pháp 
hormone.Những tinh hoàn ở vị trí cao như lỗ bẹn sâu, 
sờ không thấy có xuống một phần chưa tới bìu tuy 
không được coi là thành công hoàn toàn nhưng cũng 
được coi là có đáp ứng và thành công một phần, tạo 
thuận lợi cho bác sỹ phẫu thuật hạ tinh hoàn sau đó.
Ở đây, chúng tôi thấy thể tích trung bình của TH 
trước và sau điều trị nội tiết 2 đợt như sau: Thể tích 
THKXB bên phải 0,63 ± 0,26 cm3 và 0,65 ± 0,22 
cm3, bên trái 0,54± 0,24 cm3 và 0,63± 0,28 cm3. Thể 
tích TH hầu như không thay đổi là do thời điểm điều trị 
của chúng tôi từ 12-15 tháng tuổi, nên chưa đến giai 
đoạn TH phát triển kích thước. Thời gian theo dõi sau 
điều trị nội tiết của chúng tôi còn ngắn 6 tháng tính từ 
sau điều trị nội tiết đợt 1 nếu như TH chưa xuống bìu 
sẽ chuyển phẫu thuật, như vậy chưa thể đánh giá đầy 
đủ được sự thay đổi kích thước TH. Tác giả Nguyễn Thị 
Ngọc Minh khi so sánh thể tích THKXB bằng siêu âm 
trước và sau điều trị nội tiết 6 tháng cũng thấy không 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 0,48cm3 so 
với 0,59 cm3, (p>0,05) [11].Theo nghiên cứu Lê Văn 
Trưởng và cộng sự (2013) [12], trong 253 trẻ phẫu 
thuật hạ tinh hoàn có 61 trẻ được điều trị nội tiết trước 
khi phẫu thuật, tác giả thấy ở nhóm 1-2 tuổi thể tích 
TH trung bình của những bệnh nhân có điều trị nội tiết 
trước mổ lớn hơn nhóm không điều trị nội tiết, còn các 
nhóm tuổi khác lớn hơn thì không thấy sự khác nhau. 
Như vậy điều trị nội tiết trước phẫu thuật cũng có kết 
quả tốt, nhất là trẻ dưới 2 tuổi cho dù TH không xuống 
được bìu. Vấn đề là chỉ định điều trị nội tiết phải theo 
dõi sát, những trường hợp không xuống tới bìu cần có 
chỉ định phẫu thuật kịp thời tránh kéo dài tuổi mổ gây 
thoái hóa tinh hoàn.
5. Kết luận
Chẩn đoán sớm THKXB sau sinh tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương từ 11/2009- 6/2012, điều 
trị nội tiết lúc 12 tháng chúng tôi rút ra một số kết 
luận sau:
- Kết quả điều trị nội tiết tinh hoàn xuống bìu 
không cần phẫu thuật là 30,3%, xuống một phần 
28,7%, không xuống 41%. 
- Vị trí của tinh hoàn: tại lỗ bẹn nông điều trị 
nội tiết thành công 72,7%, tại ống bẹn thành công 
10,4%, tại lỗ bẹn sâu và ổ bụng có di chuyển 
nhưng không xuống tới bìu. 
- THKXB đáp ứng với điều trị nội tiết 60%, thể 
THKXB sờ thấy đáp ứng tốt hơn thể THKXB sờ không 
thấy không có ý nghĩa thống kê.
Tài liệu tham khảo
1. E Martin Ritzen, A.Bergh, R. Bjerknes, et al. Undescended testes: 
a consensus on management. The 5th Ferring International Paediatric 
Endorinology Symponium. Baveno, Italy. 2008.
2. Preiksa R.T, Zilaitiene B, Matulevicius. V, et al. Higher than expected 
prevalence of congenital cryptorchidism in Lithuania: A Study of 1204 
boys at birth and 1 year follow – up, Hmn Reprod. 2005; 20(7): p 1928- 32.
3. Berkowitz GS, Lapinski RH, Dolgil SE, et al. Prevalence and natural 
history of cryptorchidism. Pediatrics. Jul 1993; 92(1); p 44-9.
4. Fedeciro Marchetti, JennyBua, Gianluca Tornese, et al. Management of 
Cryptorchidism: a Survey of Clinical practice in Italy, BMC pediatr. 2012; p 12-4.
5. Nguyễn Hữu Thanh. Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả 
điều trị tinh hoàn ẩn người lớn tại bệnh viện Việt Đức từ 2011-2013, 
Luận văn Thạc sỹ Y học. Đại học Y Hà Nội. 2013.
6. Nguyễn Thị Ân. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hiệu quả HCG trong 
điều trị THKXB ở trẻ em. Luận văn Thạc sỹ Y học. Đại học Y Hà Nội. 2000.
7. Trần Long Quân. Nghiên cứu vai trò của nghiệm pháp β HCG trong 
đánh giá chức năng tiết Testosteron và điều trị tinh hoàn ẩn ở trẻ. Luận 
văn Thạc sỹ - Bác sỹ nội trú, Đại học Y Huế. 2013.
8. Christiansen P, Myller J, Buhls, et al. Hormonal treatment of 
Cryptorchidism- HCG or GnRH- a multicentre study. Acta paediatr. 
Aug1992; 81(8); p 605-8.
9. Pyorala S, Huttunen N.P and Uhari M. A review and meta- analysis of 
hormonal treatment of cryptorchidism. Journal of clinical Endocrinology 
and Metabolism. 1995 September 1, Vol. 80 No.9; p 2795- 9.
10. Henna M.R, Del Nero R.G.M, Sampaio C.Z.S, et al. Hormonal 
Cryptorchidism therapy: Systematic review with metanalysis of 
randomized clinical trials. Peditric surgery international,© Springer – 
Verlag. 2004; 10.1007/s 00383- 004; p 1198- 3.
11. Nguyễn Thị Ngọc Minh. Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán, theo 
dõi tiến triển và đánh giá kết quả điều trị tinh hoàn không xuống bìu 
ở trẻ dưới 2 tuổi, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú. Đại học Y Hà 
Nội. 2013
12. Lê Văn Trưởng. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật tinh hoàn 
không xuống bìu ở trẻ em tại Bệnh viện Việt Đức. Luận văn Thạc sỹ Y 
học. Đại học Y Hà Nội. 2013.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_noi_tiet_tinh_hoan_khong_xuong_biu_som_sau.pdf