Kết quả điều trị ngoại khoa dãn tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính

Từ 08/2004-08/2006 có 157 bệnh nhân dãn

tĩnh mạch chi dưới mạn tính được phẫu thuật tại

BV Đại Học Y Dược. Nữ gặp nhiều hơn nam

(2,2/1) và có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Chỉ

định ngoại khoa được áp dụng cho những trường

hợp dãn tĩnh mạch từ độ II trở lên. Phẫu thuật

Stripping đơn thuần hoặc kèm theo Muller đạt

thành công cao và mang tính thẩm mỹ. Phẫu thuật

điều trị dãn tĩnh mạch nông chi dưới ít biến chứng,

đạt kết quả tốt và mang lại sự hài lòng cho bệnh

nhân. Chỉ định điều trị ngoại khoa cho những bệnh

nhân bị dãn tĩnh mạch từ độ II trở lên

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị ngoại khoa dãn tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị ngoại khoa dãn tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính

Kết quả điều trị ngoại khoa dãn tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA DÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI MẠN TÍNH 
 5
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
 DÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI MẠN TÍNH 
Văn Minh Trí* Nguyễn Hoài Nam*
TÓM TẮT 
Từ 08/2004-08/2006 có 157 bệnh nhân dãn 
tĩnh mạch chi dưới mạn tính được phẫu thuật tại 
BV Đại Học Y Dược. Nữ gặp nhiều hơn nam 
(2,2/1) và có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Chỉ 
định ngoại khoa được áp dụng cho những trường 
hợp dãn tĩnh mạch từ độ II trở lên. Phẫu thuật 
Stripping đơn thuần hoặc kèm theo Muller đạt 
thành công cao và mang tính thẩm mỹ. Phẫu thuật 
điều trị dãn tĩnh mạch nông chi dưới ít biến chứng, 
đạt kết quả tốt và mang lại sự hài lòng cho bệnh 
nhân. Chỉ định điều trị ngoại khoa cho những bệnh 
nhân bị dãn tĩnh mạch từ độ II trở lên. 
SUMMARY 
THE RESULTS OF SURGICAL 
TREATMENT OF 
CHRONIC VENOUS INSUFFICIENCY 
From 2004-August to 2006-August, at the 
Medical University Hospital, we performed 
operation for 157 the lower extremity varicose 
disease. More females were subtract to kind of 
disease than male (2,2/1). Risk factors related to 
working condition. Surgical indications were for 
cases from class two above. Stripping only or 
with Muller resulted in great success and better 
cosmetic. Surgical treatment of the lower 
extremity varicose disease has lower 
complications, and the results are more 
satisfactory. Operation should be given to patient 
from class two. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 
Bệnh lý dãn tĩnh mạch nông chi dưới có 
liên quan tới sự trào ngược và suy giảm hồi lưu 
trong lòng tĩnh mạch. Tuy bệnh không gây tử 
vong, nhưng theo thời gian gây ảnh hưởng đến 
công việc, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống của 
bệnh nhân. 
Bệnh gặp nhiều ở các nước phát triển, có 
liên quan mật thiết đến lối sống. Ở Mỹ, có trên 20 
triệu người dân mắc bệnh này. Ở Nhật, 45% nữ 
công nhân bị suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính.* 
Sự phát triển kinh tế đất nước trong thời 
gian đã qua mang lại đời sống kinh tế cao cho 
nhân dân, thì đồng thời bệnh dãn tĩnh mạch chi 
dưới mạn tính cũng phát triển theo và được người 
dân chú ý hơn. Nhu cầu điều trị bệnh ngày càng 
tăng, nhưng lựa chọn phương pháp điều trị nào 
vẫn còn chưa thống nhất trong các thầy thuốc nội 
và ngoại khoa. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên 
cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị ngoại 
khoa bệnh dãn tĩnh mạch chi dưới mạn tính tại 
bệnh viện Đại học Y dược, qua đó rút ra chỉ định, 
phương pháp phẫu thuật và tìm hiểu các yếu tố 
nguy cơ của bệnh. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU: 
Hồi cứu, mô tả 157 trường hợp bệnh nhân 
dãn tĩnh mạch chi dưới mạn tính được phẫu thuật 
tại đơn vị Phẫu thuật Lồng ngực mạch máu bệnh 
viện Đại Học Y Dược từ tháng 08/2004 đến 
tháng 08/2006. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 
Qua nghiên cứu 157 trường hợp dãn tĩnh 
mạch chi dưới mạn tính được phẫu thuật trong 
* Bộ môn Ngoại lồng ngực tim mạch - ĐH Y Dược TP. HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/02/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 23/03/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 6
thời gian từ tháng 8 năm 2004 đến tháng 8 năm 
2006, tại đơn vị Phẫu thuật lồng ngực và mạch 
máu bệnh viện Đại Học Y Dược, các kết quả 
được ghi nhận như sau: 
Giới: 108 nữ, 49 nam. 
 Tỷ lệ nữ/nam khoảng 2,2/1. 
Tuổi: trung bình là 52,8. 
 nhỏ nhất: 23, lớn nhất: 80. 
Có 54 bệnh nhân bị cả 2 chân, chiếm 
34.4%, 103( 65.6% ) bệnh nhân chỉ bị 1 chân. 
* Nghề nghiệp: 
Nghề nghiệp Số BN Tỷ lệ % 
Giáo viên 33 21,1% 
Buôn bán 38 24,2% 
Thợ may 17 10,8% 
Nông 47 29,9% 
Nhân viên hành chính 14 8,9% 
Khác 8 5.1% 
Đa số bệnh nhân có nghề nghiệp liên quan đến đứng, ngồi nhiều (86%). 
Thời gian từ lúc bệnh đến lúc phẫu thuật: 
Thời gian Số BN 
< 5 năm 38 (24,2%) 
5-10 năm 43 (27,4%) 
> 10 năm 76 (48,4%) 
Đa số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh kéo dài 
Dấu hiệu lâm sàng: 
Triệu chứng Số ca Tỷ lệ % 
Dãn tĩnh mạch nông 157 100% 
Nặng chân, phù 123 65,6% 
Vọp bẻ 44 28% 
Sạm da 31 19,8% 
Tê bì 27 17,2% 
Loét tĩnh mạch 20 12,7% 
Xếp loại lâm sàng theo CEAP 
CEAP Số bệnh nhân Tỷ lệ % 
2 25 15,9% 
3 81 51,6% 
4 31 19,8% 
5 20 12,7% 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA DÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI MẠN TÍNH 
 7
Chúng tôi chỉ xếp loại theo lâm sàng (C), chưa tính đến bệnh nguyên, giải phẫu và sinh bệnh 
học. Chúng tôi xếp loại theo độ cao nhất, ghi nhận độ 2 và 3 chiếm đa số (67,5%) 
Dấu hiệu cận lâm sàng: 
Siêu âm Doppler Số bệnh nhân 
Dãn tĩnh mạch nông 157(100%) 
Suy van tĩnh mạch sâu 128 (81,5%) 
Phương pháp phẫu thuật: 
Phương pháp phẫu thuật Số lần 
Muller 4 
Stripping 66 
Stripping + Muller 141 
Chúng tôi thực hiện phẫu thuật Stripping lấy bỏ tĩnh mạch hiển lớn qua đường rạch da ở vùng 
bẹn và mắt cá trong kết hợp với PT Muller lấy bỏ các TM dãn tại chỗ. Có 4 BN chỉ áp dụng PT Muller 
do vị trí TM dãn nàm trên đường đi TM hiển bé. 
Biến chứng và kết quả: 
Kết quả-biến chứng Số ca Tỷ lệ % 
Cải thiện triệu chứng nặng chân 119 75,8% 
Đau và bầm dọc đường rút tĩnh mạch 31 19,7% 
Tổn thương thần kinh hiền 11 7% 
Tụ máu vết mổ ở bẹn 1 
Huyết khối tĩnh mạch sâu 0 
Tử vong 0 
IV. BÀN LUẬN: 
4.1 Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi: 
Tác giả G.Fowkes, Giáo sư chuyên ngành 
dịch tễ học (Anh quốc) 2001: bệnh lý tĩnh mạch 
chi dưới là bệnh thường gặp gần khoảng 1/3 dân 
số phương Tây.Tần suất mắc bệnh gia tăng theo 
tuổi, có thể có liên quan đến yếu tố cơ địa. Việc 
đứng lâu là một yếu tố nguy cơ. 
Ngoài ra còn có tình trạng béo phì, những 
lần có thai trước đây thường kết hợp với sự hiện 
diện của dãn tĩnh mạch nhưng bằng chứng về mối 
liên quan này không hằng định. 
Jari O Laurikka, Phần Lan, trong một 
nghiên cứu về dịch tễ cho thấy tỷ lệ nam/ nữ là 
1/3, yếu tố thuận lợi để bệnh phát triển là phái nữ, 
số lần có thai, tính di truyền gia đình, tuổi càng 
lớn càng dễ mắc bệnh, và cuối cùng là hoạt động 
nghề nghiệp phải đứng lâu. Việc đứng lâu làm 
bơm cơ kém hoạt động nên không ép máu tĩnh 
mạch về đưa đến sự ứ đọng máu tĩnh mạch [2]. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 8
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh gặp ở 
nữ nhiều hơn nam (tỷ lệ nữ/nam là 2,2/1) và hầu 
hết bệnh nhân có nghề nghiệp đòi hỏi phải đứng 
lâu (86%). 
4.2. Phân loại lâm sàng: 
Năm 1994, một nhóm các chuyên gia Quốc 
tế đưa ra bảng phân loại CEAP về bệnh lý tĩnh 
mạch chi dưới và nhanh chóng được chấp nhận 
trên toàn thế giới. Phân loại CEAP được xem là 
phân loại lý tưởng nhất vì nó xem xét đến tất cả 
những khía cạnh chính của bệnh lý tĩnh mạch chi 
dưới như lâm sàng, bệnh nguyên, giải phẫu học 
và sinh lý bệnh v.v[5] 
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, 
bệnh nhân cũng được xếp loại theo CEAP. Tuy 
nhiên không đánh giá đầy đủ tất cả các mặt, chỉ 
xếp loại theo lâm sàng, trong đó độ 2 và 3 gặp 
nhiều nhất chiếm đến 67,5%. 
Siêu âm Doppler là phương tiện chẩn đoán 
đơn giản hiệu quả và an toàn trong việc khảo sát 
bệnh lý tĩnh mạch. Chụp tĩnh mạch cản quang có 
hiệu quả hơn siêu âm Doppler trong việc phân 
biệt nguyên nhân nguyên phát và thứ phát tuy 
nhiên khó thực hiện và có thể có tai biến thậm chí 
đưa đến tử vong do choáng với thuốc[5]. 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ sử 
dụng siêu âm Doppler để khảo sát hệ tĩnh mạch, 
và tất cả đều phát hiện được bệnh lý. 
4.3. Về chỉ định và phương pháp phẫu 
thuật: 
Mục đích của phẫu thuật là phải đảm bảo 
lấy hết những tĩnh mạch dãn và nguồn gây ra tăng 
áp lực tĩnh mạch, đạt tính thẩm mỹ cao nhất khi 
có thể và làm giảm tối đa các biến chứng[3]. 
J. Ciucci 1999[1], trong công trình nghiên 
cứu về bệnh lý tĩnh mạch chi dưới cho thấy: ông 
chỉ định mổ cho những bệnh nhân bị dãn tĩnh 
mạch chi dưới mạn tính từ độ 3 CEAP trở lên và 
phương pháp là 100% cột quai tĩnh mạch hiển – 
đùi, 88% lột bỏ tĩnh mạch hiển trong kèm hoặc 
không với lột bỏ tĩnh mạch hiển ngoài và 2,9% 
phẫu thuật Muller. 
Theo Khirurgiia 2002 [4], để điều trị bệnh 
lý tĩnh mạch chi dưới, phẫu thuật cột quai tĩnh 
mạch hiển – đùi, rút bỏ tĩnh mạch hiển trong và 
lấy các nhánh từng đoạn (phẫu thuật Muller) là 
phẫu thuật đơn giản, ít biến chứng và thẩm mỹ. 
Chúng tôi chỉ định điều trị bằng phương 
pháp ngoại khoa cho những bệnh nhân dãn tĩnh 
mạch chi dưới mạn tính từ độ 2 trở lên. Tức là khi 
đã có tĩnh mạch dãn trên lâm sàng. Phương pháp 
phẫu thuật là rút bỏ tĩnh mạch hiển lớn (phẫu 
thuật Stripping) với đường mổ nhỏ ở vùng bẹn 
và mắt cá trong. Những tĩnh mạch dãn tại chỗ 
được lấy bỏ qua những đường rạch da ngắn tại 
chỗ (phẫu thuật Muller). 
Với phương pháp mổ này hầu như tất cả 
các tĩnh mạch dãn đều được lấy bỏ, đồng thời với 
những đường rạch da ngắn đạt được hiệu quả 
thẩm mỹ cao. Sau mổ toàn bộ chân của bệnh nhân 
được băng ép bằng băng thun để cầm máu. 
4.4. Kết quả sớm điều trị ngoại khoa: 
Cũng theo J.Ciucci[1], biến chứng sau mổ 
ghi nhận: về tổn thương thần kinh là 0%, tụ máu 
dọc lộ trình rút tĩnh mạch là 13%, nhiễm trùng là 
1,7%. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi: tổn 
thương thần kinh gặp trong 7% và bầm dọc đường 
rút tĩnh mạch là 19,7%, còn đạt kết quả tốt >70%. 
Do những bệnh nhân của chúng tôi có thời 
gian bệnh kéo dài, tĩnh mạch dãn rất nhiều nên 
chúng tôi phải làm Muller nhiều hơn, có lẽ vì 
vậy mà tỷ lệ đau – bầm dọc đường đi tĩnh mạch 
cao hơn. 
V. KẾT LUẬN: 
Qua nghiên cứu 157 trường hợp bệnh nhân 
bị dãn tĩnh mạch chi dưới mạn tính được phẫu 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA DÃN TĨNH MẠCH NÔNG CHI DƯỚI MẠN TÍNH 
 9
thuật tại đơn vị Phẫu thuật lồng ngực và mạch 
máu bệnh viện Đại học Y dược, trong thời gian từ 
tháng 08/2004 đến tháng 08/2006. Chúng tôi rút 
ra các kết luận sau: 
- Bệnh xảy ra ở nữ nhiều hơn nam và có 
liên quan đến hoạt động nghề nghiệp phải 
đứng lâu. 
- Chỉ định điều trị khi có tĩnh mạch dãn trên 
lâm sàng (từ độ 2), 
- Phẫu thuật Stripping kết hợp với phẫu 
thuật Muller khi cần mang lại kết quả cao, ít 
biến chứng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.Ciucci J. (1999). Quality control in varicose 
vein surgery: significance and feasibility. 
2. Jari. O. Laurikka. Risk indications for 
varicose veins in forty to sixty Y.O in the tempere 
varicose vein study. World Journal of Surgery. 
June 2002, V. 26, N. 6. p 648. 
3. John j. Bergan. Varicose veins: treatment 
by surgery and sclerotherapy. Vascular Surgery, 
vol. 2, 2000, p. 2007-2021. 
4.Khirurgiia (Mosk). Surgical Technologies 
in the treatment of lower extremity varicose 
disease. (1): 10-5 Related Articles, Book, 2002. 
5. Robert L. Kistner, Elna M. Masuda. A 
practical approach to the diagnosis and 
classification of chronic venous disease. Vascular 
Surgery, vol. 2, 2000, p. 1990-1999. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_ngoai_khoa_dan_tinh_mach_nong_chi_duoi_man.pdf